ve gái đứng đường

Nguyễn  Hàn Chung

mừng các em thoát khỏi  tù

không còn ai bắt  cởi truồng quay clip sex

không còn ai nạt bỏ tay che… trong lúc em uất khóc

nhưng làm gái đứng đường

dĩ nhiên

tiền ít

lấy đâu đủ nộp phạt

em lại ở tù

không phải tội hành dâm

mà trốn thuế bán dâm

đĩ người mẫu  khỏe như vâm

năm ba triệu ư

đồ bỏ

một cuốc cả ngàn đô

vất  một phần vào đầu chúng nó

thế là yên

dễ gì chịu lên đường theo tổ tiên

chỉ tội em gái đứng đường

tiền ít tù mang

sang như đĩ

xưa rồi diễm ơi

đi trăm rưỡi ngàn

(lấy gì sang )

đĩ mấy ngàn đô

sao có cùng giai cấp !

 

nội chuyện đĩ  với nhau

cũng vô phương giải quyết

dễ đại đồng đâu

hỡi các ngài rậm râu?

vì giai cấp bần dâm

vì xã hội công dân

các đai gia

hãy xuống đường

trả giá cho thật hoang

suy cho cùng

đĩ sang đĩ hèn

rốt cuộc cũng y chang

Houston

10/2012

Trần Quý Cáp

Lý Đợi

Nhìn đời Trần Quý Cáp mới hay rằng:

Là người Quảng Nam rất dễ, sinh ra ở đấy thì ở đấy

Nhưng làm người Quảng Nam khó trăm bề, vì ở đâu phải ra ở đấy…

Học cổ ngữ, mến tân thư

Chẳng thích trường quy, nhưng giáp mặt đôi lần để biết cái điều cần phải đổi

Yêu quê hương, thương giống nòi mà định trốn đi khỏi nước

Luyến xứ sở, cổ xúy bản sắc nhưng đành kết bạn để duy tân…

Tính khí, phẩm chất Quảng Nam có trăm điều để kể

có thể bốc ngút trời

Chí khí, trí tuệ Quảng Nam có thể ở mọi người

đời nào cũng lắm

Nhưng lập chí, phục khí, làm công cuộc canh tân

đời nào cũng hiếm…

Đề xướng dân quyền, cổ vũ tự do

Chê nhồi sọ,

khinh tẩy não,

chống lệ thuộc tư tưởng,

bài xích nạn tham những, độc tài…

Đem cái học thực nghiệm vào gần đời sống

Mong dân sinh bước sang đời mới

Nhưng mấy thời thích mới, bởi cái cũ lúc nào cũng dễ.

*

Là người con nơi khúc ruột đất nước, vốn đã khổ

Làm người con ưu tú, càng khổ hơn

Dân ngu thì lo,

dân đói thì đau,

dân lạc hậu thì xót xa

khí đan điền lúc nào cũng tổn

Lao tâm,

khổ tứ…

vì quốc gia, đại sự,

dạ chẳng thể nào nguôi

Trần Quý Cáp – Trần Quý Cáp

Bố ráp gia đình, xuyên tạc thư tín

Tù không xử, chém không tội… nhát dao ngang lưng có hề chi

Duy sĩ khí canh tân chẳng mất cùng ông

vốn nhiều đời không đổi.

NGOẠI QUỐC

NGUYỄN HÀN CHUNG

 

Thầm lặng nửa đêm anh lại về ngày

lẻn mối côn trùng bất tán

anh so đũa mâm cơm thiếu rau ngò giá sống

ngẫm vô cùng sự rơi

 

Mưa không từ phương bắc quất về nam

không một thoáng tà tha thiết

đèn phố hắt tia vàng ẩm mục

giọng tình khan khan  khàn đục men bia

 

Mặc kệ mông eo ngúng nguẩy màu hạ khác

bất lực dìm anh vào đống chăn màn hỗn độn

kín cổng cao tường mà không có em

thít chặt nỗi niềm chó thiến

 

Nửa đêm cơn ham rớt hạng

dạng thế con xúc xắc tung hứng trò may rủi

nhớ quay quắt những bà góa quạu quọ

khuôn mặt em tàn canh buồn

 

Ước như anh có thể chẻ hoe tình yêu như chẻ củi

một nửa cho em một nửa cho những người đàn bà khác

cũng có thể róc ba năm bảy chín mười mươi

hắt tất tật mù phương miễn là giống khác

họ có quyền hưởng phần da thịt ran ran đòi

dẫu  chỉ là chút đỉnh

 

Giá như em có thể phụng hiến

thân xác còn thơm tho cho đến lúc này

như ả gà mái tơ ngoài sân phởn phơ sau trận mát trời

 xù lông vung cánh bải hoải thần tiên

 cho hết thảy lũ gã đàn ông khát khao ràn rụa

mà không bị mang tiếng lẳng lơ đĩ thõa

 

Eo ơi,  họ nhổ vào hai tiếng thờ chồng

 chôn kín những cơn sướng trần gian nín nhịn

chẳng được tích sự gì ngoài mục xương

Houston 8/2012

 

 

Bài thơ trong ngôi mộ cổ

 

Nguyễn Hàn Chung

 

 

 

Nguyên tác

 

Vô Đề *

Khuyết Danh

Quân sinh ngã vị sinh

Ngã sinh quân dĩ lão

Quân hận ngã sinh trì

Ngã hận quân sinh tảo

 

Bản dịch

                                Bài thơ trong ngôi mộ cổ

 

Chàng sinh thiếp chửa chào đời

Thiếp sinh chàng đã già rồi còn đâu

Chàng buồn vì thiếp sinh sau

Bởi chàng sinh sớm thiếp sầu nghìn thu…

 

Mai Văn Tạo

 

* Người ta tìm ra bài thơ này trên chén ngọc của một ngôi mộ cổ ước đoán thuộc niên đại đời Đường .Bài thơ không có tiêu đề ,tên tiêu đề (dịch) là do dịch giả Mai Văn Tạo đặt .

 

 

Ngỡ  đâu thời phong kiến chỉ có mối tình ‘’Quân tại Tương giang đầu- Thiếp tại Tương giang vĩ- Tương tư bất tương kiến –Đồng ẩm Tương giang thuỷ ‘’(Chàng ở đầu sông Tương –Thiếp ở cuối sông Tương –Nhìn nhau mà chẳng thấy –Cùng uống nước sông Tương) trong bài thơ Tình Sử  nói về mối tình  son sắt của nàng cung nữ ‘’Anh ở đầu sông em cuối sông’’ (Vàm cỏ đông- Hoài Vũ )thuở nào xa là lãng mạn .Nào hay thời hiện đại các nhà khảo cổ lại tìm ra chén ngọc  tuỳ táng trong  một ngôi mộ cổ chắc là của bậc công hầu khanh tướng nào đó.Chén ngọc đã quý nhưng còn quý hơn là bài thơ tứ tuyệt khắc trên chén ngọc ấy. Thơ chữ Hán từ quân,ngã cũng có thể dịch là anh, tôi nhưng cũng có thể hiễu là chàng, thiếp .Trong bản dịch này cố dịch giả Mai Văn Tạo thiên về cách hiểu thứ hai say đắm và lãng mạn hơn .

’Chàng sinh thiếp chửa chào đời

                                Thiếp sinh chàng đã già rồi còn đâu ‘

Khi chàng đã có mặt trên đời thiếp còn đâu đó ở vô cùng cát bụi  suy cho cùng cũng là một lẽ bình thường ,phụ nữ yêu người đàn ông hơn mình năm ,mười tuổi thậm chí vài mươi cũng còn khả dĩ chấp nhận được , nhưng người phụ nữ trong bài thơ này cách biệt với người đàn ông mà nàng gọi bằng tiếng quân tha thiết ấy ít nhất cũng hơn năm mươi năm bởi theo quan niệm truyền thống của Nho gia  ‘’ngũ thập nhi tri thiên mệnh ‘’, mà hiểu mệnh trời chưa chắc đã già ,’’lục thập nhi nhĩ thuận ‘’ .Sáu mươi kia cái gì cũng thuận tai cả có nghĩa là đã già rồi không hơn thua với ai làm gì  .Nói dài dòng thế để thấy cô gái này yêu  ông già gấp ba tuổi mình –cái điều mà thói thường đời hiện tại chúng ta,nhất là các bậc làm cha làm mẹ không bao giờ chấp thuận dù chỉ mảy may , huống hồ cái thuở Hán ,Đường cực kỳ  khắc nghiệt ấy .Rõ ràng cô gái tác giả bài thơ này và người đàn ông cô yêu phải có một tình yêu vô cùng mãnh liệt vượt qua tất cả vòng kim cô quản thúc của chế độ phong kiến để đến với nhau nhưng dầu âm thầm đến mực chỉ nghìn sau mới tỏ đi nữa đôi tình nhân khác đời ấy vẫn bị sự chi phối của thời gian . Chàng hận thiếp sinh sao mà trễ quá , thiếp hận  chàng sao mà sinh sớm quá .Phải chăng bài thơ này được nữ tác giả sáng tác lúc chàng sắp qui tiên hai người mới tri ngộ nhưng hỡi ôi lúc tỏ lòng tri ky thì cõi kia đã gọi chàng rồi ,vì thế mối tình này thiếp khắc vào chén ngọc gửi theo chàng đến muôn thu nên chi tuyệt tác này không nằm trong sổ bộ Đường thi . Từng đọc Tiết phụ ngâm của Trương Tịch  cũng khá lãng mạn‘’Trả chàng ngọc lệ như mưa ‘’nhưng đấy là thơ của một người đàn ông thi sĩ nói hộ lòng người tiết phụ yêu mà ngậm đắng nuốt cay không dám vượt lẽ thường để bị gán cho là dâm phụ .Trường hợp yêu phi thời gian này tuy có khác song tình yêu của người con gái trong bài thơ mãnh liệt chỉ có hơn không có kém nàng tiết phụ một chút nào. Nàng bộc tỏ một tình yêu có lẽ chỉ có trong thời hiện tai ở phương Tây mới dám ngợi ca mà thôi .Mới thấy tình yêu phi tuổi tác là một điều hiện hữu không thể  trương ra một cái bảng hiệu nào để chối bỏ duy chỉ sợ suốt đời không gặp người trong mộng mà thôi .Khoảnh khắc đốn ngộ tri âm phải chăng cũng là ‘’một phút huy hoàng’’còn hơn ‘’le lói suốt trăm năm’’.Chỉ có điều ta có dám thổ lộ tình yêu như bậc con gái tiền bối gửi lòng xuống bầu bạn với ‘’ lão tình lang’’ trong khu mộ co ấy không .Tình yêu không cân xứng về tuổi tác ấy ,không phụ thuộc vào cái ngoại hình niên kỷ ấy theo chủ quan người viết bài này quả đích thực là vĩnh cữu tình yêu .Có quá khiên cưỡng chăng ?

 

 

 

 

 

Lý luận tàu

Nguyễn Hàn Chung

1

Người đẹp

thường hay chết yểu

Hoa hậu

dĩ nhiên là người đẹp.

2

Hồng nhan

đa truân

Michelle Obama

dứt khoát

không phải hồng nhan…

3

Đêm xuân một khắc

ngàn vàng

vợ  với mình

biết mấy chục ngàn đêm ?

4

Trí thức

thua cục phân

Viện Khổng tử

tất nhiên trùm trí thức.

5

Buông dao đồ tể

 là thành Phật

cả đời làm ác

cuối đời buông dao là OK!

Houston 

6/12

Sự hòa hợp của những phức điệu

Huỳnh Thị Thu Hậu

Dọc Như cỏ dại như lá úa như cây xanh(*) của 5 tác giả thơ đầy cá tính: Nguyễn Chiến, Phạm Tấn Dũng, Phùng Tấn Đông, Huỳnh Minh Tâm, Đỗ Thượng Thế, tôi cảm nhận được đây là một tập thơ để lại nhiều suy tư. Và, đó còn là một thanh âm lạ giữa những thanh âm đã rất quen thuộc.

Cảm xúc đầu tiên là sự trang nhã, ấn tượng của tập thơ. Những tác giả “Bắc Thu Bồn” này rất trau chuốt khi chọn lựa màu giấy, tranh bìa. Màu giấy vàng thanh nhã và bức tranh đơn giản nhưng đa nghĩa. Năm mươi bài thơ được tuyển là những đứa con tinh thần đã được 5 anh em hoài thai trong khát vọng giao cảm, đồng điệu trên con đường thi ca.

Có một phạm trù thơ và phạm trù siêu thơ. Như cỏ dại như lá úa như cây xanh nằm giữa lằn ranh của hai phạm trù đó. Một Nguyễn Chiến lãng mạn với Khúc tình mưa, Ngày tình cũ, Ngày trái tim lên ngôi. Một Phạm Tấn Dũng siêu thực cùng Tạ với thung xưa, Cảm giác. Một Phùng Tấn Đông hơi hướng “hậu hiện đại” với Trình diễn thơ, Bài tìm thấy sau nhiều năm, Về một mùa xanh xa Huỳnh Minh Tâm, Đỗ Thượng Thế vừa hiện đại và hậu hiện đại.

Trên hành trình tìm kiếm và sáng tạo cái Đẹp, họ đã gặp nhau. Năm phong cách, đa dạng nhưng thống nhất ở giọng điệu. Thơ của 5 “thi mã” Bắc Thu Bồn này là thơ điệu nói. Giọng điệu thơ đẫm hơi thở của thời đại, của người trẻ:

tôi ơi em ơi

đừng nói đừng nhắc đừng gợi nhớ

mùa xa thẳm

những lau khô xám lạnh ven đường

(Về một mùa xanh xa – Phùng Tấn Đông)

…Có con chim săn đuổi các dự định

Có cảm giác của một người thợ săn người đi câu người kỵ sĩ

Cảm giác là con thú mạnh con hươu con cá hồi con ngựa

Và ngược lại những dự định

Cảm xúc đi tìm mình tóm lấy mình cưỡi lên điều khiển

(Cảm giác – Phạm Tấn Dũng)

…Graffiti

Những giấc mơ Graffiti

Writer đánh cuộc đời mình

Đâu đó

Tiếng chim vừa thoát khỏi đường viền sương khói

(Graffiti – Đỗ Thượng Thế)

ta đứng dưới mây nhìn mây bay

ly sầu ly sầu mà chi cô đơn mà chi

tháng mười một cài hoa lên tóc

chảy trăng tứ xứ chuông ngân thánh thót chuông vọng hồi

 

chuông ngân thánh thót mà chi

chuông nằm im trên vạt cỏ chuông treo trên tay người

từ đâu tới đây để ngóng vọng

vứt tiền qua cửa vứt đời qua cửa

mà không vứt được nỗi buồn

(Bài thơ tình yêu tháng mười một – Huỳnh Minh Tâm)

Tôi lạc về đâu

Chân trần bước lạc linh sa mạc

Chống chèo vô vọng

Giữa đại dương cuồng nộ

Lụt trời nước dựng

Sa mạc lớn dần

Ẩn ngữ thi ca

Không còn ai hiểu

Tôi ném đá vào tôi

Bầu trời ứa nguyệt

Cánh chim

(Đi lạc – Nguyễn Chiến)

Những câu thơ gấp gãy chứa đựng sức nặng triết lí, mang tính tư tưởng:

Bèo trôi lửa trôi

Bướm vàng cũng trôi

Mi rồi cũng trôi

Tau rồi cũng trôi

Trôi

Rồi trôi rồi trôi

(Giấc cỏ chỉ – Đỗ Thượng Thế)

Con chim núi là ta hay ta là con chim núi

Vút một tiếng tắt cổ

Bi thương và mê ly

(Bài thơ tình yêu tháng mười một – Huỳnh Minh Tâm)

Phảng phất trong thơ là niềm bi cảm của vẻ đẹp Á Đông. Tựa hồ như quan niệm của Komachi trong bài thơ sau:

Hoa đào rơi

Nhan sắc phai rồi

Hư ảo mà thôi

Tôi nhìn thăm thẳm

Mưa trên đầu tôi

Những câu thơ đẹp và lạ đánh thức tâm trí người đọc:

Chuyện như sông

Chảy

Chảy

Chuyện như núi

Cao

Cao

Chuyện như biển

Sóng

Sóng

(Câu chuyện đời con người ta – Huỳnh Minh Tâm)

Thơ của họ là tiếng nói của những dự cảm mong manh, của tâm linh, trực cảm, của vô thức, cổ mẫu và giấc mơ:

Trong giấc mơ ngắn

Thường có giấc mơ đàn ông không biết về ranh giới

Nhặt những viên sỏi ủ dưới lòng sông mưa ngày

Ném trả về phía đại ngàn âm âm tiếng lá vỗ về

Tiếng nỉ non ve rừng nuốt cạn bờ sương triền suối

Rồi mơ cái nỗi ngâm chân của biển

Ngửa mặt hứng mưa trời thắt nhịp hoàng hôn

(Giấc mơ đàn ông – Phạm Tấn Dũng)

Phạm Tấn Dũng đã nói được cái mơ hồ, không biên giới của giấc mơ. Có rất nhiều giấc mơ nữa thường trực trong mười bài thơ của anh:

– Khi cơn mơ vừa sinh ra

Còn díu dan đói khát nỗi mong chờ

(Những ý nghĩ không rời)

– Cơn mơ không tự thức dậy

Tôi sinh tôi ở mảnh vườn khác

(Vườn khuya)

Trong cảm hứng bất tận về giấc mơ, Nguyễn Chiến lại nói một cách khác:

Giấc mơ đầy tiếng ếch nhái

Cánh đồng khô cong

Lỗ nẻ lọt chân trâu

Mưa xanh mưa trắng mưa tràn

Giấc mơ mẹ già nụ trầu đỏ

Áo gấm thung thăng hội làng

(Giấc mơ – Nguyễn Chiến)

Đó là giấc mơ níu giữ vẻ đẹp của một thời vang bóng, của những giá trị vượt thời gian. Cũng giống như Đỗ Thượng Thế:

Giữa dòng nỗi mình phơi cạn

Ta lại mơ bống vàng từng thiêng lòng giếng

(Giữa dòng)

Như cỏ dại như lá úa như cây xanh là sự phá vỡ ranh giới thể loại. Thơ văn xuôi với những bứt phá về lạ hóa ngôn ngữ: …đếm và gõ thăng hoa đến hạn đến lúc hắn tự biết trình diễn thơ hay thơ trình diễn sau rốt không quan trọng đến khi cử toûa ồ à wov… (Trình diễn thơ – Phùng Tấn Đông).

Sự lạ hóa ngôn ngữ kia còn là những khoảng lặng biết nói trong thơ của Đỗ Thượng Thế:

Ngày — tháng — khởi hành bão táp

Soi bống bống bang bang…

Xác ánh đèn phố bụi

Lẫm chẫm – lẫm chẫm suơng chiều…

Trong 5 phong cách thơ, Phùng Tấn Đông là người để lại nhiều ám ảnh nhất. Vì trong thơ anh có vẻ đẹp của yếu tố kinh dị kiểu Edgar Poe. Những hình ảnh trong mười bài thơ của anh không thuộc kiểu hình ảnh theo vẻ đẹp truyền thống quen thuộc mà là những biểu tượng của yếu tố kinh dị: cuốc kêu trăng chảy máu, thủa thịt da chớp giật giông gió kéo về em thơm con sùng đất, gặp lũ ma đêm – chơi trò cút bắt, mặt tròi ngún khói, đồng cỏ trôi lem nhem bóng tối, cơn gió mịn mướt lông măng thổi rợn mặt người, tiếng mèo hoang gào gió bấc

Sự cách tân của 5 tác giả trong tập thơ Như cỏ dại như lá úa như cây xanh không nằm ở chuyện hình thức hay lạ hóa câu chữ. Họ viết bằng chính chiều sâu thăm thẳm của linh ngôn, của trải nghiệm với con người thứ hai – con người của vô thức huyền bí. Thơ của các anh là tiếng nói dự cảm của thế giới đổ vỡ, rạn nứt, thơ giải thiêng, thơ chống lại sự giáo điều, mực thước, khuôn mẫu… Phần lớn các bài thơ có tứ đẹp: Gởi X, Điệu buồn ru tuổi thơ tôi, Giấc mơ đàn ông, Kì khu thơ, Câu chuyện đời con người ta, Giấc cỏ chỉ, Giấc mơ

Giá trị của tập thơ không chỉ nằm ở kĩ thuật viết độc đáo mà còn nằm ở tư tưởng nhân văn, thông điệp mĩ cảm mà nó chứa đựng. Đối với các anh, thế giới phải được liên tục định nghĩa lại và để làm được điều đó, họ liên tục khám phá những góc nhìn mới để không lặp lại người khác và không lặp lại chính mình. Vì vậy để đọc được Như cỏ dại như lá úa như cây xanh với lí trí thôi chưa đủ, chúng ta cần phải đọc bằng cả tâm hồn, trái tim, sự trải nghiệm của tiếng nói bên trong. Tôi xin mượn lời của Huỳnh Minh Tâm để khép lại những cảm nhận của mình:

Trước khi viết một câu thơ

Thả một hạt sen xuống hồ

Khóc ba ngày

Cá mang hạt sen ba ngày giấu dưới bùn đen

Sau khi viết một câu thơ

Cười ba ngày

Hoa nở một bông mùa bấc

Sống lưng lạnh buốt

kì khu thơ

H.T.T.H


(*) NXB Văn học, tháng 12-2011

ĐẠI NGHĨA

Truyện ngắn Nguyễn Hàn Chung

Tan buổi thiết triều ,nhìn thấy tiểu hoàng đế áo cổn, long bào lụng thụng rực rỡ vẫn không che giấu được vẻ trẻ con của cậu bé mới sáu tuổi đầu trong lúc Thái hậu buông rèm nhiếp chính ba vị khai quốc công thần của triều Đinh : Đinh Điền ,Nguyễn Bặc , Phạm Hạp đều có vẻ buồn ,lòng tràn đầy nghi hoặc . Tiên Hoàng và thái tử bị ám hại thật là thảm khốc ,nguyên nhân hành thích mà tên Đỗ Thích nêu ra thật chẳng thuyết phục chút nào ,vì sao Thái hậu và Thập Đạo tướng quân Lê Hoàn lại ra lệnh xử trảm hộc tốc tên loạn thần thí chúa mà không giao cho đình thần nghị xử , cũng gieo vào lòng những bậc trung quân nhiều suy nghĩ . Có phải manh nha một âm mưu tranh đoạt quyền bính nào ở đây không ? Cả ba người từng cờ lau tập trận rồi bình nam định bắc hơn mười năm trời ,lập nên bao công trạng hiển hách mới có địa vi trọng thần ngày hôm nay . Không thể để Tiên Hoàng và thái tử chết oan mà phận bề tôi yên lòng –Cả ba đều nghĩ như vậy nhưng chưa biết phải làm gì bởi ba người tuy chức thì cao mà không nắm được binh quyền tất cả đều một tay Lê Hoàn thống lĩnh . Một đêm tháng chạp năm Kỷ mão nghĩa là hai tháng sau khi Tiên Hoàng bị hành thích ba vị lão thần và một viên tiểu tướng là em trai của lão thần Phạm Hạp tên là Phạm Cự Lạng nhóm họp dưới mật thất dinh cơ họ Phạm .Trong phòng, đèn hương tù mù có linh vị vủa Tiên Hoàng và Thái tử ,bốn người hành lễ quân thần trước linh vị xong là khẩn trương ngồi vào bàn nghị sự .Nét ưu phiền tràn ngập trên khuôn mặt của những người dũng tướng từng phen trận mạc với quân vương ,Nguyễn Bặc mở đầu câu chuyện : –

Thưa chư vị quan huynh và Phạm đệ .Sở dĩ chúng ta nhóm họp ở đây là vì giang san xã tắc của nhà Đinh mà Tiên Hoàng cùng huynh đệ chúng ta đã dày công hãn mã tạo nên . Bây giờ toàn bộ binh quyền đều nằm trong tay tên Thập đạo chúng ta chỉ cần vọng động là ba họ không còn .Các vị có cao kiến gì xin cho Bặc này được rõ ?

– Đệ biết dã tâm của Lê Hoàn bởi hắn chơi thân với đệ từ thủa ấu thời ,bề ngoài hắn làm ra vẻ trung hậu nhưng kỳ thực lúc nào cũng lăm le mưu đồ vương bá. Ta chưa có cơ sở để kết tội hắn âm mưu thí quân nhưng xem việc hắn kéo bè kết cánh khuynh loát triều ca thì đủ rõ .Muốn cơ đồ của Tiên Hoàng thiên thu vạn đợi nhất thiết phải trừ khử con người này – Phạm Hạp bày tỏ quyết tâm

. – Ý kiến của Phạm huynh theo đệ là hoàn toàn chí lí song chúng ta không đủ cả nhân tài ,vật lực lẫn thời cơ nếu khinh xuất khởi sự thì đầu rơi không tiếc chỉ sợ cơ nghiệp của nhà Đinh không truyền quá hai đời . Đinh Điền buông một tiếng thở dài não ruột .

– Chả lẽ chúng ta đành chịu bó tay cho họ mặc sức tung hoành ,mai sau làm sao còn dám triều kiến tiên vương nơi chín suối . Hay là ta mật kiến Thái hậu bày tỏkhúc nôi xin người ban chiếu tước bỏ binh quyền của họ Lê thì còn lo gì mối hoạ về sau .Phạm Hạp hiến kế . – Nguyễn Bặc cười mà mắt rưng rưng lệ :

’ Chúa thưọng còn quá nhỏ mà thái hậu thì trọng thị họ Lê ra mặt không thấy âm mưu thoán đoạt của kẻ quyền thần dẫu tâu trình cũng chỉ chuốc hoạ vào thân mà thôi .Tiên Hoàng ơi! Lũ ngu thần lực bất tòng tâm , cúi xin người hiển linh phủ dụ lấy một lời

.Cả ba vị lão thần quỳ mọp trước linh vị khóc lạy duy chỉ Phạm Cự Lượng là ngồi yên khoé môi chỉ hơi động đậy .Nhìn thấy thái độ khác thường ấy của viên tướng trẻ cả ba người ngước lên nhìn tiểu Phạm một cách chăm chú .

-Lão đệ có cao kiến gì chăng ? Pham Cự Lượng nhắp chén trà trầm ngâm một hồi lâu mới vòng tay kính cẩn :

– Thế các quan anh đà hay gì chưa ? Trấn thủ Lạng Châu vừa cho thám mã cấp báo vua tôi nhà Tống biết chuyện Tiên hoàng bị sát hại ,quần thần bất hoà nên định thừa nước đục thả câu kéo quân vào thôn tính nước ta .Ngoại thù là trọng chuyện trong nhà sẽ khu xử về sau xin quý quan anh soi xét . Phạm Hạp quát em trai :

– Đó mới chỉ là tin đồn nhảm hoặc giả là chúng nó phao tin để lòng quân âu lo việc nước mà quên đánh đổ kẻ quyền thần .Đợi đên lúc ngươi nói thì sơn hà đổi chủ ,đại cuộc đã viên thành chúng ta cúi đầu xưng thần với hắn chứ còn khu xử cái gì nữa ? Đinh Điền ,Nguyễn Bặc đồng thanh nói :

Phạm đệ nói cũng có lí .Chúng ta tạm thời ẩn nhẫn án binh bất động chờ thời cơ ,nếu Tống quân tràn sang biên ải thì trước hết phải quét sạch nó đi thứ đên mới hưng gia trị nghịch Phạm Hạp gục gặc đầu

: Ừ ! thì cũng phải thế thôi ,phải lấy san hà làm trọng .Thế là cuộc họp không thành ai về dinh cơ nhà ấy. Giặc Tống dòm dỏ thấy triều đình nhà Đinh chưa loạn nên chúng cứ dấm doá quân phía biên thuỳ mà không dám tiến vào . Cùng lúc ấy Lê Hoàn chỉnh trang binh bị tích trữ quân lương Không đủ kiên nhẫn chờ đợi Nguyễn Bặc ,Đinh Điền và Phạm Hạp chạy vào Ai châu dấy binh khởi nghĩa phù Đinh diệt Lê .Thập đạo tướng quân Lê Hoàn xin lệnh Thái hậu chỉ để hai đạo quân giữ thành còn kéo các đạo quân tinh nhuệ vào Ai châu đánh tốc chiến tốc thắng vì còn sợ Bắc quân nhân cơ xâm phạm. Trận chiến diễn ra chớp nhoáng và quyết liệt .Quân ít thế cô Đinh Điền chết ngay tại trận .Nguyễn Bặc bị bắt điệu về Hoa Lư xử trảm .Phạm Hạp đánh mở đường máu chạy lên Bắc Giang rồi sau đó cũng bị bắt đem về Hoa Lư lãnh án tử hình.Ba vị khai quốc công thần trong cuộc tranh chấp quyền bính đã không đủ sức đương cự với tài thao lược của Lê Hoàn có sự hậu thuẫn trong màn trướng đã trở thành giặc của triều Đinh (!)

Tống quân ở biên thuỳ ứng chực sẵn thừa cơ tiến quân xâm lược Đại Cồ Việt .Thái hậu Dương Vân Nga và tiểu chúa Đinh Toàn vô cùng hoảng sợ triệu kiến Lê Hoàn giao cho toàn bộ binh quyền kể cả ấn tín chiêu quân mãi mã ,thâu nạp nhân tài chống cự quân thù bảo vệ đất nước .

*** Phạm Cự Lạng ngồi trước án thư đăm đăm suy nghĩ .Dù triều đình đã hiểu việc ông không chịu cùng anh mình là Phạm Hạp dấy binh tạo phản nên không hề bắt tội ông ,ông cũng căm hận Lê Hoàn đã không nghĩ tới công lao khai quốc cho anh ông con đường sống .Nay quân thù xâm lăng tiến binh vượt qua biên ải, Thái Hậu triệu kiến giao cho ông làm Đại tướng quân cùng Lê Hoàn lo việc chống giặc .Ong hiểu tất nhiên đây là thâm ý của Lê Hoàn muốn cùng ông trước thù chung gạt bỏ thù riêng chung sức chung lòng lãnh đạo quân dân cứu nguy xã tắc . Không còn thì giờ để suy nghĩ ông lĩnh ấn Đại tướng quân cầm binh ra trận. Biết thế giặc rất mạnh chuyện thắng thua chưa biết thế nào ,chúa còn quá thơ ấu ,mà con cháu các vị công thần bị xử trảm năm qua còn chưa phai thù hận .Ong suy nghĩ lung lắm ,cả triều đình ai cũng biết ông có mối thù sâu với Lê Hoàn nếu ông đề xướng tôn Lê Hoàn lên ngôi Hoàng Đế chắc chắn triều thần sẽ hiểu ông vì đại nghĩa mà hết lòng ủng hộ. Nhưng tôn kẻ đã giết anh ruột mình- người đã dày công day dỗ ông từ thuở bé thơ ông đành lòng sao đặng .Mãi suy nghĩ chân ông đã bước vào tới thềm đai điện .Văn võ bá quan đã tề tựu đủ mặt,trước hoàng cung Hoa Lư quân sĩ túc trực gươm giáo tuốt trần .Ngày hội triều hôm nay sẽ quyết định vận mạng xứ sở .Ong ngồi vào ghế Đại tướng quân ,ba quân tướng sĩ nhìn ông chờ đội .Là một người lương tướng từng vào sinh ra tử quân pháp vô thân mà vẫn tràn đầy lòng vị tha ông biết tướng sĩ yêu mến ông còn hơn cả ông Thập Đạo .Trong óc ông thoáng hiện ra cái ngai rồng Hoàng đế nhưng chợt nghỉ tới một điều gì đó khi bắt gặp cái nhìn tràn ngập yêu thương của Thái hậu về phía một người ,ông dõng dạc hướng về ba quân hô lớn :

-“Này ! Thưởng người có công mà phạt kẻ không vâng mệnh,đó là phép hành binh.Bây giờ chúa thượng hãy còn thơ ấu ,bọn ta dẫu liều chết may có lập chút đỉnh công lao thì ai biết cho ? Chi bằng trước hãy tôn ngay Thập đạo tướng quân lên làm thiên tử sau sẽ ra quân”(1)

Cả hoàng cung Hoa Lư lặng phắc bỗng ầm vang như sóng vỡ bờ .Có tiếng tung hô “Vạn tuế “ từ phía tướng sĩ rồi lan ra cả cung đình. Lê Hoàn sững người ,ông không tin ở tai mình khi nghe lời xướng tôn phù Hoàng đế laị đươc phát ra từ miệng một người ghét ông ra mặt .Lòng ông càng rộn hơn khi tận mắt chứng kiến quân dân Đại Cồ Việt tín nhiêm mình đến thế .Nếu đươc Thái hâu chuẩn tấu ông sẽ làm hết trí lực và tâm lực mình vì quân dân nước Việt .Trong óc ông bỗng nảy ra hai tiếng Đại Hành.

Thái hậu thấy mọi người đều vui lòng quy phục,sai lấy áo long cổn mặc cho Hoàn ,mời Hoàn lên ngôi Hoàng đế “(2) Đó là vào mùa thu năm Canh thìn ,nhà Đinh hết vận nhường cho một triều đại mới, triều Tiền Lê như sử gọi sau này . *****

Hầu Nhân Bảo vừa đi vừa ngâm ông ổng một bài thơ biên tái của Sầm Tham . Tống Thái tôn đã tín nhiệm giao cho hắn ta lĩnh ấn tướng soái chắc mẫm phen này lũ man di nơi góc biển sẽ quỳ gối xưng thần . Hắn sẽ tha hồ nếm mùi gái Việt đâu biết quân mai phục đã phủ vây tứ bề.Khi đại quân rơi vào những thung lũng sâu hun hút ,phía trước núi mặt quỷ án ngữ trong cái thế thập nhân nhập cửu bất hoàn ,núi Mã Yên ải Chi lăng như chiếc thòng lọng chỉ chực siết vào cổ họng ,.hắn mới hiểu mình đã lạc vào tử địa vội truyền lệnh đổi tiền quân làm hậu quân nhưng đã chậm mất rồi .Cái kế phục binh đơn giản ấy đã vùi thây tên cướp nước ,tiêu diệt gần như hầu hết đạo quân Giao châu thuy lục chuyển vận sứ .Đến lúc chiến thuyền của Lưu Trừng bị đại bại trên sông Bạch Đằng rồi Trần Khâm Tộ mất mật tháo chạy các bộ tướng Quách Quân Biện ,Triệu Phụng Huân bị bắt làm tù binh mưu đồ thôn tính Đại Cồ Việt của Tống Thái tôn đa bị phá sản hoàn toàn.

Mưòi năm sau ngày chiến thắng Lê Đại Hành hoàng đế bây giờ đã là một lão hoàng ngồi trên điện Bách Bảo thiên tuế ngắm mây chiều bay trên núi Đai Vân thuộc đất kinh kỳ.Nhà vua đùa với vị tướng già họ Phạm :

Giá như ngày xưa ngươi không chủ trương tôn ta làm hoàng đế không biết câụ nhỏ Đinh Toàn ấy có phải sang hầu lão Tống đế ở Bích cung ,Minh Đường không nhỉ !

Chợt như nhớ điều gì Đại Hành Hoàng Đế quay lại bảo tả hữu :

Ta đánh với Tống quân mười năm trước là cái thế chẳng đặng đừng , dẫu sao không động đên đao thương mà đất nước yên bình chẳng là phúc lớn cho trăm họ hay sao ! Ngày mai sứ Tống đến đây các khanh phải lựa lời mà thù tiếp sao cho không hổ mặt triều đình mà giải được nạn đầu rơi máu chảy để cho dân ta hưởng được chút lộc trời kể từ loạn mười hai sứ quân đến nay dân ta chưa hề được hưởng mới là điều trẫm mong muốn nhất

. Nguyễn Hàn Chung

Gửi bạn quê nhà
Tặng HMT

Bạn bực còn bức tường để đấm
tôi biết đấm vào đâu
đấm vào đầu máu ứ ?

Cơn lốc cuồng nộ thả bong bóng xì hơi
hớp một hớp dưỡng khí
một tự do duy nhất không phải trả cắc nào.

Em hoa hồng như cỏ
mọc tùm lum cúc vàng
ngắt một chùm lộc nõn
nói lộn sòng thu sang…

Bạn bực còn bức tường để đấm
tôi biết đấm vào đâu
trước mặt là khoảng không
sau lưng là khoảng trống.

Ăn ngủ thú vật
móc máy sinh vật
kẻ lạc linh cam chịu trời hành.

Trò lừa mị trinh huyết tùm lum
đã làm bạn chán ngấy
tôi chán ngấy
bọn họ cũng chán ngấy
thế mà phải vuốt phẳng phiu
tờ hôn ước chán ngấy

Bạn đấm tợn chỉ tổ đau tay kiếp người
Thôi xào khô xào ướt tạm bợ một đời cho qua
3/2012

Cảm đề bậc sáu

Nguyễn Hàn Chung

tôi móc tôi ra từ đống bùi nhùi
gương mặt trẻ ranh dễ dụ
rơi theo những tấm ảnh đàn bà cởi truồng
tội nghiệp
nhìn mà không thấy ngứa.

hồi hai mươi đấm tay vào bức tường
bàn tay tóe máu

bốn mươi gắng gỏi luồn tay vào giẻ rách
chung buồn chiếu manh

sáu mươi nhúng tay vào hố rác
bàn tay quắt queo
vết trầy xước khối u đau âm ỉ
quần quật tôi mọi cho ổ bụng
tứa cho đã
hiểu vì sao thánh hiền tịch mịch chưa tôi

những con cá khô lên lão
ái tình nếm ngửi mũi với lưỡi
trái tim thiếu mẹ nó máu
cứ chực giờ nín thinh

LÊ LỘC

LẠY CHA

đất quê chôn núm rún mềm

trăm năm chờ rụng trái tim về cùng

lạy cha ngủ giữa cội nguồn

cạn đời lạc chợ trôi sông con về.

MẸ GIÀ

cõi còm, trơ trọi, nghiêng xiêu

nhạt nhòa dáng mẹ buốt chiều tiễn con

hiên đời mưa tạt gió luồn

lại mong manh, mẹ mỏi mòn đứng trông.

NHÀ XƯA

cột xiêu, phên nát, nhà hoang

đã tôi mục rệu, mơ tàn giấc chưa?!

dựa cây mít góc vườn, mưa

mốc meo khóm rụng, khóc xưa xanh cành.

2/2012

LÊ LỘC

 

 

 

PHAN MINH MẪN
(1952 – 2011)

Chủ nhiệm CLB Mỹ An (Bút nhóm Hoa Cát)
HV Hội Nhà văn Đà Nẵng
Bút danh: Hải Minh
Nguyên quán: Điện Bàn, Quảng Nam
Trú quán: Tổ 5, phường Mỹ An, Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng

Đã in:
– Tiếng chim sau vòm lá (Thơ, Nxb Đà Nẵng – 2006)
 Giải thưởng: Giải 3 thơ viết về TP Đà Nẵng 2008
 Thơ văn đăng trên các báo, tạp chí TW và địa phương

Tiếng chim đã tắt sau vòm lá

Khi tôi đau đớn, trong đôi mắt nhòa lệ ngồi viết những giòng chữ này thì anh đã ra đi. Một cuộc ra đi đột ngột và vĩnh viễn.
Không đau đớn và không khóc sao được khi mới lúc 4 giờ chiều nay anh ghé nhà thăm ba tôi ở xa mới về, uống cà phê, nhả khói thuốc trong một trạng thái vui vẻ, nhàn tản. Vậy mà chỉ hơn một giờ sau khi anh về nhà hồn anh lìa khỏi xác. Một cơn đột quỵ cấp đã cướp mất anh rồi. Tôi và nhà thơ Nguyễn Nho Khiêm, chủ tịch Hội Nhà văn Đà Nẵng hay tin vội vàng đến nhà anh. Anh nằm đó, bất động, bình yên, thanh thản như người đang ngủ giữa một màu trắng xóa. Người thân, hàng xóm láng giềng, thân hữu và bạn văn nghệ của anh đến đầy nhà, ngồi chật đường trong một tâm trạng tái tê, thoảng thốt, buồn đau đến nghẹn ngào.
Anh như con chim vừa giấu tiếng ca của mình sau vòm lá. Tôi ví anh như vậy là dùng ý từ nhan đề tập thơ đầu tay của anh: “Tiếng chim sau vòm lá” (Nxb Đà Nẵng – 2006). Giọng thơ lục bát của anh ngọt ngào, điệu đàng nhưng chắc khỏe. Nhiều bài người đọc cảm thấy gần gũi với tâm sự của mình, như là anh viết hộ cho vậy. Báo Thanh Niên, Báo Đà Nẵng, Báo Công an Đà Nẵng và nhiều báo, tạp chí khác cũng đã từng giới thiệu thơ lục bát của anh. Gần đây anh bắt đầu thử bút trong lĩnh vực truyện ngắn, bước đầu thành công với một vài chuyện đăng ở đâu đó. Anh cũng đang dự tính in thêm một tập thơ riêng nữa. Vậy mà dở dang hết rồi anh Phan Minh Mẫn ơi!
Cách đây ba hôm khi tôi đang trực bệnh viện, nghe tin có nhà thơ Nguyễn Tấn Thái ở Quảng Nam ra ghé thăm, mời uống nước ở căng tin anh cũng vào chơi, nhân tiện mang cho tôi bản thảo tập thơ văn “15 năm CLB thơ Mỹ An” vừa mới có giấy phép của Nhà xuất bản Đà Nẵng để nhờ tôi chỉnh sửa, bổ sung trong đĩa trước khi mang in. Mấy tháng gần đây, anh vất vả với tập thơ văn chung này trong vai trò là chủ nhiệm câu lạc bộ. Hết thu bài, đọc bài, góp ý sữa chữa đến mang đi vi tính bản thảo, “chạy” xin giấy phép, viết đơn xin miễn giảm, hỗ trợ kinh phí để câu lạc bộ sớm có được tập thơ nhân dịp kỷ niệm 15 năm thành lập vào dịp mừng xuân mới Nhâm Thìn – 2012. Đâu chỉ có chuyện thơ, anh còn phải lao động kiếm sống hằng ngày như mọi người. Nói vậy để thấy cái tình anh dành cho văn nghệ đáng yêu biết bao.
Tính tình anh hiền hậu, vị tha, từng trải nên điềm đạm, không tranh chấp và không có ý hơn thua ai trong đời và cả trong chuyện văn chương chữ nghĩa. Tôi và anh gặp nhau ở điểm này nên rất hợp và thân nhau. Thỉnh thoảng không gặp, anh ghé nhà thăm hoặc chiều nhàn tản nào đó thì allo gọi nhau đi uống cà phê. Chúng tôi hay ngồi cà phê với nhau vì tửu lượng của anh kém. Tuy nhiên, anh cũng sẵn lòng có mặt trong những lần cụng ly để gặp gỡ anh em văn nghệ cho vui mặc dù anh chỉ “ngồi hầu”. Nhưng những lần như vậy, anh thường ra về sớm, vì anh còn một công việc khác lớn lao hơn, hiếu hạnh hơn đó là chăm sóc một người mẹ già bị tai biến mạch máu não phải nằm tại giường từ nhiều năm nay. Anh muốn tự tay mình chăm sóc cho mẹ để trả hiếu hơn là giao cho vợ con hay ai khác.
Tôi nhớ, một lần mẹ anh phải đưa đi cấp cứu, anh trực suốt trong bệnh viện để giành giật mẹ khỏi lưỡi hái của Tử Thần. Và anh đã chiến thắng. Trong những ngày đó anh viết những vần thơ về mẹ thật là cảm động:
Ngày xưa Mẹ bế trên tay
Nay con ẵm Mẹ mấy ngày Mẹ ơi!
Cúi xin Mẹ lấy một lời
Mắng yêu, mắng ghét như thời ngày xưa.
(Mẹ)
Nhưng sao giờ đây, định mệnh thật trớ trêu, lá vàng phải khóc lá xanh rồi. Người vợ hiền và ba đứa con anh đang bước mon men vào đời bàng hoàng, sụp đổ. Làm sao có thể chấp nhận một sự thật quá ư phũ phàng này!
Khiêm và tôi nhắn tin cho một số anh em văn nghệ gần xa biết. Bạn bè văn nghệ sau đó tới tấp nhắn tin hay gọi lại chia buồn. Hết Nguyễn Nhã Tiên gọi đến Bùi Tự Lực, Hoàng Thanh Thụy, Lê Anh Dũng, Hoàng Bạch Nga, Nguyễn Nho Thùy Dương, Bùi Xuân… Nhà thơ trẻ Ngô Hữu Đoàn ở TP HCM cũng xót xa chia sẻ. Nhà thơ Nguyễn Kim Huy nghẹn ngào qua điện thoại: Không thể nào tin được chuyện này. Bảo anh Phan Minh Mẫn hãy nán lại, sao vội vàng bỏ anh em ra đi!
Tôi và Khiêm chỉ biết giấu vào lòng những giọt nước mắt buồn đau khóc một người bạn văn nghệ chân tình, tài hoa. Mùa xuân đang đến gần, một mùa xuân tê buốt, vì từ đây không còn gặp nhau để nói những lời chúc tốt đẹp khi mỗi mùa xuân sang. Với tôi, những vần thơ lúc bát dịu êm của anh chào đón giao thừa vẫn mãi ngân vang:
Và ta rồi cũng sang mùa
Thêm lần nâng chén giao thừa với xuân
Ly tràn rớt giọt buồn câm
Rượu không biết uống một lần thử say.
(Uống rượu giao thừa)
Anh không còn ngồi thử uống với các bạn văn được nữa rồi. Anh đã có mặt trong cõi đời tạm bợ này, cất vang tiếng ca như cánh chim trời ngợi ca vẻ đẹp của cuộc sống. Nhưng bây giờ tiếng ca nghệ sĩ của loài chim trời ấy đã bất chợt lặng im sau vòm xanh của lá.
Khuya 29/11/2011
MAI HỮU PHƯỚC

Thơ lục bát Nguyễn Bá Hòa trong “Thuyền Hạnh”

 

Nguyễn Chiến

Tôi không làm công việc giới thiệu thơ Nguyễn Bá Hòa. Nếu giới thiệu, tôi sẽ viết bài đăng báo. Ở đó, tôi sẽ nói nhiều đến cái hay của thơ Nguyễn Bá Hòa để bạn đọc tiện thưởng thức, đở mất công đi tìm. Nguyễn Bá Hòa không thích thơ mình bị đem ra mổ xẻ, luận bàn vô lối. Trong thơ mình, anh đã từng “mắng” những kẻ “luận bừa”: Ngồi nhậu đặc sản dế Nhớ ông Tô Hoài xưa Chuyện văn chương lại để Đám Lưu Linh luận bừa Ở đây, trong hội thảo về thơ do Hội Văn học nghệ thuật tổ chức, tôi xin phép bàn đến chỗ được, chỗ chưa được của thơ Nguyễn Bá Hòa. Từ chỗ hay, chúng ta học tập cách thức tiếp cận hiện thực, cách thức sử dụng các yếu tố nghệ thuật… Từ chỗ chưa hay, chúng ta rút kinh nghiệm chung. Tôi chỉ đi vào mảng thơ lục bát trong tập Thuyền Hạnh của anh. Tập Thuyền Hạnh có 79 bài thơ bốn câu, trong đó 59 bài lục bát, tỉ lệ gần 75%. Có thể nói sở trường của Nguyễn Bá Hòa là thơ lục bát; anh chọn thể lục bát để đi vào thế giới thi ca. Người ta hay nói thơ lục bát dễ viết nhưng viết cho hay rất khó. Tôi không nghĩ như vậy. Thơ lục bát là lời ru bên nôi nên chúng ta thấy gần gũi, quen thuộc; thật ra nó là thơ thanh điệu, đã tồn tại qua hàng ngàn năm, có hình thức phát triển đến mức hoàn thiện nên là thách thức lớn đối với những ai muốn đi tìm cái đẹp với thể thơ nầy. Lục bát bốn câu lại càng khó hơn; vì cần có tứ thơ để ý tình có chỗ trú ngụ, phải nén lại để nổ vỡ, phải chặt chẽ trong bố cục như bài tứ tuyệt luật Đường… Nguyễn Bá Hòa tự dẫn mình vào con đường gập ghềnh, dễ bị “sập bẫy thơ”, dễ rơi vào “cạm bẫy chữ”. Không ít người phải chia tay với thơ lục bát, đến với thơ tự do, để không bị vần nhịp o ép bó buộc! Trên con đường ấy, Nguyễn Bá Hòa đã có những bước nhịp nhàng, hoa mĩ và thi thoảng có cả những bước lao đao. Nguyễn Bá Hòa lập tứ như thế nào? Ở những bài thơ không có tứ, thường đơn nghĩa: Thơ em Bài thơ em gởi bốn câu Ý lời thô vụng chẳng sâu nặng tình Ngoa ngôn vô sắc vô hình Nhưng là tứ tuyệt của mình tặng ta Trăng xế Bấy lâu sao chẳng nói năng Bây giờ năng nói thì trăng xế tà Thôi đành mở trái tim ra Dẫu trăng đã xế vẫn là trăng thôi Hai bài thơ có lối viết đơn giản, thơ thiếu hàm ngôn, phô ra giọng kể lể, giải thích; chữ “nhưng”, chữ “dẫu” như gã xấu trai bị ép phải đứng ngay ở đầu hàng nên lúng túng, ngượng nghịu lắm. Song cũng có bài đơn giản mà hồn hậu, rất có duyên: Trưa quê Mướp vàng hong nắng ngoài sân Cây rơm tròn lửng phơi trần dưới trưa Cây cần vọt, cái gàu đưa Đi đâu vẫn nhớ buổi trưa quê nhà Ở những bài có tứ nổi, tuy năng lượng chưa nén chặt để bùng nổ nhưng người thơ vẫn gởi gắm được nỗi niềm: Được – mất Thơ anh u ám lâu ngày Đem ra giặt sạch phơi đầy trước sân Tình cờ cơn gió ghé thăm Thổi phần chua xót để phần yêu thương Nhờ cái tứ, người đọc không chỉ nghĩ đến chuyện được – mất trong chuyện làm thơ mà còn nghĩ đến chuyện được – mất của đời người; mà theo anh, chỉ có sự tình cờ ngẫu nhĩ và quyền năng của siêu nhiên mới cuốn đi cái phần chua xót, đem đến phần yêu thương cho con người. Một ý thơ sầu nhưng sáng lên mơ ước được trải lòng, mơ ước chỉ có tình yêu thương, đừng có cay đắng trong cõi người. Valentine Lẽ nào chỉ một ngày yêu Tính ra là cả xuân đều nhớ mong Cớ sao chỉ một nỗi lòng Hãy yêu tất cả người trong cõi đời Một tứ thơ lạ. Ngày tình nhân chỉ là một, còn ngày yêu của tình nhân thì 365, cả kiếp trước và kiếp sau nữa. Đã vậy thì hãy mở lòng ra yêu cả – và thiên hạ. Tình yêu vốn ích kỉ, không ai chấp nhận san sẻ nhưng trong bài thơ lại mở ra phía tha nhân và nhuốm màu bác ái. Nguyễn Bá Hòa làm nhiều thơ tình, với những tứ thơ đẹp (Ngả ba sông, Tượng đá, Người mơ, Thiếu nữ, Đành thôi, Xao lòng, Nguyệt thực, Sao băng,…) Lời yêu trong thơ Nguyễn Bá Hòa hòa trong tiếng kinh cầu, thơm như tình ái của ni cô (Hàn Mặc Tử), chứ không có sức nóng của sự va chạm giới tính: Sao băng Vỡ ra từ khối lửa tình Băng băng trong cõi nhân sinh ghẹo người Trong đêm nhặt mảnh sao trời Kết thành tràng ngọc tụng lời kinh yêu Lỡ đánh rơi ánh mắt bên đường thôi, mà đã đứng trước gương soi lại mình, đã cảm thấy mất một chút chung tình với em rồi: Xao lòng Đánh rơi ánh mắt bên đường Về nhà ái ngại soi gương tìm mình Trong gương nguyên vẹn dáng hình Mắt chăng? Một chút chung tình với em Hãy đọc bài Thiếu nữ: Cây thiếu nữ trổ hoa xuân Nụ duyên hàm tiếu thơm ngần hương trinh Gió hây hẫy, nắng rập rình Chim lơi cánh vỗ, riêng mình lặng im. Thơm ngần hương trinh, gió hây hẫy, nắng rập rình, chim lơi cánh vỗ… Rõ ràng, người thơ không phải là không có ánh nhìn giới tính trước nhan sắc mĩ nhân. Nhưng sao lại lặng im, từ tâm đến vô tâm làm vậy? Như thế là có lỗi trước cái đẹp rồi. Đồng Đức Bốn dám viết: Em bỏ chồng về ở với tôi không? So sánh với người đàn ông trong thơ Đồng Đức Bốn, người đàn ông trong thơ Nguyễn Bá Hòa mẫu mực quá, đạo hạnh quá chăng? Chữ tình trong thơ anh thường gắn với chữ duyên. Chữ duyên xuất hiện với một tần số khá cao và phong phú về hình thức kết hợp: tình duyên, tơ duyên, nụ duyên, nhành duyên, tấm duyên; tìm duyên, bắt duyên, duyên nảy mầm; duyên lành… Hình như người đàn ông trong thơ anh không thích những biểu hiện cụ thể của tình yêu mà chỉ “yêu chay” và chiêm bái cái duyên gặp gỡ trong đời. Những bài thơ có tứ chìm thường sắc sảo, đa nghĩa. Tứ thơ lẫn vào hình ảnh, vào lớp áo ngôn từ nên ý thơ kín đáo, nhiều dư vị khó quên: Cầu vồng Ghé chân vào cõi mênh mông Đưa tay ướm thử cầu vồng mấy gang Buồn chi! Chức Nữ – Ngưu Lang Chiều nay nắng gọi mưa sang bắc cầu Chức Nữ – Ngưu Lang là biểu tượng của tình yêu trắc trở. Từ chuyện Chức Nữ – Ngưu Lang, người thơ thương những trái tim yêu trong khổ đau rồi muốn làm cái gì đó để đưa những người yêu nhau đến với nhau, chí ít cũng là lời an ủi hay gợi cho họ một niềm tin sum họp, dù vô thường như nắng gặp mưa. Đó là tấm lòng thơ đối với nỗi đau nhân thế. Bài Giếng cổ cũng có cái tứ chìm lấp song gợi bao điều sâu xa: Cái giếng cổ bằng đá ong Cả làng uống, nước xanh trong bốn mùa Lẫn trong nước tiếng chuông chùa Tiếng thiêng liêng tự ngàn xưa vọng về Cái giếng cổ bằng đá ong là do con người làm ra từ xưa, đã thành tài sản chung của làng. Đó là mạch nguồn xanh trong bốn mùa không vơi cạn và hòa trong đó là tiếng chuông chùa từ ngàn xưa vọng về. Giếng cổ trở thành giá trị văn hóa đẹp đẽ, thiêng liêng và không thể thiếu trong cuộc sống mọi người…Bài thơ hay, chỉ tiếc chữ “lẫn” dùng chưa đắt. Ca dao giàu hình ảnh so sánh, ẩn dụ; lục bát trong tập Thuyền hạnh của Nguyễn Bá Hòa rất hiếm hình ảnh so sánh (chỉ có 3 hình ảnh so sánh) nhưng có cả hệ thống hình ảnh ẩn dụ. Đây là nét đặc sắc của lục bát Nguyễn bá Hòa, làm cho thơ anh có dư ba. Xin thống kê ra đây: hương gió, mùi ve, hương trinh, đêm trầm hương, tình xưa xanh, tình ươm vàng, màu em, mùa ái ân, nhành tương tư, trái hân hoan, trái yêu, trái xuân, hạt phôi pha, mầm quên, nụ xuân, cây vạn hạnh, cây thiếu nữ, nụ duyên, dây tình duyên, tấm duyên, chồi yêu, lộc tình, áo chiều, chén tình, lửa tình, khói lòng, bến xao lòng, triền nhớ nhung, đỉnh phong trần, đôi mắt dao cau, hàng cây ngữa mặt. Mùi ve, hương gió, tình ươm vàng, tình xưa xanh, đêm trầm hương… là những hình ảnh ẩn dụ được xây dựng theo cách thức chuyển đổi cảm giác của thơ tượng trưng. Những hình ảnh ẩn dụ – tượng trưng nầy làm cho câu thơ đẹp và giàu ý nghĩa. Qua đó, tác giả đã chứng tỏ mình là một nhà thơ có trực cảm mạnh và tinh tế. Đặc biệt hơn là cách sử dụng hình ảnh ẩn dụ có màu sắc siêu thực. Tác giả sắp xếp những hình ảnh đứng cạnh nhau một cách ngẫu nhiên, như không hề có liên quan gì. Hình ảnh thơ khác lạ, phi lí ẩn chứa nhiều nét nghĩa mới, có nét nghĩa ngã về phía vô thức, tiềm thức. Sự kết hợp các hình ảnh, từ ngữ vốn xa lạ, không hợp lô-gíc như: khói lòng, trái hân hoan, trái xuân, áo chiều, ngữa mùa, hàng cây ngữa mặt, triền nhớ nhung, hạt phôi pha… là những ẩn dụ đa tầng có màu sắc siêu thực, tạo nên hiệu ứng ngữ nghĩa, gây bất ngờ cho người đọc. Câu thơ như bông hoa lạ, làm ta phải ngắm nhìn lâu: – Hàng cây ngữa mặt nguyện cầu Chồi yêu tức ngọn nảy đau lộc tình (Nguyện cầu) – Nghiêng chiều rót nhớ vào đêm Ngữa mùa hứng giọt sương mềm vẹn nguyên (Thiên nhiên) – Gió mùa thả ngọn vô hương Gót hoàng hôn dẫm nát vườn chiêm bao (Vịn chiều) – Tiếng ru chạm nắng vườn trưa bỗng mềm (Hạ) Đó là những câu thơ tài hoa của Nguyễn Bá Hòa. Hay, khó cắt nghĩa nhưng… không mới. Ta đã thấy nhiều trong thơ Nguyễn Xuân Sanh, trong lục bát Bùi Giáng, trong ca từ của Trịnh Công Sơn,…rồi. Có thể nói lục bát của Nguyễn Bá Hòa là lục bát “rin”. Gieo vần, ngắt nhịp, hài thành không có biến cố. Nhịp lục bát là nhịp ru, được xây dựng trên cơ sở nhịp 2, đều cho tất cả các câu 6 và câu 8. Phá cách phải có ý đồ nghệ thuật rõ ràng. Lục bát trong Thuyền hạnh chỉ ba bốn bận ngắt nhịp lẻ, song dường như không có sắc thái biểu cảm gì: – – Đi một bước/cũng xuất hành Một câu thơ/cũng duyên lành/đầu năm. (Xuất hành) – Gót hoàng hôn/dẫm nát vườn/chiêm bao. (Vịn chiều) – Cái giếng cổ/bằng đá ong Cả làng uống/nước xanh trong/bốn mùa Lẫn trong nước/tiếng chuông chùa Tiếng thiêng liêng/tự ngàn xưa/vọng về (Giếng cổ) Ba lần tác giả tỏ ra mạnh dạn sử dụng các dấu câu ! ? . ở giữa dòng thơ làm cho câu lục bát có chút mới mẻ: – Buồn chi! Chức Nữ – Ngưu Lang – Mất chăng? Một chút chung tình với em – Ta trôi vướng giữa đời nhau. Gọi là Thơ lục bát của Nguyễn Bá Hòa khơi mở cho chúng ta nhiều vấn đề. Lục bát hôm nay phải viết như thế nào? Có nên đổi mới thơ lục bát không? Và đổi mới theo hướng nào? Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp trong bài “Giới thiệu thơ Đồng Đức Bốn” không tin ở sự cách tân thơ lục bát và đã nặng lời: “Tôi đã thấy sự suy đồi, sa đọa của thơ lục bát ở ta kể từ khi Nguyễn Bính và Bùi Giáng mất đi”**. Ông còn viết: “Những cố gắng cách tân lục bát, xét cho cùng giống như người già làm răng giả, người què đóng nẹp chân”**. Đó là ý kiến cực đoan. Không thể nói vì thơ lục bát là đặc sản, là quốc hồn quốc túy của dân tộc nên phải giữ nguyên gốc. (Lục bát đâu chỉ là của riêng của người Việt. Nhà thơ Inrasara đã trình ra lục bát Chăm, lục bát Thái Lan trong bài viết “Lục bát và các dòng thơ lục bát”) Cách tân là yêu cầu sống còn trong sáng tác văn chương mọi thời. Người làm thơ lục bát cũng phải gánh lấy trách nhiệm cách tân, làm cho thể thơ nầy có sức chứa lớn hơn và mang được cái hồn của người Việt trong thời đại mới. Lục bát truyền thống vốn ngọt ngào liệu có chuyển tải được hiện thực đa diện, với nhiều mâu thuẫn phức tạp đan xen của hôm nay hay không? Nhiều nhà thơ hiện đại đã có những cố gắng làm mới thơ lục bát. Huy Cận cắt bỏ yếu tố tự sự, dùng nhiều tính từ làm cho lục bát của ông có nét khác với lục bát truyền thống. Du Tử Lê chủ trương ngắt nhịp lại thơ lục bát (không lấy nhịp đôi làm cơ sở) dùng dấu vạch nhịp, dùng dấu chấm (.) trong dòng thơ, câu cuối của bài thơ có thể là câu lục và đặc biệt bỏ âm trắc bắt buộc ở tiếng thứ tư ở mỗi dòng thơ. Du Tử Lê là nhà thơ cách tân lục bát mạnh mẽ nhất. Lục bát Du Tử Lê mới, lạ và có hương vị riêng. Hãy đọc ít câu: …Nằm nghe – chăn gối rơi. Cùng tháng năm bằn bặt.- Phật còn ở không Tôi nhìn – tôi rất chon von …Sao tua chưa từng nằm kề /. em thơm tho giữa thơ, lìa biệt, tôi /. tay cầm tay, lên: chia hai : mũi đinh đóng xuống đời. Thôi nhé. Đừng xa người. Sao tôi không dưng ? địu em trước ngực, lưng buồn râm, ran. Đồng Đức Bốn, Phạm Xuân Nguyên, Mai Bá Ấn rất thành công với thể loại thơ lục bát, được dư luận chú ý***. Lục bát Đồng Đức Bốn, Phạm Xuân Nguyên đậm chất thế sự được viết theo lối dân gian – hiện đại. Mai Bá Ấn cắt dòng bậc thang… Có người nói: làm thơ chỉ cần cảm xúc, không cần lí luận. Không đúng, người sáng tác hôm nay cần có lí luận để “chỉ đạo” công việc sáng tạo của mình, không thể sáng tác mù. Nhưng cũng không để lí luận o ép, uy hiếp hồn thơ. Trường hợp Du Tử lê, Đồng Đức Bốn, Phạm Xuân Nguyên, Mai Bá Ấn hay Nguyễn Bá Hòa là những gợi ý để mỗi người làm lục bát tự định hướng. Lục bát Nguyễn Bá Hòa là lục bát “rin”, gần với lục bát truyền thống, chưa phải là “lục bát đời mới”, không thấy dấu ấn của sự cách tân. Anh thành công trong sử dụng các yếu tố nghệ thuật như lãng mạn, tượng trưng, siêu thực để câu thơ có màu sắc, hồn vía. Lục bát của anh là lục bát tình, lục bát duyên, lục bát thiền, ít có lục bát thế sự. Ai đem phân chất một mùi hương (Xuân Diệu). Ai đó nói rằng phê bình thơ là việc tàn nhẫn, người phê bình thơ là “kẻ ác”. Nhưng phê bình văn học không thể thiếu trong đời sống sáng tác của bất cứ một nền văn học nào. Sinh thời, nhà văn Nguyễn Tuân dặn dò: khi tôi chết hãy chôn theo một “thằng” phê bình. Thi sĩ Nguyễn Bá Hòa đã viết mấy câu: Đã bao lần uốn lưỡi Vẫn nói lời chua ngoa Nhà thơ đã thấu ngộ cái lẽ ấy thì người viết bài nầy “được lời như mở tấm lòng.. Tháng 11 năm 2011 ……………………………………… *

Thuyền Hạnh, NXB Văn nghệ, thph Hồ Chí Minh, 2010. ** Nguyễn Huy Thiệp, Giăng lưới bắt chim, NXB Hội nhà văn, 2006, trang 138, 139. *** Phần thơ lục bát trong các tập: Chăn trâu đốt lửa, Trở về với mẹ ta thôi (Đồng Đức Bốn), Cỏ cháy, Ở trọ hồn làng, Bến chuồn chuồn (Phạm Xuân Nguyên), các tập: Lục bát làm liều, Thị trường lục bát (Mai Ba An)

thoáng vụt phù

 

    nguyễn hàn chung

rót xuống
phù vân anh phù du tui

đêm nguýt
ngày trề

xớn xơ phù mỏ

câu cú xộc xệch
rục rịch lên cơn đồng bóng

chăm chắm định nghĩa thơ  nhăn nhó phát rồ

bầu trời quê xứ chật  những ngôn chí sáo rỗng làm trụ

chắp tay bái
lạy cô hồn  tứ phía

tối mịt cơn lên khùng khí rỗi hơi

anh không tròn dái để yêu thương

rướn hết tàn cơ cũng chỉ  son són dây đờn gãy gụm

rốt cuộc phù vân phù du mệt nhoài phù mỏ

chẳng con ma nào hiểu ngoài váng vất cơn điên

muà thu rớt cợm trên lá

lộc thu bơ thờ

uổng công em gánh tận tàn tro đỏ đổ vào lòng
giếng cạn

vết xước sợi dây dài

ai lại không biết phù vân hốt biến

thương người
đau mình

quấn quít phù du  ?

8/10/2011

đám cưới trên đồi (phần hai)

wedding in topanga canyon

Nghi thức xông khói

Sau đó, là những lời thề ước của cô dâu chú rể rất chân thật mà lãng mạn, nồng nàn. Dịp này, người chủ trì buổi lễ, Meg Glasser, đọc bài thơ Mối Duyên Lành – Bài 2667 (This Marriage- Ode 2667) của thi sĩ Rumi:

Mối Duyên Lành – Bài 2667

Xin phước lành giáng xuống trần gian vào lời thề nguyền, giao kết hôm nay.
Xin đôi lứa mãi như giòng sữa ngọt ngào, như rượu đào, như kẹo mật.
Xin mối lương duyên
như cây lá trong vườn đem lại nhiều
trái thơm, bóng mát.
Xin tiếng cười tự thiên đường sẽ ròn rã ngân vang, hôm nay và mãi mãi.
Xin cho giây phút này là chứng tích của thương yêu, là dấu hiệu của hạnh phúc.
Xin cuộc tác hợp này tốt tươi, viên mãn,
Và xinh đẹp như vầng trăng đang vằng vặc sáng trên nền trời xanh ngát.
Ôi nói sao cho cùng trước hồn thiêng chư thánh thần, bồ tát,
Đang hoà nhập cùng chúng ta trong ngày vu quy, sắt cầm hảo hợp.

image

Lễ đeo nhẫn cưới và đọc thơ Rumi

This Marriage – Ode 2667

May these vows and this marriage be blessed.
May it be sweet milk,
this marriage, like wine and halvah.
May this marriage offer fruit and shade
like the date palm.
May this marriage be full of laughter,
our every day a day in paradise.
May this marriage be a sign of compassion,
a seal of happiness here and hereafter.
May this marriage have a fair face and a good name,
an omen as welcome
as the moon in a clear blue sky.

I am out of words to describe
how spirit mingles in this marriage.
(3)

image

Tiếng hát rất ấm và tha thiết của nữ ca sĩ (có dáng dấp Joan Baez) qua hai nhạc phẩm “Mahadev” và “Blessed Always”

Sau bài thơ Duyên Lành là hai bản nhạc “Mahadev” từ đĩa nhạc Radiant Awakening và bản “Blessed Always” được hát lên qua giọng hát trữ tình của Radha, cô gái áo đỏ.

Lễ cưới tiếp theo đó là quan khách cùng hai họ trở lại các bậc thang có treo những lá cờ mang các dòng chữ Tây Tạng để đến cái sân lát đá lúc khởi hành lễ cưới, nơi đây có dọn sẵn vài thức ăn nhẹ cùng những chai rượu đỏ sẵn sàng mời khách nhâm nhi cùng vui với niềm vui của cô dâu chú rể.

image

Cô dâu chú rể chụp hình lưu niệm với sáu cặp dâu phụ rể phụ

Sau khi hai họ cùng bằng hữu trò chuyện về lễ cưới tràn ngập hạnh phúc này, họ được cô dâu chú rể mời đến địa điểm dự tiệc cưới.

Từ dưới chưn một vách núi, các cặp rể phụ dâu phụ lần lượt được xướng danh mời lên trước sự chào đón bằng những tràng pháo tay nổ giòn. Rồi đến song thân cô dâu, song thân chú rể, và sau cùng và cũng là hai nhân vật chính cho tiệc cưới tối nay là cô dâu, chú rể. Dĩ nhiên rồi, họ được chào mừng bằng những tràng vỗ tay thật dài.

Lần lượt hai thân phụ cô dâu và chú rể ngỏ lời cảm ơn quan khách và tiệc cưới dưới ánh trăng sáng trên nền trời giữa những núi đồi chập chùng nơi đây chính thức bắt đầu với những bước khiêu vũ đầu tiên của cô dâu và chú rể. Và sau đó mọi người cùng nâng ly chúc mừng hạnh phúc của đôi tân lang và tân giai nhân và của cả hai họ, của mọi người.

Như hòa cùng niềm vui với cô dâu chú rể, các loài hoa trong khu vườn trên ngọn đồi tình ái này cùng đua nhau nở rộ những cánh hoa đầy hương sắc và kết trái ngọt ngào.

image

Các loài hoa trên đồi cùng vui nở trong ngày cưới của cô dâu chú rể

image

Bông Artichaut nở rộ với những nhụy hoa màu tím

Trước khi kết thúc các ghi nhận về đám cưới này, có lẽ sẽ rất thiếu sót nếu không nhắc về các biểu tượng mà cô dâu và chú rẻ chọn cho ngày cưới của mình.

Trước nhứt, về ý nghĩa những tiếng “OM” vang vang đã ghi lại bên trên là một chọn lựa khá đặc biệt mà dường như chưa lần nào tôi dự một tiệc cưới như vậy. Thứ đến là những lá cờ muôn màu của truyền thống Phật Giáo Tây Tạng theo làn gió ban phát những lời kinh chúc lành đến mọi sinh vật trong vũ trụ .… Thứ ba nữa là những bông sen. Có tới hơn một trăm bông sen mà cô dâu chú rể tự tay làm lấy để trang trí nơi các bàn tiệc, nơi hai tấm bảng giới thiệu các lễ cưới trong gia tộc hai bên, là biểu tượng của sự trong lành và thanh khiết mà hai nền văn hóa Phật Giáo ở Tây Tạng và Ấn Độ có dịp mang tặng cho loài người khắp mọi nơi. Sau cùng, những con voi màu hồng là hình ảnh mà cô dâu và chú rể rất yêu thích. Tân lang và tân giai nhân cũng yêu quý Ganesha, vị thần voi Ấn độ có thiên tài vượt qua mọi khó khăn. Những biểu tượng về voi nhắc nhở đôi uyên ương tôn trọng sự thông thái vô biên, trực giác bén nhạy, và năng lực sung mãn lúc nào cũng ngự trị trong chúng ta và khắp nơi trên toàn cầu.

Trở lại nhà sau kỳ dự lễ cưới vào một đêm trăng tròn tháng Bảy vừa rồi trên ngọn đồi vùng Topanga Canyon, tôi mới nghiệm ra một điều là những người trẻ ở Hoa Kỳ, ngoài học thức và tài năng, họ còn có một đời sống tâm linh rất phong phú, sâu sắc mà nhiều người già như tôi vốn giữ những nếp cũ phải giật mình. Quả thật, câu nói cửa miệng:“Đi một ngày đàng, học một sàng khôn,” đúng với riêng tôi biết bao!!!

Lương Thư Trung
Topanga Canyon, ngày 16- 07- 2011

Cước chú:

1/ Các hình trong bài do người viết chụp.

2/ Thủ ấn: ấn kết bằng ngón tay. (Theo Tự điển Phật Học Hán Việt của Phân Viện Nghiên Cứu Phật Học, nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, tái bản và bổ sung, 2007, trang 1294)

3/ Bản dịch Việt ngữ của Tô Thẩm Huy. Bản Anh ngữ được trích từ tuyển tập “Love is a Stranger,” chủ biên Kabir Helminski, Threshold Books, 1993).
Tô Thẩm Huy chú thích thêm về Rumi: (Mowlana) Rumi là thi sĩ người Persian, quê ông ở miền Balkh nay là vùng phía bắc Afghanistan, sống vào thế kỷ 13. Ông viết nhiều thơ ca ngợi tình yêu, rất được phương Tây yêu thích, như những câu:

Tình yêu đến,
trở thành như máu trong thân thể tôi
ùa chảy qua những mạch, bủa vây trái tim
Ôi, bạn hỡi,
mọi điều bạn thấy về tôi,
chỉ là cái vỏ bên ngoài,
phần còn lại tình yêu đã chiếm trọn.

Love came,
and became like blood in my body.
It rushed through my veins and
encircled my heart.
Oh, my friend,
all that you see of me
is just a shell,
and the rest belongs to love.

Đám Cưới Trên ĐồI (phẦN 1)

         (   Copy from Damau.org)

Lần đầu tiên tôi tới California lại ghé qua Topanga Canyon thuộc vùng núi non Santa Monica của Los Angeles. Từ phi trường Los Angeles, xe chạy về hướng xa lộ 405, rồi con đường 27, chúng tôi lại rẽ về hướng biển với hàng dừa kiểng cao lêu nghêu như thách thức sức chịu đựng cùng gió giông vào những mùa mưa bão. Đây là phần bên này bờ Thái Bình Dương, mà bờ bên kia là vùng biển Việt Nam của tôi. Bãi biển buổi chiều vắng người và nghe nói nước biển vùng này rất lạnh vì dòng nước từ trên vùng Alaska mang cái lạnh từ bắc cực xuống đây.

topanga beach

Bờ biển vùng Topanga Canyon (Los Angeles, California) (1)

Theo con đường cặp bờ biển, xe chạy một đỗi lại phải rẽ vào tay mặt bắt qua con đường đèo khúc khuỷu với những vách núi cheo leo hai bên đường để tìm ngã Robinson lên ngọn đồi thuộc vùng Topanga Canyon, nơi mà ngày mai, thứ bảy, chúng tôi sẽ dự lễ cưới nơi này.

image

Núi đồi vùng Topanga Canyon (Los Angeles, California)

Trước khi lên máy bay đi California lần đầu, tôi chưa có một ý niệm gì về vùng đồi núi cheo leo này. Trong bụng cứ đinh ninh là đi California đồng nghĩa là đi về vùng Quận Cam hay một chỗ nào đó có nhiều người Việt Nam đang sinh sống. Đến khi tìm đường qua những đường đèo, chúng tôi mới biết vùng này dường như không có người Việt cư ngụ. Dọc đường đèo, nhà cửa cư dân nơi đây rất thưa thớt. Xa xa vài quán bên đường bán tạp hóa hay cà phê. Lâu lâu mới có trạm bán xăng và thỉnh thoảng mới có con đường quẹo lên hướng núi về tay mặt hoặc rẽ sang tay trái mà trong tầm nhìn giới hạn chúng tôi thấy những ngọn núi cao chót vót kia lác đác những căn nhà gạch quét vôi màu vàng nhạt.

image

Đá trên vùng Topanga Canyon

Xe chạy vòng vèo chừng hơn nửa giờ chúng tôi gặp con đường Robinson nằm bên tay mặt với cái cua quẹo rất gắt dẫn về ngọn đồi mà chúng tôi muốn tìm. Khi vào cổng, chúng tôi không ngờ giữa nơi núi non mịt mùng này lại có một ngọn đồi trải một thảm cỏ xanh rì với những đoạn đường tráng nhựa êm ái như nơi đồng bằng. Khi ngừng xe nơi căn nhà mà mình sẽ ở trong năm ngày ở đây, chúng tôi rất đỗi ngạc nhiên thấy người chủ ngọn đồi này đã xây cất rất nhiều nhà nhỏ lác đác nơi các triền dốc này, gốc núi kia bao quanh bằng những con đường lên dốc xuống dốc… Theo đứa cháu cho biết những căn nhà và cả ngọn đồi này người chủ chỉ dùng làm nơi nghỉ những ngày cuối tuần.

Xem chừng ở đây xa các nơi có người Việt thật, vì dọc theo con đường đèo mà chúng tôi vừa đi qua không thấy tiệm quán Việt Nam nào. Thành ra, muốn ăn cơm hay ăn phở chúng tôi phải chạy xuống đèo và đi chừng gần một giờ lái xe mới có tiệm phở bán cơm tấm Việt Nam.

Bạn có thể nào tưởng tượng nổi giữa một vùng núi đồi bao la này lại có một triền dốc với tám bức tượng Phật Thích Ca ngồi trên các tòa sen hiền từ mà nghiêm nghị biết bao giống như nơi đây là một vùng Phật tích lâu đời …

image Tám tượng Phật Thích Ca ngự trên tòa sen bên một triền đồi theo hình vòng cung (nhìn tứ phía trước) image

Từ trên triền đồi nhìn xuống địa điểm cử hành lễ cưới

Sau khi đứa cháu đưa chúng tôi vào nhà sắp xếp chỗ nghỉ và tắm giặt xong xuôi, chúng tôi đi dạo một vòng với khu vườn cây ăn trái không bón phân hóa học có đến năm ba mẫu càng làm chúng tôi nhớ như mình đang đi về một vùng núi rừng Thất Sơn với cam, quít, táo, hồng đầy nhánh. Cái thú của người nhà giàu là dường như họ lập vườn trồng cây trái để coi chơi cho vui, nên trái chín rụng đặc gốc mà không thấy ai lượm mang về … hoặc hái trái đang còn trên cây ăn thử …. Rồi có cả một khoảng đất trống nuôi những chị gà đẻ trứng. Hỏi những người chăm sóc gà mới biết gà ở đây ăn toàn bằng những trái cây chín rụng, không dùng loại thực phẩm chế biến sẵn như các nơi nuôi gà công nghiệp. Gà đẻ nhiều lắm; chúng đẻ đầy các ổ lót sẵn bằng ván gỗ và cỏ khô; làm tôi liên tưởng những ổ gà lót bằng những chiếc thúng rách miệt nhà quê nơi làng quê tôi.

Buổi sáng, ở một triền đồi còn đọng sương đêm lành lạnh, những chàng nai tơ không lo nghĩ gì cứ thong dong dạo chơi trên những ngọn cỏ còn ướt những giọt sương.

image

Đàn nai đang hứng sương và ăn cỏ vào sáng sớm

Bao quanh ngọn đồi này, chỗ nào cũng có những tượng đứng, tượng ngồi, những lu và những khạp, những khúc cây lớn móc bộng ruột làm thành những chiếc mõ. Nơi đây có khoảng mười căn nhà với đầy đủ tiện nghi như máy lạnh, tủ lạnh, phòng khách, phòng ngủ, nhà vệ sinh không thua bất cứ ngôi nhà nào dưới đồng bằng. Thêm vào đó, trước mỗi nhà như vậy người ta có đặt hai bàn tay bằng đồng với vị thế bắt ấn theo nghi thức Phật Giáo (2)

image

Trước cửa một ngôi nhà nghỉ cuối tuần

image

Địa điểm cử hành lễ cưới với một trăm chiếc ghế được cô dâu chú rể tự tay xếp thành vòng tròn

Lưng chừng đồi có một sân lót đá với những bậc thang bằng đá cùng các bức tượng thiếu nữ cũng bằng đá là nơi các cặp phù dâu phù rể chuẩn bị đến nơi hành lễ. Nơi đây cũng dọn sẵn những thức ăn nhẹ và rượu dành cho khách nhăm nhi trước khi dự tiệc cưới chính thức và khiêu vũ dưới sân cỏ thấp.

image

Sân lót đá và cầu thang

image

Những bậc thang bằng đá với những lá cờ xanh đỏ tím vàng mang các dòng chữ Tây Tạng tiêu biểu cho Phật Giáo Tây Tạng

Bắt đầu lễ cưới khoảng 5 giờ chiều thứ Bảy, các cặp dâu phụ, rể phụ tập trung nơi lưng chừng đồi – chỗ có những băng ghế và các tượng với nền lót đá bằng phẳng – rồi bước theo các bậc thang dẫn xuống sân cỏ phía dưới, nơi vòng tròn mà bà con hai họ và khách dự lễ cưới đã ngồi đợi sẵn.

image

Địa điểm khách sẽ dự tiệc cưới và khiêu vũ cùng cô dâu chú r dưới ánh trăng tròn 16 chiếu trên đồi

Đi đầu là cháu gái bốn tuổi làm em bé rải hoa cầm cái giỏ nhỏ đựng đầy những cánh hoa hồng tiến về vòng tròn làm lễ. Khi đến nơi, cháu lấy những cánh hoa trong giỏ rồi đi vòng quanh vòng tròn rải những cánh bông ấy đều lên mặt cỏ.

image

Cháu Sophia từ Boston phụ trách rải hoa mở đầu lễ cưới

Tiếp theo là các cặp dâu phụ và rể phụ, rồi song thân cô dâu, cùng cô dâu tiến xuống vòng tròn phía dưới.

image

Các cặp phù dâu phù rể bắt đầu rời địa điểm tập trung để đến nơi cử hành lễ cưới

Sau khi đón nhận cô dâu từ ông bà nhạc, chú rể và cô dâu tay nắm tay tiến về vị trí cử hành lễ cưới giữa những tràng vỗ tay chào mừng.

Hôn lễ cử hành với nghi thức rất lạ mà tôi chưa bao giờ tham dự lần nào. Người điều khiển chương trình có tên là Govinda với mái tóc xoắn bỏ dài theo sống lưng, mặc chiếc áo màu đỏ như một thổ dân. Ông ta bắt đầu bằng ba tiếng kèn mà tiếng vọng lại của nó kéo dài và lan xa vào không trung giữa lúc mọi người đang chăm chú đôi mắt nhìn về hướng cô dâu chú rể. Rồi những tiếng “OM…OM…OM” lại được cất lên từ người mặc áo đỏ ấy, tượng trưng cho tiếng vọng vang lên từ vũ trụ, theo truyền thuyết cổ xưa, nó biểu hiệu tất cả quyền năng từ các đấng thiêng liêng trong trời đất. Rồi một cô gái cũng mặc áo đỏ bắt đầu mồi lửa vào một cái bình có chứa đồ nhóm lửa và xông khói chung quanh cô dâu chú rể cùng quan khách như mang đến một phép mầu hạnh phúc cho đôi tân lang và tân giai nhân.

Sự quý giá của vỉa hè

 


                                                                                                                       Nguyễn Hàn Chung

Vỉa hè là sự sang trọng của bụi

Vỉa hè là sự sáng chói của rác

Vỉa hè là thường ngộ bóng tối

Vỉa hè  là cật lực  niềm tin

Vỉa hè đẻ ra bùi, ra đợi

vỉa hè đẻ ra quang ra quán ,ra khúc ra chánh…

vỉa hè đẻ ra ngựa trời  không dái

vỉa hè sổng ra triết nhân

Đói rách  bấu sống vỉa

cất cao vỉa hè luận

liếm láp cà phê đầu đường trinh thơm mùi xó chợ

Quý ông quý bà  quý phái thiếu tháng tắt nghỉn ngôn ngữ

phải cầu cứu vỉa hè

nơi cung ứng mông vú háng đùi vĩ đại

còn làm bộ cao đạo

cái con tườu

Vỉa hè cứu rỗi phần  hồn
không xác

vỉa hè vinh danh phần xác không hồn

văn học vỉa hè hằng cữu bụi tinh tươm

Vỉa hè là sự sống

vỉa hè là thơ ca nhạc họa tùm lum

vỉa hè là màu cờ dân tộc

giả sử không có hộ khẩu  vỉa hè

âm hồn  thi sĩ biết
tán nơi đâu ?

Texas 2/9/2011

Thất nghiệp hành


Nguyễn Hàn Chung

Lâu quá  không ra ngồi chực quán

Quán tận Houston rất Điện Bàn

Không có chân dài bưng phục vụ

Một mình ta ngửa cổ tu khan

 

Bạn rót Sông Hàn in đáy cốc

Ta nâng Hòn Kẽm tự chân mây

Hai thằng mắt rễ đăm mù hướng

Trà đá mà chơi riết cũng say

 

Thời kinh tế xuống không còn job

Nên nỗi vai u cũng lỡ làng

Tráng sĩ tới hồi lao xuống dốc

Con đường hành khất sắp mênh mang

 

Em bảo xứ mình ruồi tới tấp

Nào hay xứ họ cũng loăng quăng

Những thằng qua trước khinh thằng mới

Lĩnh được đồng đô giọt thấm khăn

 

Thiên đường chỉ có trong rao bán

Của những thằng cha vĩ đại lừa

Em đứng núi này trông núi nọ

Đâu ngờ trong nắng đã là mưa

 

Hai đứa bốn chai trà đá lạnh

Ngồi im hong hóng chuyện quê nhà

Xung quanh toàn những tên thất thế

Không tiền lấy chửi để tiêu ma

 

Còn bao lăm nữa rồi đi đứt

Khốn nỗi mè nheo chẳng chịu rời

Hai mảnh rách bươm tàn xíu quách

Ngựa Hồ chim Việt đã cùn hơi

 

Thất nghiệp  ra đây đùn một nấm

Ngóng đâu cũng mịt mịt mây trời

Houston TX

29/8/2011

Tắc


                                    

  Nguyễn Hàn Chung

 

Em tắt kinh  mà ta tắc thơ­­

Ngậm đôi vú lép mút bơ thờ

Ù ơ ú ớ buồn trôi xứ

Thò chữ vào câu cứ trống huơ

 

Mỗi tắt đèn đêm tắc bóng đêm

Tắt anh cùng quẫn phủ đời em

Con giun xéo đến con đường tắc

Ai tắc còn mong buổi nhá nhem?

 

Em tắt kinh mà ta tắc thơ

Điên  cơn rưới chữ xuống mương thờ

Ngoa ngôn ngoa ngữ trùm ngoa ngoắt

Tắt rụp sương  mù vẫn  bá vơ

 

 

 

 

Giá nghĩ buồng em không tắc kinh

Anh xin thề tắt khúc vong tình

Tắc em cố cựu thành trinh nữ

Đốt ngọn đèn khuya vá cõi sinh

 

Ta tắc thơ em chưa tắt kinh

May ra lấn quấn cửa sông mình

Em tắt… mà thôi… ta cũng tắt

Trống trếnh tàn hoang  kiếp lạc linh

13/8/20011

Nhớ Đỗ Toàn


                             

Nguyễn Hàn Chung

                                                                        Tặng: Vũ Minh-Nguyễn Đức Thắng

Trời Tây ngẫm thơ hốt rác

bỗng nhiên vụt hiện Đỗ Toàn

 ngày gã lận chai rượu gạo

chia buồn tui bị thù gian

 

Tượng đài tượng đài

tượng nào đúc bằng ngón giả

tượng nào đúc bằng tim gan

ông đã trèo đèo xuôi Huế

hết còn  xất bất xang bang

 

Đỗ Toàn Đỗ Toàn

hát một câu thôi đẫm rượu

Dây Hồng  khó đứt tơ oan

 

Mấy tháng nằm im không nói

Bầy chai bụi bám mênh mang

 

Tui ở trời Tây hốt rác

Hốt nhiên vụt hiện Đỗ Toàn

Bữa nao có tiền về xứ

Viếng hỏi tượng đài cụ Phan *

Giá như đường xưa đắc sách

Bi giờ đâu nỗi tan hoang?

 

Tiếc thay một lũ cóc chết

Lưng quay phía tượng Đỗ Toàn…

                                                   Shady Green Meadows

                                                     17/07/2011

  • Tượng đài cụ Phan Chu Trinh do Họa sĩ Đỗ Toàn đúc dựng tại một số trường trung học ở Quảng Nam và Đà Nẵng sau 1975.

KHÔNG LỜI MỸ SƠN

 -Phạm Tấn Dũng-

Nơi ấy nắng lên muộn

nắng xuống chậm

Sông chảy xuôi thì buồn

Lưng sóng đầy mốc meo cổ tích .

Nơi ấy trăng to dần

băng qua mảng trời về phía núi

Tôi lần theo

và bơi ngược những dòng sông

dòng sông dắt tôi

như dắt ký ức mình

nhỏ dần

nhỏ dần

nhạt đi

Nơi ấy phủ đầy hình hài

mùi hăng cỏ dại

phế tích trĩu buồn

buồn như những cuộc tình không sinh không nở

buồn như tiếng gà bí ẩn xưa xa

buồn đến thót tim những trưa đứng bóng

lãnh lót tiếng gà ác mộng nghìn năm

Nơi ấy ngọn đèn đã tắt

Tôi ngồi hí hoáy hõm đêm

ngồi như ngồi bên người tình đã từng ôm ấp

những trận mưa quất đau cổ tháp

những vàng vọt nắng quái chiều tà

những chòng vòng nhơ nhớ

lưng sóng đầm đìa phế tích hoang rêu

Nơi ấy với những cơn say chệnh choạng

Tôi với bóng mình ngã nghiêng bóng Tháp

dắt ký ức về gởi em giữ dùm

Tôi bắt găp ánh nhìn khiếm thị

Và tôi mù trong những gì tôi được thấy   ./.

Không gian xưa


                                      –  Miên Trà

Ta đi lại những đường xưa

Phố rộng người đông, biển treo dày đặc

Công ty nào cũng còn hữu hạn

Quán nhậu, cà phê lúc nhúc sớm chiều

 

Đường Bạch Đằng kéo  dài

Cây và cảnh đáng yêu

Nhạc chờ thể dục

Ông lão, cụ bà bước đều hai…một

Lung linh sông Hàn buổi sáng tinh mơ

 

Bất ngờ gặp quán Phố xưa

Lộc vừng đâu về đây nở hoa thầm lặng

Điện thoại nhắn tin hò hẹn

Uống ly trà gừng chia sẻ ngọt cay

 

Trường cũ bạn xưa đâu đây*

Sao mà như công viên, ghế bàn giải khát

Loanh quanh muốn tìm nơi bóng mát

Bất ngờ đến tận Không gian xưa

Không ai đón đưa

Người xưa chẳng thấy .

                                      * Trường Trung học Sao mai trước 1975

                                                 ( Trường THPT Trần Phú sau 1975.)

Nghe một điệu hát Chăm trong Cổ Viện Chàm

                                               

                                                  Nguyễn Hàn Chung

 

 

 

Xiêm áo phất phơ màu khao khát

Mắt nâu Hời đồng hiện khúc ca xang

Không biết mây ca hay khói hát

Thời gian hay rụng lạc không gian

Cơn âm sắc  hư vô bấu chặt

Búp tơ xiêm mơn mởn nụ non hường

Cũ kỹ đắm chìm em khuya khoắt

Tiếng một người cung thỉnh tiếng xa phương

Tiếng hát huyền hồ như Cổ Viện

Ký thác ta từ thuở  ngọn đèn chong

Anh riết chặt si mê vào cõi ngực

Quấn trăm vòng không đủ sức rêu phong

 

 

 

Mùa thất bát, mà thôi, anh sẽ cố

Âm ba ngày cũ  náu nương mình

Biết đâu có cơn gió nào mỏi hướng

Buổi thu chùng rát giọng nhớ thương anh

Khi goá bụa bỗng nhiên thành vĩnh phúc

Tiếng ca xang  sum họp cỏ xanh rờn

Xưa cũ bỗng nhiên thành hiện đại

Cơn cớ gì không phung phí yêu ngôn ?

ĐN-08

Nói cùng con nhân ngày Father’s day


 

 

  NGUYỄN HÀN CHUNG

Lũ trẻ bứt hoa ném vào nhau

 mà tim con như rớt

mắt con dính

những nụ cành gãy nát

 

Nhìn dáng nhỏ tức tưởi

lom khom  nhặt

con ơi, cha hãi lắm rồi,

 

Con sẽ thành thi sĩ mất thôi !

 

Giấc mơ cho cha hào phóng một gia tài

cha giấu nhẹm

không cho con… cảm thấy

những mảnh vỡ cứa hồn cha đến chiều rồi còn tấy

nỡ nào còn để con đau

 

Nhưng khi lũ trẻ bứt hoa ném vào nhau

mà tim con

như đá

thản nhiên trước nụ cành tơi tả

con ơi ! cha lại ước cái ngày


con âm thầm khóc nhặt xác hoa bay.

Ở QUÁN INTERNET



NGUYỄN HÀN CHUNG

Ông già vào quán’’ in –tơ’’*

Gõ bàn phím cứ như  mơ… mõ làng

Trẻ con thao tác điệu đàng

Ông ngồi  trố mắt hoang mang đợi…thời

Cái thời trai trẻ suối khơi

Thú vui một chiếc đài vơi nỗi niềm

Chẳng màng nghe chuyện Toán,Tin

Rảnh rang đôi chút lại chìm đắm thơ

Bây giờ mười ngón lơ ngơ

Ngón đi hoang ngón dật dờ rối tinh

Bao nhiêu là chữ với hình

Thoắt đi thoắt hiện làm tình tội ta

Ông ngồi gõ mãi không ra

Trẻ con thầm thĩ  : Ông già lộn sân

Ván cờ tàn cuộc, còn quân

Mà sao ông cứ ’’ chát ‘’ câm một mình  **

* internet

**chat :  tán gẫu

TRƯỚC TIỆM PHỤC HỒI ẢNH CŨ

                                                    

 Cụ già vào tiệm phô tô *

Mang theo tấm ảnh một cô gái làng

Chỉ còn là bóng thời gian

Cụ mong lại thấy hồng nhan một người.

Phục hồi ảnh cũ ? Dễ thôi .

Đưa vô máy quét qua rồi là xong

Vẫn còn nguyên vẻ tơ non

Vẹn nguyên đôi mắt liếc mòn tim ta.

Mặc chàng thợ ảnh ba hoa

Cụ chăm chắm đón người xa sắp về.

Nhưng rồi… đâu tấm váy quê

Đâu rồi chiếc nón nghiêng che tóc người

Một cô ăn ảnh tươi cười

Rất xinh nhưng chẳng phải người ông mong

Cụ ôm ảnh cũ vào lòng

Dòng sông tưởng tiếc đầy trong mắt lòa

Mặc chàng thợ ảnh lu loa

Cụ rơi về phía sân ga đợi chiều

  • photocopy

Cha, con và nghề giáo – nghiệp thơ

Ngô Hà Phương – Ngô Thị Thục Trang:

Cha con Ngô Hà Phương, Ngô Thị Thục Trang là một trường hợp đặc biệt trong làng văn chương xứ Quảng, bởi cả hai cùng theo đuổi nghề giáo nhưng nghiệp thơ đã lỡ vận vào mình…

– Chọn nghề giáo nhưng vẫn đều đặn in thơ, có phải dạy học là cái duyên còn con đường thơ dường như là định mệnh?
– Ngô Hà Phương (NHP): Nghề giáo khá ổn định, mô phạm; cuộc sống nhà giáo chuẩn mực và ít trắc trở. Còn thơ và người thơ cần lắm sự lãng mạn, ngẫu hứng… Thế nhưng, tôi quan niệm thơ trước hết là chốn để mình giãi bày nỗi niềm, sự rung cảm từ cuộc sống. Tôi vốn được cụ thân sinh dạy làm thơ từ nhỏ và biết làm thơ từ đó. Rồi có giai đoạn đời sống nhà giáo rơi vào khó khăn, cực nhọc, tôi đã quên mất thơ. Sau bao phen “lưu lạc”, khi tuổi đã xế chiều, sực nhớ ra… thơ vẫn gắn bó máu thịt với mình như con người phải cần đến không khí để thở đấy thôi.

alt
Hai thế hệ nhà giáo – nhà thơ Ngô Hà Phương và Ngô Thị Thục Trang.

-Ngô Thị Thục Trang (NTTT): Khi làm thơ, tôi quên mất mình là một nhà giáo. Lúc đó, tôi như người say, bao cảm xúc về quê hương, tình yêu, phận người tôi đều gửi hết vào thơ. Có lẽ, cũng nhờ đi theo nghề giáo, tôi thấy mình có thêm nhiều thời gian để trải nghiệm và sống cho thơ hơn nữa. Việc dạy học (nhất là dạy các môn tự nhiên) đòi hỏi ở tôi tính mô phạm rất cao. Nhưng sau bục giảng, tôi lại là một phụ nữ lãng mạn, ưa quan sát, chiêm nghiệm cuộc sống…
– Hội VHNT Quảng Nam vừa trao giải C cho “Bóng làng” – tập thơ vừa mới “trình làng” đầu năm nay của NHP. Giải thưởng này đến với anh như một duyên may hay là sự minh chứng cho vườn thơ đang độ chín?
– NHP: Làm thơ khá sớm nhưng tới tuổi này tôi mới chọn in tác phẩm đầu tay, bởi tôi thích sự cẩn trọng, chỉn chu. Giải thưởng đến với tôi như duyên may, hẳn rồi. Tôi không dám bình luận gì thêm, chỉ mừng khi cách biểu hiện của mình được nhiều người đồng cảm, là món quà lớn nhất đối với tôi.
– Còn NTTT làm thơ, viết văn với bút lực sung mãn và là gương mặt trẻ sớm tạo được dấu ấn riêng. Tại sao mãi đến bây giờ chị vẫn chưa chịu trình làng đứa con tinh thần của mình?
– Đã mấy lần tôi tính xuất bản tập thơ đầu tay nhưng vướng chuyện này nọ, nên cứ lần lữa mãi. Lúc đầu tôi nghĩ, chuyện quan trọng nhất vẫn là sáng tác chứ không phải là chuyện in tác phẩm. Nhưng trước sự động viên rất lớn từ gia đình, bạn bè, giữa năm nay tôi sẽ tập hợp các sáng tác trong vòng 10 năm qua để ra mắt tập thơ. Số lượng truyện ngắn cũng đã kha khá, nhưng tôi chưa hài lòng mấy, tôi muốn sản phẩm của mình khi trình diện công chúng phải hết sức chỉn chu.
– Chừng như hình ảnh quê nhà cứ day dứt mãi trên dòng sông thơ của hai cha con – nhà thơ vậy?
– NHP: Tôi sống nhiều ở quê, cảm xúc về quê rất dồi dào, trong đó ký ức tuổi thơ là nỗi ám ảnh thường trực. Người dân quê vốn sống gắn bó, chan hòa. Tôi yêu từng ngõ làng, lũy tre xanh, con đường quạnh vắng, yêu nét hồn hậu của người dân lao động tảo tần một nắng hai sương… Mọi thứ cảm xúc ấy đi vào thơ tôi rất tự nhiên, không cầu kỳ.
– NTTT: Xa quê từ năm 17 tuổi nên ký ức về quê sâu đậm nhất trong tôi vẫn là năm tháng tuổi mới lớn. Nếu chăng có cuộc trở về, thì không có cuộc trở về nào đẹp nhất là cuộc trở về với thế giới tuổi thần tiên ấy, nó trong sáng và hồn nhiên biết mấy, không dễ gì tìm lại được. Tới nay, tôi vẫn thấy mình chưa làm được điều gì cho quê hương cả.
– Những thao thức về thơ ở một NTTT khi còn đang tuổi thiếu nữ và giờ đây ở vai trò một người mẹ, người vợ trong một tổ ấm mới, thì có gì khác?
– Giọng thơ tuổi thiếu nữ có phần nhẹ nhàng, thiên nhiều về cảm xúc. Khi đã là người phụ nữ của xã hội, của gia đình, thơ tôi xuất hiện những chông chênh, suy nghiệm, có lẽ là thường tình. Nhưng sức mạnh siêu hình nào đó thôi thúc tôi làm thơ thì vẫn vẹn nguyên, có khi còn mãnh liệt hơn. Giai đoạn này, tôi tạm dừng sáng tác thơ bởi tôi rất sợ lặp lại chính mình. Tôi đang tìm kiếm, khám phá hướng đi mới cho thơ. Song, khoảng lặng này cũng ý vị, bởi chỉ trong thời gian ngắn tôi đã viết thêm 20 truyện ngắn. Đó cũng là cách thức để trải nghiệm và cảm xúc thêm chiều thăng hoa.
– Vậy sự cách tân trong thơ?
– NHP: Tôi luôn đảm bảo sự chuẩn mực, gẫy gọn cho câu chữ. Tôi không có chủ đích đi tìm sự cách tân cho thơ, bởi tôi chỉ viết theo nhịp rung cảm của mình. Nếu có, thì cũng chỉ là sự tìm kiếm cách thức diễn đạt mới hơn, tứ thơ súc tích hơn, có một chút thay đổi về cú pháp, từ ngữ chẳng hạn.
-NTTT: Tôi nhận thấy, hiện nay thơ đang trượt vào một lối mòn đáng tiếc, chưa thấy có sự cách tân, đột biến nào trong tư duy. Mà sự “cách tân”, có chăng chủ yếu chỉ là sự đập phá, nổi loạn bằng hình thức đơn thuần. Bản thân người nghệ sĩ cứ luẩn quẩn… dò đường. Tôi nghĩ thế này: anh cứ viết lạ, cứ viết mới đi, nhưng anh phải hiểu mình đang viết cái gì thì mới mong độc giả hiểu và đọc được. Ý thức cách tân trong tôi trước hết là sự thay đổi nhịp câu, thay vì viết những câu có vần điệu êm êm như trước, gần đây thơ tôi xuất hiện những câu trúc trắc, không còn tròn trịa, nhưng cá tính. Tôi luôn nỗ lực tìm kiếm tứ thơ lạ và cách biểu đạt lạ, chẳng hạn như “Em môi cong hửng nắng” (Tin nhắn giao mùa), “Một ánh sẻ chia/nhẹ hơn ngày xám xịt/khi mọi triết lý chẳng làm đêm ngắn được/người hẹn nhau về hóa giải cùng trăng” (Hạt yêu thương)…
– Trong thơ, Trang thấy mình chịu ảnh hưởng từ ai nhất?

Nhà thơ Ngô Hà Phương sinh năm 1955, giáo viên Trường THCS Lý Thường Kiệt (Đại Thạnh). Tác phẩm đầu tay: “Bóng làng” – NXB Đà Nẵng, được trao Giải C – Giải thưởng Hội VHNT Quảng Nam 2011.
Ngô Thị Thục Trang sinh năm 1984, là con gái thứ hai của nhà thơ Ngô Hà Phương. Năm 2005, tốt nghiệp cử nhân hóa học Đại học Sư phạm Huế, hiện giảng dạy tại trường THCS Nguyễn Khuyến (Đà Nẵng). Năm 2005, được giải khuyến khích Cuộc thi thơ bút hoa của Tạp chí Tài hoa trẻ; giải A – giải thưởng thơ Đà Nẵng năm 2009. Có nhiều thơ, văn đăng trên báo trung ương và địa phương.

-Tôi vốn đọc nhiều tác phẩm trong và ngoài nước, nhưng có chịu ảnh hưởng từ ai không thì… không biết. Tôi thường xuyên đọc nghiên cứu, lý luận để làm giàu thêm ngòi bút. Tôi cũng rất khắt khe với câu chữ của mình, bài viết xong cứ sửa đi sửa lại nhiều lần rồi mới để người khác đọc. Tuy nhiên, khi bắt đầu làm thơ, tôi học nhiều từ ba. Tôi học được cách viết nét, bỏ bớt những cảm xúc, những câu chữ không cần thiết từ ông. Ba còn giúp tôi chọn hình ảnh thơ sinh động hơn.
– Nhà thơ Ngô Hà Phương, ông thấy điều này thú vị chứ?
– Tôi thường đọc thơ Trang, cảm nhận được nguồn cảm xúc dồn nén trong đó. Thơ Trang nhanh, nhạy, có nhiều chuyển biến, cách tân, đổi mới; giọng thơ mềm mại nhưng cảm xúc thì mãnh liệt, cháy bỏng. Có thể, những gì tôi không chạm tới được ở trong thơ thì cây bút trẻ như Trang đã thay tôi làm điều đó.
Nữ tính trong thơ Thục Trang bộc lộ khá đậm nét, chị có thể chia sẻ một chút về điều này?
– Tôi viết từ những gì bên trong con người tôi. Có những cảm xúc thoáng qua, tôi phải bắt kịp; có những cảm xúc lắng đọng, đòi hỏi tính suy nghiệm cao. Có thể bản thân tôi là phụ nữ, nên chuyện bạn nhận thấy tính nữ trong thơ tôi là điều hiển nhiên. Ngoài đời tôi không mấy được nữ tính cho lắm, nên có thể từ trong vô thức tôi đã trút hết tất cả vào trong thơ! (cười).

HOÀNG LIÊN  – QUANG VIỆT (thực hiện

Thơ nhân ngày nói dối


                                  Nguyễn Hàn Chung

 

Luật bất thành văn

cho  phép anh nói dối một ngày

anh nói dối cả đêm.

Gối đầu  lên bướm em gái massage

dối mẹ đi nhà thờ kính Chúa

sát phạt đỏ đen máu đổ tưng bừng

dối vợ cứu trợ thiên tai

mù trời đông xỉn say cho thỏa cơn ghiền

dối mình  thi sĩ

dối những em gái ngây thơ xài của trời cho xóa đói giảm nghèo

dối những bộ xương hom hem mỏi mòn kho hàng hết thuốc

dối những lá đơn không bao giờ được ai để mắt

Luật bất thành văn cho phép anh một nói dối một ngày

anh nói dối suốt năm

nói yêu em tùm lum  mà toan tính giở trò điếm thúi

Sinh thời mẹ nói ông trời ở xa

những đứa ác  không sợ thụt lưỡi sống lâu

sống lâu để còn nói dối

Tôi đã đụng bọn quyền quan ,nâu, chùng kiếm ăn

họ nói dối để sống còn

sống còn để còn nói dối  .

Luật bất thành văn

cho phép ta nói dối một ngày

đã tan nát đời hoa

ai lại suốt đời nói dối !.

1/4/ 2011

QUÊ HƯƠNG BÊN NGOÀI TÊN GỌI

                                                                                           Huỳnh Minh Tâm

Dào dạt trong tôi dòng chảy quê hương
Dưa cà xanh biếc tháng hai tiếng chim chìa vôi giọt giọt giữa trưa hè
Tiếng nói thô mộc của cha tôi với trâu bò đất đai và chén rượu
+
Những điều thiêng liêng và bình dị đâu đó dễ gì nhận ra
Trước khi từ biệt cõi đời tạm bợ
Sự tạm bợ đôi khi qúi giá hơn những lí do tốt đẹp những tiện nghi
+
Nhận biết gương mặt người thân đôi mắt người tình
Đi qua cuộc đời như ngọn gió
Trong cùng một chiếc nôi  của sự sống
Và sự chết
+
Nhận biết những giọt nước mắt mặn chát bể muối
Mỗi ngày trước sự héo úa của cỏ sự lừa gạt của chữ nghĩa
Sự tha hóa của chất giọng
Tiếng bò rống tiếng chó tru tiếng gà vịt ỏm tỏi
+
Quê hương
Ngọn đèn của tình yêu đã thắp trong tôi vài tính từ
Xanh mướt và sống động
Vài danh từ đêm đêm tôi cầu nguyện
Vài động từ im lặng  ngẫm nghĩ
+
Chỉ cần vậy sao cần nhiều hơn chất đầy mộng tưởng
Dào dạt trong tôi một dòng chảy
Quê hương bên ngoài tên gọi
Sự nhạt nhẽo lạnh giá của ao tù và rác rưởi

nếm ném

 


                                                              Nguyễn Hàn Chung

Nếm xưa vào chõng thanh lâu

Hội An má Phẩm dãi dầu chiến binh

Bảy lăm lục tặc tam bành

Còn mơ hồ tưởng cao xanh đá vàng

Ném chừ vào cõi hỗn quan

Mắt xanh mũi lõ da vàng hợp giao

Trả thù phải móc hầu bao

Còn hơn ngày chạy nháo nhào trốn quân…

Nếm xưa bậu bạn tưng bừng

Tàn đêm đắp núi đắp rừng rạch khơi

Anh hùng rơm lũ dở hơi

Cũng đòi bẻ phấn bên trời cầm gươm

Ném chừ ngọng tiếng rã riêng

Uốn môi dẻo mỏ chân kiềng sút chân

Ta  như con đĩ cù lần

Xổ đôi câu đã lòi gân  tịt ngòi

Nếm xưa con giống con nòi

Tài hoa liệng xuống căn chòi tử sinh

Tiếng loa ậm ọe vây mình

Nghe ran rát nỗi u minh lộn sòng

Ném chừ thừa mứa ngon ăn

Tủi cho đời mẹ cắn răng nhịn thèm

Bao giờ cho hết nhá nhem

Khóc to một tiếng  cười thêm một tràng

1/5/2011

Thơ ba câu

Nguyễn Hàn Chung

1
Rắc giống cỏ lông chông
Vào trong bình cứt sắt
Mà đòi nở hoa chùm!
2
Lấy tiền nhử đàn bà
Lấy đàn bà nhử đàn ông
Lấy chi nhử phường lại( cái, đực )?
3
Hèn thì sợ chết đã đành
Liều còn sợ chết
Chẳng lẽ khum thờ lũ chó chết …
4
Hốt hột phù vân làm của
Cất vào cửa nẻo phù du
Rốt cuộc xương khô không mả.

5
Cha ăn ngụy đến quắn lưỡi
Còn muốn húp thêm chút nước
Con khôn hồn thì đừng quyền.
6
Ốm không chịu tha
Già không chịu thải
Tiếc cho tuổi trẻ mù lòa.
7
Mẹ để truồng cười hả hả
Con để truồng vừa đánh vừa vả
Còn xưng xưng tự do.
8
Nhụi một cộng bông lài
Vào sâu giữa bãi phân
Mà đòi hương bất diệt!
4 /2011

Tin Văn Nghệ ở Houston Texas Hoa Kỳ

Nguyễn Hàn Chung

Chiều ngày 09/04/2011 tại tư gia Nhà văn Lương Thư Trung ở Houston Texas anh em bè bạn văn nghệ  có tổ chức một buổi tiệc trà họp mặt giới thiệu tập văn Mùa Màng Ngày Cũ do anh biên soạn .Tập sách gồm 287 trang là cả một khung trời mùa cũ của đất đồng sông nước miền Nam với lời tựa  nồng ấm cảm thấu của nhà văn Tô Thẩm Huy;’’chỉ còn cách dấn liều một cuộc tao phùng,lần dở cảo thơm mùa màng ngày cũ mà say sưa xao xuyến trước chân trời lục tỉnh đang bát ngát mở ra ,la đà sông nước.Mà dãi dầm màng mưa mùa nắng.Mà thơ thới với cỏ cây chơi đùa cùng chim cá .Mà lần theo nẻo đi lối về của cóc nhái, ếch lươn …Cái hồn ứng xử thuở dăm bảy người xưa nhảy hùm dưới rạch,xúc cá lùa tôm ,xong rủ nhau lên bờ ngồi xem dòng dọc làm tổ ….(trích ) cộng với lời Bạt chơn chất mà không kém phần chân xác  của  nhà thơ Phan Xuân Sinh :’’Chữ nghĩa bề bề của ông làm ta phải giật mình vì ông đã biết vận dụng sự hiểu biết cùng kinh nghiệm làm ruộng mấy mươi năm của mình mô tả tường tận sự việc một cách hợp lý sâu sắc.Ông không những thay mặt nông dân nói lên công việc đồng áng của họ ,mà khi ông viết về đồng quê ,ta tưởng chừng như những cộng cỏ ,con tôm ,con cá ,nó cũng nói lên được tâm tư thân phận của mình”(trích )

Trên đây là một số cảm nhận của hai nhà văn xứ Bắc và miền Trung được Mùa Màng Ngày Cũ đánh  thức than hồng  trong trái tim ly quê bén ngún  .Còn người nhà quê đích thị quê họ nói ra sao về Mùa Màng Ngày Cũ :”…Làng mạc ,ruộng đồng quê hương như đã thấm sâu trong tâm hồn ông và đâu đó luôn ẩn hiện trong những trang viết …Dù đang sinh sống tại một thành phố lớn ở Hoa Kỳ cách xa quê hương nửa vòng trái đất nhưng ông vẫn như một người nhà quê ,ông vẫn luôn tưởng nhớ về những cây cầu khỉ,về món cá lóc nướng trui và cả những câu thơ ngâm nga nơi làng quê cũ…”(Thái Lý –Châu Đốc )

Trong lúc văn đàn hải ngoại đang im ắng ,lớp trẻ lớn lên thiếu những hiểu biết về phong tục tập quán của quê nhà  dễ dẫn đến dần xa nguồn cội Mùa Màng Ngày Cũ của bác Hai Trầu (một bút hiệu khác của anh Lương Thư Trung  ) thật vô cùng  đáng quý .Xin trân trọng giới thiệu tạp ghi MÙA MÀNG NGÀY CŨ cùng bạn đọc.

Houston Texas

04/09/2011

THI CA VÀ NGHỆ THUẬT

QUỲNH  THI

NƠI  XUẤT  PHÁT  RA  THƠ .

Tứ diệu đế : Đất – Nước – Gió – Lửa , tạo nên đời sống vạn vật và con người . Nó cũng tạo nên Thơ . Tinh túy thơ từ đó phát sinh. Và con người biết khai thác , tận dụng làm sinh thú cho đời sống tinh thần của mình .

Nguyên lý của Trời đất tự bao giờ có . Chẳng ai biết , rồi nó ban phát cho muôn loài , được gọi là thiên nhiên . Sông núi hữu tình , hoa nở bốn mùa thắm xinh , khí trời nóng ấm , mát lạnh . Chất thơ mênh mang không thể thiếu hòa quyện vào đời sống , tâm hồn con người , để  con người vui sống , sinh tồn  hiện hữu và hưởng thụ  . Người ta gọi đó là nghệ thuật mà nghệ thuật là cái đẹp . Thi ca là cái đẹp . Những tác phẩm được gọi là nghệ thuật đều tỏa ra ngạt ngào vẻ đẹp .

Tứ diệu đế thăng hoa thành cái đẹp , mà con người phải tìm kiếm . Đi tìm cái đẹp , dĩ nhiên cái đẹp là một sự vật đã có sẵn . Có sẵn không phải là nó lộ diện , hiện hình , mà ta phải đi tìm kiếm . Đi tìm bằng cách sáng tác . Người sáng tác là nghệ sĩ . Nghệ sĩ tạo nặn ra , làm ra , tìm ra cái đẹp để đáp ứng , cầu toàn cái nhu cầu đời sống tâm linh . Do vậy mà người nghệ sĩ là người suốt đời đi tìm . Họ tìm trong thiên nhiên , Trời đất con người . Họ tìm nơi chính họ . Cào cấu nơi chính tư duy của họ . Họ gào thét từ niềm đau , từ trong sâu thẳm cuộc sống để làm nên nghệ thuật . Vậy thì tính chất của nghệ thuật được gạn lọc từ nơi chốn xù sì nhất , ảm đạm nhất , hoang vu nhất . Nó được lấy ra từ một hố thẳm nào thâm sâu nơi con người . Một nơi tăm tối nào từ vực  sâu , rồi người nghệ sĩ dùng tài năng , kiến thức của mình mài dũa , gột rửa , lau chùi rồi nó sẽ được ban cho một thứ ánh sáng huyền diệu  , một thứ hào quang đặc biệt nào mà người nghệ sĩ hà hơi vào , biến nó thành cái đẹp . Họ không thể dễ dàng kiếm ngay ra được một thứ vật quí hiếm , mà phải cất công đi tìm khó nhọc , có khi cái giá phải trả bằng máu hay bằng mạng sống của họ !

Chúng ta thấy người nghệ sĩ điêu khắc , từ khi nắm một vật vô tri , vô hình như thỏi đất đá , gỗ sắt , không phải anh làm chỉ ngày một ngày hai , mà nó trở thành ra pho tượng nghệ thuật theo ý mình . Người họa sĩ đứng trước một khung vải cũng phải ưu tư , tìm tòi , để kiếm ra một đường nét , một mầu sắc , một bố cục cho riêng minh . Cái bố cục và đường nét của bức tranh làm cho bức tranh độc đáo , bắt mắt người thưởng ngoạn , phải tốn biết bao lần phác họa , có khi vẽ đi vẽ lại , thử nghiệm mệt mỏi , si mê điên dại mới vừa ý . Phải tìm để mong bắt gặp một nguồn ánh sáng phép lạ nào soi chiếu vào người mẫu , vào cảnh vật hữu tình , làm hứng khởi . Vóc dáng mà anh vừa tìm thấy , hay khuôn mặt vừa bắt gặp trong trí tưởng trừu tượng hay hiện thực  mà anh cho là nghệ thuật . Ôi chao ! Bao nhiêu là khổ cực và nhẫn nại mà kể .

Nhà văn cũng vậy , khi đặt bút viết , anh ta phải suy nghĩ , ưu tư với đề tài mà mình sẽ viết ra  . Văn thể , cốt truyện , bút pháp , sao cho câu văn chữ nghĩa lôi cuốn người đọc . Anh ta phải biết gieo hạt mầm sự sống vào tác phẩm thì nó mới thật , mới linh động , lúc đó người đọc mới khám phá ra được sự diệu kỳ của văn chương . Còn người làm thơ , đi tìm tứ thơ , đi tìm ngôn ngữ , nhạc tính cho thơ . Anh ta đi tìm cái gợi hứng , cái xúc động , nguồn cảm hứng để viết nên bài thơ , mong làm rung động lòng người , là người phải sống thực trước đã . Làm thơ mà thiếu cái cảm xúc thực của đời sống , thì không thể gọi được là một thi sĩ tài năng . Bài thơ mà không rung động được  lòng người  thì chỉ là một bài thơ vô hồn , một bài thơ vô hồn là một bài thơ chết  . Nó chỉ là một cái xác chữ không hơn .

Nghệ thuật viết văn , tính chất của sự thật dù là hư cấu trong tác phẩm tự nó đã nói lên giá trị cái phẩm hàm để cảm hóa và thuyết phục người đọc . Nghệ thuật phải vượt lên cao hơn lòng thù hận . Vì lòng thù hận chỉ là cái ngã tầm thường , nó làm giảm đi cái giá trị lớn lao của văn chương , của tác phẩm . Nó là mớ bòng bong để tuyên truyền . Nội lực tài năng và bản lãnh của nhà văn là ở chỗ đó . Tư cách là ở chỗ đó .

Có không ít bài thơ mà chúng ta thấy , chữ nghĩa quá mầu mè ướt át  , hay người làm thơ  dùng chữ cầu kỳ giả tạo , cốt để làm dáng uyên bác rởm . Ý nghĩa thì vô hồn , tẻ hạt , không có tăm dáng của cảm xúc

Chúng ta nên nhớ , thơ không dựa và gối đầu lên thứ  lý trí vô tri nhạt nhẽo , mà cái nôi của thơ là chiều rộng của cảm xúc và tư tưởng . Thơ dù là thơ Tự do , thơ Đường luật , thơ tiền chiến hay thơ Tân Hình thức  ( THT ) , thơ không thể nào là một chuỗi tự sự , kể lể dài dòng , thiếu ẩn dụ gợi mở .

Thơ THT Việt thời gian gần đây sa đà vào một khuyết điểm lớn  là : kể chuyện dài dòng , lê thê .  Hơn thế nữa thơ THT lại câu nệ vào số chữ trong câu như  7 chữ  hay 8 chữ , giống và rập khuôn thơ Tiền chiến , khiến người đọc và nhất là  người  làm thơ rất khó chịu , vì sự gò bó vào số chữ qui định trong mỗi câu thơ . Nó làm mất sự tự do lẫn cảm hứng khi làm thơ.

Tuy nhiên thơ THT khác thơ  vần Tiền chiến là : nó không lệ thuộc vào vần bằng trắc nên người ta còn gọi là thơ không vần . Là thơ không vần thì chỉ loại bỏ được việc gò bó vần điệu , khỏi phải đi tìm chữ để cho đúng vần khi đi tìm ý thơ để câu thơ không bị ảnh hưởng cảm hứng . Nhưng ngược lại , THT tự sự , kể lể  như đã nói ở trên nên nó thiếu chất thơ , ít nhạc tính . Thơ THT giống như một đoản văn ngắn . Thiển nghĩ những người thích làm thơ THT Việt cần phải khắc phục để sự phát triển lâu dài và người thưởng ngoạn không bị nhàm chán .

Nên chăng , người làm thơ THT nên loại bỏ một số chữ qui định mỗi câu thơ . Nghĩa là không ấn định số chữ qui định trong mỗi câu thơ , nhưng vẫn giữ cách xuống hàng đột ngột khi câu chưa hết ý . Chúng ta có thể hiểu như là cách làm thơ Tiền chiến phá thể ?

Những người thao thức cách tân thơ , làm mới thơ , đó là  một cần thiết trong nghề thơ , trong nghệ thuật thơ . Chúng ta trân trọng những nhà thơ có tâm huyết đó . Sáng tạo có nghĩa là làm mới . Vì khi họ không làm mới được nữa , thì sáng tạo cũng không còn tiếp tục được . Lúc đó việc làm thơ cũng chỉ là một việc làm giống như loài trâu , bò nhai lại cái bã của mình và của người khác đã nhả ra .

Còn nhớ  hồi gặp nhạc sĩ Trịnh  Công Sơn lúc còn sinh tiền ở Sài Gòn , tôi hỏi . “ Sao lúc này anh  lại vẽ bộ bỏ viết nhạc rồi sao ? “ Anh trả lời .” Mình viết nhạc lúc này gặp bế tắc , nên quay sang vẽ một thời gian xem sao . “ Cách trả lời đó là lòng tự trọng và  khiêm nhường của một người nghệ sĩ lớn .

Những năm sau này âm hưởng dòng nhạc họ Trịnh lan tràn khắp nơi , khiến nhiều người viết nhạc bắt chước , nhái theo âm giai , cung điệu âm nhạc của anh . Ngay cả những người đã có tiếng tăm . Họ quên rằng mỗi người sáng tạo , tác phẩm làm ra phải có một cá tính riêng thì mới được gọi là căn cước của người nghệ sĩ ấy . Người ta không ngạc nhiên khi thấy giới sáng tác  âm nhạc Việt Nam đi thụt lùi so với giới nghệ sĩ  biểu diễn .

Nhưng làm mới nghệ thuật đến đâu ? Làm mới đến chừng nào là do tài năng của người nghệ sĩ ấy thuyết phục thì việc làm mới đó mới có ý nghĩa .

Trong ý nghĩa làm mới thơ ,  không phải cứ nghĩ ra được một thể thơ mới thì mới gọi là làm mới thơ , là Cách tân thơ . Không phải bất cứ lúc nào , hay bất cứ ai cũng có thể phát minh ra một thể thơ mới được , một trường phái mới được .

Bất luận một thể thơ nào cũng có thể làm mới . Làm mới ở đây là làm mới ngôn ngữ , làm mới thi pháp , làm mới hình thức , làm mới nội dung , ý nghĩa bài thơ .v .v . . .

THƠ  VẦN .

Lâu nay tôi làm thơ Tự do mà không làm thơ vần . Không làm thơ vần , không có nghĩa là bỏ hẳn , là đành đoạn chia tay . Lâu lâu không làm , lắm khi cũng nhớ . Như nhớ một người con gái đã xa . Đến một lúc nào ngồi buồn một mình , suy nghĩ vẩn vơ lại mong có dịp gặp lại .

Dẫu biết thơ vần như Lục bát , thơ 7 chữ hay  8 chữ Tiền chiến , nó giống như một cái hkhuôn bánh đã có sẵn . Cách làm thì giống như một thứ bột đã xay nhuyễn , nhồi bóp theo một loại công thức , rồi đổ vào khuôn , nó  sẽ cho ta một loại bánh giống nhau . Tuy vật liệu có gia giảm để làm khác đi mùi vị , nhưng hình thức cái bánh thì cùng một loại . Để tránh đi nhàm chán, người làm thơ phải biết cách tân làm mới .

Nói ngán thơ vần thì nói vậy . Nhưng tình cờ được đọc một bài thơ vần hay thì cũng rất là thú vị . Do vậy mà duyên nợ với thơ vần , không thể nào bỏ được . Lúc buồn tình cũng thỉnh thoảng ngâm nga đọc lại , rồi khi có hứng  thì cũng bằng bằng trắc trắc , tìm chữ gieo vần . Thế là ta lại tình ý với nàng vui vẻ , mà bấy lâu nay ta đã ngoảnh mặt như một kẻ phụ tình . Cứ thế cuộc đời làm thơ của tôi luôn luôn “ diễn biến một cách phức tạp “ .

Trong một bài tiểu luân về thơ trước đây tôi có viết rằng : Làm thơ Tự do . Thơ vần hay thơ THT , tùy theo thời gian hay nhu cầu cảm xúc của tâm hồn mà người làm thơ xử dụng một thể thơ nào cho phù hợp với tâm hồn cảm nhận vào thời gian lúc đó , chứ không nhất thiết là phải làm một thể thơ nào nhất định . Người làm thơ thường thay đổi tâm tánh , nghĩa là thay đổi cái tâm cảnh lúc làm thơ .

Nhà thơ Thanh Tâm Tuyền được coi như là nhà thơ Tự do . Ông là một trong những nhà thơ cách tân “ cách mạng “ nhất trong lịch sử thi ca Việt Nam . Nhưng đến khi vào tù ông lại quay sang làm thơ vần . Khi sang Mỹ ông mới cho in một tập thơ vần lấy tên là : Thơ Ở Đâu Xa  , là như vậy chứ không phải là một lý do nào khác .

Có lắm người suy luận theo ý mình và cho rằng ông làm thơ vần ở trong tù  , mục đích là cho dễ nhớ , dễ thuộc ! Hay là ông bỏ lối thơ Tự do hiện đại để quay trở lại với lối thơ cũ .

LÀM  NGHỆ  THUẬT  KHÓ  HAY  DỄ  ?

Có người hỏi tôi : Làm thơ có khó không ? Tôi xin trả lời : Bất cứ là làm việc gì , nếu không biết thì đều khó cả , huống chi là làm nghệ thuật . Làm thơ là làm nghệ thuật . Vẽ tranh là làm nghệ thuật . Viết nhạc là làm nghệ thuật . Nhưng làm nghệ thuật phải cho ra là làm nghệ thuật , nghĩa là phải vẽ cho đẹp , viết cho hay . Làm nghệ thuật  như thế thì khó . Rất khó . Còn nếu làm dở , thì dễ ẹc . Vì nó đâu phải là nghệ thuật !

Thế nào là thơ dở ? Thơ dở trước tiên là một bài thơ không có hồn . Đọc lên không gây được cảm xúc . Nó bắt chước , rập khuôn , vần vè . Thứ thơ ghép chữ dễ dãi . Nó chắp  vá  những từ ngữ  sáo mòn cũ rích với nhau sao cho có vần để người  nghe được xuôi tai , câu trên khớp với câu dưới về bằng trắc , mà không cần  một cảm xúc nào , một ý tưởng nào .

Còn thế nào là một bài thơ hay thì cũng khó nói , nó tùy cảm nhận nơi người đọc . Nhưng theo tôi , trước hết muốn làm được một bài thơ hay thì bài thơ đó phải đánh động được lòng người . Khi mình đọc bài thơ đó lên , bài thơ phải gây được xúc dộng , xúc động trong cảm xúc , vì người làm thơ có nhận được  cảm xúc  thì khi viết ra mới làm xúc động lòng người . Đánh đánh động trái tim người thưởng ngoạn . Nói tóm lại người thi sĩ càng nhận được nhiều cảm xúc nghĩa là họ đặt cả tâm hồn mình vào được bài thơ , thì người đọc càng xúc động . Thế là một bài thơ có thể gọi được là hay . Tuy nhiên để gây được xúc động lòng người , nó còn phải hội đủ nhiều điều kiện khác như , ý tưởng , ngôn ngữ , thi pháp , lý luận  .v.v. . . Nói chung , muốn làm được một bài thơ hay , thì người thi sĩ phải có năng khiếu , tài năng và nghiêm túc trong cách làm . Nghĩa là anh ta không được phép dễ dãi với chính mình . Không được theo đuôi hay bắt chước phong trào nhất thời của quần chúng .

Sự dễ dãi làm thơ ở đây là cái hời hợt , cái lười biếng trong suy nghĩ của một người làm nghệ thuật thiếu tài năng , một người nghệ sĩ không chịu học hỏi . Đã là người nghệ sĩ tài năng , thì người nghệ sĩ đó phải chịu khó học hỏi suốt đời . Có học hỏi thì mới có sáng tạo . Sáng tạo ở đây là sáng tạo nên cái mới , cái tự mình nghĩ ra , tự mình làm ra , không giống những cái đã có ,  của những người đi trước . Nói như thế , không phải là chúng ta gạt bỏ không biết trân quí , gìn giữ những kinh nghiệm quí giá mà người xưa để lại .

Cái nguồn cảm hứng của một người có tài năng , là họ biết học tập cái ý tưởng của những danh nhân bằng cách đọc sách hay nghiên cứu tìm tòi nghệ thuật trong thiên nhiên vũ trụ . Trong cái khuôn mẫu Thượng đế ưu ái dành cho con người , mà kinh nhà Phật gọi là Tứ diệu đế : Gió – Lửa – Nước – Đất  đã có sẵn , như đã nói ở trên . Có như thế thì ta mới hiểu được sự mầu nhiệm của nghệ thuật . Nó là phần cứu cánh của tâm linh con người . Đó cũng là ý nghĩa sống của người văn nghệ sĩ trong  các môn nghệ thuật .

Nghệ thuật còn là sự nhạy bén và chắt lọc những suy tưởng triết lý và văn học trong đó : nghệ thuật nghe , nghệ thuật nhìn và nghệ thuật ẩm thực . Tất cả đều là một thứ nghệ thuật sống . Đó là văn học , là linh hồn của loài người . Thứ tinh thần không thể thiếu , và tốt đẹp không gì sánh nổi .

Trong các loại hình nghệ thuật , thi ca là vị vua , là vương  giả của các loại hình nghệ thuật  . Vì  thi ca là linh hồn cái đẹp của những cái đẹp . Nó là tiếng nói của ngợi ca . Chỉ có con người mới  nhận thức được thi ca và biết dùng thi ca để ca ngợi sự vật  , ca ngợi con người . Sự thanh khiết đó làm chuyển hóa vũ trụ và nó cũng dùng để làm thăng hoa con người . Trong muôn vàn cái đẹp của sự thăng hoa , thì  Mỹ nhân là sự tột cùng trong hết thảy cái  đẹp đê thi ca ngợi khen .

Ở đây chúng ta đang thảo luận về nghệ thuật thi ca . Về một người làm thơ và cái khó hay dễ trong việc làm thơ . Cái đề tài về thơ thì thật là đa dạng , thú vị và được nhiều nhà phê bình nói đến . Vì ở nước ta rất nhiều người thích làm thơ , nhưng lại rất ít người am hiểu về thơ , họ coi thơ chỉ là thứ gì dễ tiêu khiển , là một nghệ thuật  dân gian tầm thường  . Những người  ít học những nông dân hay ngay cả đứa trẻ chăn trâu chăn bò , cũng có thể biết làm thơ , dù chỉ là vọc vạch vần vè . Nhưng để phân biệt được thơ hay vần vè thì họ lại không phân biệt được . Nghĩa là họ làm thơ theo một thứ quán tính nào đó đã có từ thủa ấu thơ .

Trong văn học Việt Nam , những nhà thơ có thực tài để chọn lọc ra được những bài thơ hay thì  không nhiều so với số lượng người làm thơ rất đông .

Làm được thơ hay để được công nhận là một nhà thơ , không phải người làm thơ nào cũng có thể đạt được . Trước hết vị đó phải là một người có năng khiếu bẩm sinh , phải là người có học vấn , có kiến thức  rộng  , là người có tâm cơ , có tấm lòng nhân ái đối với tha nhân và sau hết phải là người yêu thơ , đến sống chết với thơ trong mọi hoàn cảnh . Thì đó mới gọi được là một nhà thơ có thực tài . Xứng đáng được người đời tôn vinh là thi sĩ .

SÁNG   TẠO  VÀ  NGHỆ  THUẬT .

Sáng tạo là tự mình nghĩ ra , tự mình làm ra , như đã dẫn ở trên . Đó là những người làm nghệ  thuật .

Người sáng tạo thơ nhìn sự vật bằng trực giác , bằng sự đơn sơ tự nhiên như những bông hoa ,  đến độ thì nở ra , như khói sương u trầm đỉnh núi . Nó tự nhiên như nhiên , giống nụ cười của bé thơ .  Người sáng tạo không biết lý luận và giải thích bằng lý trí khi anh  ta , chị ta đang sáng tác . Lúc mà họ chỉ còn nỗi đam mê tột cùng , say đắm tột cùng . Nhà thơ lúc đó chỉ biết viết ra những gì vừa nảy sinh , trong phút giây linh diệu . Nỗi ngẫu hứng tuôn trào cuồn cuộn thác đổ , như một làn khói xanh , bềnh bồng như áng mây đang bay lượn vô tận trên trời . Những câu thơ  , chữ nghĩa tượng hình trong tâm hồn người thi sĩ lúc đó hầu như bất diệt . Nó hiện ra , tuôn ra , tuôn trào khí phách không sao kìm giữ được . Lúc đó không có luật tắc , không có lý luận , chỉ có nỗi cô đơn thăm thẳm trong phút giây linh hiện ở trạng thái ngây ngất , say mê , dồn dập và ngông cuồng . Bởi chàng đang được uống một thứ rượu hạnh phúc tuyệt vời  , không gì sánh được của trần gian

Người làm thơ trực nhận sự vật , nên thở ra cái vừa lĩnh hội đã trực nhận . Cái mơ hồ lãng đãng kết nên một chữ , một câu , một đoạn . Trong khoảng không trừu tượng , nhiều khi lại đầy ắp tất cả . Nó chỉ muốn trào ra , phọt ra , chỉ muốn ban phát thứ gì đẹp nhất , thơ mộng nhất cho người vừa thụ nhận  sự kết tụ , để họ viết ra cái nóng hổi từ con chữ được nâng nưu trân quí , mà thi sĩ gọi là thơ . Phút trừu tượng ấy hiện ra ở trong đầu  rồi tỏa ra bát ngát ở trước mặt , ở chung quanh . Nó là một thực tại để sống , để bay lượn hiện hình . Nó đã trở nên một hiện thực sự thật , không còn là những hiện tượng vô hình . Nó là nguyên nhân làm nên người thi sĩ lúc bấy giờ , chứ tuyệt nhiên con người không thể nào làm nên hay tạo dựng nên thi sĩ . Cái thơ mộng không thể nào làm nên bằng lý trí được . Mà thơ mộng lại là cái chất của thi sĩ . Bởi tâm hồn của hắn được nuôi dưỡng bằng mật ong tình yêu . Bằng cỏ cây hoa lá , núi rừng và biển hồ , bằng khung trời lồng lộng . Và hơn thế nữa bằng sự tự do tuyệt đối ! Tâm hồn ấy cũng được tạo thành bằng những âm thanh , bằng tiếng chim ca , tiếng suối reo , được hòa nhập vào cái đẹp của đất trời . Do vậy mà thi ca đã trở thành nghệ thuật làm đẹp cuộc đời . Chả thế mà nhà văn Dostoiepki của Liên Xô đã nói : “ Cái đẹp cứu chuộc thế giới “ .

Những câu thơ hay đã làm rung động lòng người , mà người thi sĩ là tác nhân làm cho thiên nhiên có nhiều sức sống hơn , sinh động hơn và đẹp đẽ hơn . Một đặc điểm nữa trong việc làm thơ là sự nhìn thấy . Nhìn thấy những gì ẩn náu trong sự vật , làm cho sự vật hiện hữu hơn , hiện thực hơn , bát ngát hơn trong cõi thường hằng của sự suy tưởng . Nó tạo nên sự rung động sự vật cả ngoài hiện thể . Những câu thơ do vậy mà người xưa thường xuất khẩu thành chương , trong lúc cao hứng ngâm vịnh . Cái nhìn xuyên suốt không phải lúc nào cũng được xuất hiện . Nó chỉ ban phát cho người có một  tâm hồn lớn lao , cho người có thực tài soi rọi những tâm lực yêu thương vào trong cuộc sống .

Làm thơ cũng giống như yêu . Trong lòng cảm thấy thiết tha mãi , bâng khuâng mãi . Lúc nào tứ thơ cũng hiện hình như nhìn thấy người mình yêu ở trong sâu thẳm nhất , mênh mông nhất , dù người yêu ở nơi chốn nào không hiện diện . Ngay cả khi nhà thơ đang ngủ , hình ảnh cũng hiện về mê say . Tình yêu có khác chăng chỉ là sự nhớ thương . Vậy thì . Tình yêu là sự nhớ thương . Bởi hai người yêu nhau lúc nào họ cũng chỉ muốn sống bên cạnh người mình yêu , cho bớt nhớ thương ! Nên xúc động của những người yêu nhau và thi sĩ thì cùng một tầng số .

LÀM  THƠ  VÀ  TÌM  HIỂU  THƠ .

Hiểu về thơ đã , rồi mới làm thơ , hay làm thơ rồi mới tìm hiểu về thơ ?

Thường thì người ta làm thơ rồi mới tìm hiểu về thơ , đó là phần đông ở Việt Nam chúng ta . Nó không giống những nước phương Tây khác là , họ tìm hiểu về thơ rồi , biết thơ là gì rồi , họ mới làm thơ . Nghĩa là họ phải được học thi ca ( poestry ) ở trường lớp trước khi họ cầm bút làm thơ . Do vậy thường những nhà thơ của họ là những người có học thức uyên bác , có năng khiếu , là những người có  tài năng thực sự . Ngay cả những vị vua chúa thời xa xưa cũng rất trọng vọng nhà thơ , thi sĩ tài năng được mời vào cung đình để đọc thơ cho vua chúa và các quan  chức nghe Thời nay nhà thơ ở phương Tây vẫn còn được mọi người kính trọng . Thơ được mọi thức giả xem ngang hàng với Kinh Thánh . Được đọc vào những ngày lễ trọng đại của Quốc gia .

Làm thơ rồi mới tìm hiểu về thơ . Chẳng là chúng ta  nghe ca dao từ hồi nằm nôi . Bà ru , mẹ ru , chị ru . Thứ âm nhạc vần điệu nhịp nhàng , êm như gió thoảng , “ ngọt như đường cát mát như đường phèn “ , thấm nhuần trong dòng nước thánh tuổi thơ . Chả thế mà nó làm dịu đi niềm đau ngay lúc đứa trẻ mới chào đời . Lúc mà mẹ đi chợ xa chưa về kịp , lúc mà mẹ còn đang nhọc nhằn tỉa bắp trồng khoai ngoài đồng ruộng chưa về , lúc mẹ còn phải tảo tần buôn bán ngoài chợ . Niềm đau bé thơ là đói khát , hay khi trái gió trở trời . Những trận ban nóng ngút trời mà mẹ không biết làm sao để dỗ dành cho con nín , con ngủ , lúc đó thì câu ca dao của mẹ , của chị cất lên theo tiếng à ơi , vỗ về tâm hồn non nớt của con , của em . Và thế là thơ đã đưa con , đưa em đi vào giấc ngủ , vào cõi mộng mơ đầu đời . Thơ ca dao lúc đó là một phép lạ nhiệm mầu đi vào tiềm thức tuổi thơ , vỗ về tinh thần con trẻ , dỗ cho con trẻ khỏi khóc , dỗ cho con cười . Ca dao thần tiên hòa vào dòng sữa ngọt từ lúc con người vừa lọt lòng mẹ .

Và như thế , ca dao , câu hò ở nông thôn đã là bản sắc cho con người Việt Nam ngay từ thủa sơ sinh cho đến khi khôn lớn . Lúc biết đọc biết viết thì cái hồn thơ nó đã nằm sẵn nơi tình cảm con người , nó mai phục một cách tự nhiên , một cách không có ý thức nơi con người . Vậy những câu ca dao đầu đời là gì ? Đó là những dòng thơ lục bát , những câu thơ lấy trong kinh nghiệm đời sống nghệ thuật dân gian thường ngày . Cái đời sống ấy thế mà nó có tác dụng giáo dục con người , bởi thời xa xưa hay cận đại , mấy gia đình nghèo có tiền cho con đến trường đi học . Phải là những gia đình giàu có hay con nhà khá giả mới có tiền cho con đến thày Đồ học lấy dăm ba chữ Thánh hiền . Đa số những con nhà dân giả chỉ biết dạy con học đạo làm người bằng lời khuyên , bằng gương sáng của người  xưa và bằng ca dao tục ngữ , bằng câu hát , câu hò

Những câu ca dao như : Công cha như núi Thái sơn – Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra . Hay , Có công mài sắt có ngày nên kim . Hay  , Không thày đố mày làm nên .v .v . . . không biết có từ  bao giờ . Có lẽ nó nó được lưu truyền từ lâu lắm . Nó có từ hàng ngàn năm rồi cũng nên . Cho nên người có học hay người không có học cũng biết thế nào là ca dao , tục ngữ và nôm na họ gọi đó là thơ . Đến khi có dịp ngẫu hứng , hay lúc “ tức cảnh sinh tình “ , thì người có năng khiếu , cứ theo vần bằng trắc mà làm thơ . Lúc đầu thì vò vẽ bằng trắc sao cho ăn khớp với nhau nhịp nhàng . Cứ câu trên bằng thì câu dưới trắc , theo mẫu ca dao đã có sẵn , chẳng cần biết thế nào là niêm luật . Còn hiểu thế nào là một bài thơ thất ngôn , ngũ ngôn hay lục bát thì rồi dần dà sẽ biết sau . Do vậy số  rất đông người Việt Nam  làm thơ vì đã được thấm nhuần ca dao mẹ từ trong máu thịt .

LÀM  THƠ  TÌNH .

Những người mới bắt đầu học làm thơ , thường thì họ hay làm thơ tình . Có phải làm thơ tình dễ làm không ? Có thể . Khi đến tuổi dậy thì , trai gái yêu nhau muốn tỏ tình , ai mà không e thẹn run rẩy khi gặp cái người mà mình để ý , cái người làm mình sợ hãi . Cái người lỡ làm mình thương trộm nhớ thầm .  Nhưng biết thố lộ cùng ai ? Thôi thì  ta làm ít câu thơ cho đỡ sầu “ vạn cổ “ rồi lén đem trao nàng vậy ! Nếu sợ quá không biết nhờ cậy ai hay không dám đưa trao  , thì đành bạo gan đánh liều chứ biết làm sao , thôi thì ta  lén  bỏ trộm bài thơ vào cặp của nàng lúc giờ nàng  ra chơi !

Tình yêu là mục đích và cứu cánh của con người đi vào đời sống . Vậy thì tình yêu là ý nghĩa của cuộc sống . Là nhu cầu cần thiết mà ai cũng phải khát khao . Một nhu cầu tâm linh cần được nuôi dưỡng để vượt thoát đớn đau tìm về cội nguồn hạnh phúc . Nó đương nhiên lớn lên theo sự phát triển thể chất và tinh thần , bởi nó muốn vượt thoát cô đơn , nó muốn được ve vuốt , mơn trớn không những của người thân  yêu cốt nhục của mình , mà của cả tha nhân đồng loại . Đến một lúc nào đó , một phút giây nào đó nó muốn yêu thương và muốn được yêu thương . Tình yêu đến với con người ngay trước khi con người ý thức được về tình yêu . Nó đương nhiên như một nhu cầu sinh lý của đời sống .

Cái sinh linh khi còn nằm trong bụng mẹ , lớn dần lên với tình mẫu tử cho đến khi nó ra đời , cái nhu cầu yêu thương ấy đã được ôm ấp nâng niu và được bảo vệ không ai có thể tách rời được tình yêu thương mẹ con . Cho đến tuổi thành niên , tình thương từ cha mẹ , anh em , chuyển sang một thứ tình yêu thương khác là tình yêu trai gái . Thế là những vần thơ khóc gió thương mây thành hình . Lúc đó đôi mắt của họ dõi theo một bóng hình nào mà họ thấy bâng khuâng , rung động rôi tương tư không phút nào nguôi . Những vần thơ tương tư đó bật ra , bởi một con tim đau khổ và sung sướng . Thơ bắt đầu đến với người muốn làm thơ từ đó .

THƠ  VÀ  ĐẠO .

Tiến trình diễn tiến theo thời gian , người làm thơ bắt đầu làm thơ tình , nay đã có nhiều suy tư hơn , nhiều niềm đau hơn và nhiều kinh nghiệm hơn , tự nó dần chuyển sang một trạng thái suy tư về cuộc sống , về kiếp nhân sinh . Cái đòi hỏi đương nhiên của con người , đi từ tình yêu trai gái , tình thương ruột thịt tới một đời sống trọn vẹn hơn đó là một nhu cầu . Và bên kia cái đời sống đang cần , đi tìm câu trả lời và lý giải là một mong muốn cấp bách , bao la như một bầu trời . Con người cứ thắc mắc , cứ ưu tư , cứ đòi hỏi , mà nhu cầu trả lời về kiếp nhân sinh , cái kiếp cụ thể mà mình đang sống , thì không sao thỏa mãn được . Rất giới hạn . Con người càng lý giải và càng tìm cách trả lời thì những thắc mắc , những vấn nạn càng gia tăng . Càng lúc câu hỏi càng hóc búa , cho đến ngày nhắm mắt xuôi tay cũng không thể trả lời thỏa đáng được . Vậy thì chỉ có thi ca chỉ có thơ , may ra mới giải quyết được phần nào cái vấn nạn , cái lý giải của sự tồn sinh của con người , mà mọi triết lý , mọi tư tưởng , văn chương , các loại hình nghệ thuật , hay khoa học trên trần gian này , xem ra bất lực ! Tựu trung chỉ còn lại là một nguồn rung động là Thơ và Đạo ( đạo lý làm người ) . Tiếng hát bâng khuâng của ngàn năm với thiên nhiên mưa nắng làm hạnh phúc cho đời sống tâm linh con người .

KẾT  LUẬN

Thơ bắt đầu tri kỷ với con người như thế và kết thúc với tri kỷcủa nó là như thế . Cái học của người làm thơ , hay cái học vấn của con người  nói chung . Cái cốt lõi không hẳn là tri thức , là kiến thức mà là cái đạo lý làm người .

Cái đạo lý làm người mới xem qua thì thấy dễ học hơn  là cái kiến thức chuyên môn về kỹ thuật của ngành học . Vì muốn nhận được sự  hiểu biết có tri thức  thì phải đến trường , đến lớp để học tập . Phải có điều kiện về tài chánh tiền bạc , sức khỏe .

Còn cái đạo lý học làm người thì ai cũng có thể học được , không cần phải đến trường lớp . Nhưng  để tiếp thu được cái đạo đức làm người đó . Thì lại rất là khó khăn . Nhiều người học hành đã thành đạt , làm ông nọ bà kia , tiền bạc dư giả , giầu có . Nhưng cái đạo lý làm người . Học không cần phải tốn tiền , thì chưa học được . Có khi đến hết đời , người đó vẫn trơ tráo làm một kẻ bất nhân !

Cái loại bất nhân có học thức lại còn gây nguy hiểm hơn loại bất nhân không có học . Suy cho cùng , cái đạo lý làm người cũng xuất phát từ lòng yêu thương con người mà ra . Nếu không có tình yêu thương thì sẽ không nẩy mầm ra được đạo lý , sẽ không hiểu được  cách làm một con người cho ra một con người , sẽ không hiểu được sự cao quí của con người hơn những sinh vật nào khác .

Cách thể hiện lương tri đành rằng là do sự giáo dục , là do được giáo dục . Nhưng cái đạo lý và kiến thức phải đi song hành thì mới trọn vẹn . Bằng không thì cách chọn lựa , làm một con người có đạo đức vẫn xứng đáng hơn , làm người hơn ,  là làm một người có bằng cấp , có học vấn mà không có đạo đức . Vì đạo đức làm người là một hành vi của một tinh thần cao thượng . Đời sống vật chất ta có , nó phải gắn liền với đời sống tinh thần cao cả , thì mới gọi được là một đời sống con người đầy đủ . Đời sống đầy đủ vật chất và tinh thần là một là như vậy .

Thơ và đạo bao gồm là nghệ thuật . Nghệ thuật hay cái đẹp CHUYỂN  HÓA  Thế Giới ./

QUỲNH  THI

Nhà thơ Nguyễn Hàn Chung và bản thảo “Nghịch Lưu Của Tuổi”

Hai Trầu

HT:

Mến chào nhà thơ Nguyễn Hàn Chung,

Như bìa sau thi phẩm “Nghịch Lưu Của Tuổi”, có ghi :

Nguyễn Hàn Chung

Sinh quán  Điện Bàn –Quảng Nam

Tác phẩm đã xuât bản :

Tim tôi trong bóng (thơ) 1999

Nói hộ phù du  (thơ ) 2002

Nghịch lưu của tuổi (thơ) 2011″

Anh bắt đầu mê thơ từ lúc nào ? và anh có thể kể cho nghe về hai thi phẩm “Tìm Tôi Trong Bóng” (1999) và “Nói Hộ Phù Du” (2002), nội dung cùng sự ra đời của nó, thưa anh ?

NHC:

Rất cám ơn sự quan hoài của anh Hai Trầu khi đọc “Nghịch lưu của tuổi”. Nguyễn Hàn Chung đến với cõi thơ từ khoảng đệ thất, đệ lục ( khoảng đầu thập niên sáu mươi) lúc bắt đầu trổ mòi ”Đứng ngẩn trông vời áo tiểu thư” .Bắt chước các bậc đàn anh xứ Quảng  như Hoàng Thị Bích Ni , Đynh Trầm Ca, Nguyễn Nho Sa Mạc,Nguyễn Nho Nhượn, NHC cũng vần vè đôi bài cỡ như “Thuở nhỏ ôm một cây hùng khí-Bây giờ nghĩ lại thấy ương ương-Đời loạn mà không mần tráng sĩ- Cũng chả xài đến gã văn chương -Thì thôi vỗ bung mà ca hát …Say khước nằm lăn…” Thế thôi , ca vung hào sảng cho vui có nghĩ cái nghiệp thơ nó ám  miết âm hồn bất tán vào mình cả đời đâu. Thôi kệ rứa mà vui mà có bạn bầu tứ xứ.

Tập thơ đầu tay “Tìm tôi trong bóng” (1999)  tập hợp những bài thơ viết sau 1975 chât chứa nhiều trăn trở tìm sâu bản lai chân diện mục của mình với những nghịch âm,nghịch cảm trong cuộc Đánh cờ một mình.Tập thơ thứ hai ‘’Nói hộ phù du’’ (2002)  lại mở ra một hướng khác : Nói hộ cho những nỗi đời bà mẹ núi,ông lão bị lũ con cướp đất,người phu xe thổ mộ ngơ ngác giữa phố,anh kép diễn hài trong lúc cha đang hấp hối …Nói chung nói về thơ mình thì hơi khó .Anh có thể đọc bài viết sau đây của Liêu Thái(*)

(*”Nói hộ phù du-Cảm thức tro bụi và ý thức bền bĩ về tính hữu hạn tồi sinh” của Liêu Thái, Phần Phụ lục trang 136-….)

HT:

Anh Nguyễn Hàn Chung,

Theo giới thiệu của anh về bài viết ” Nói hộ phù du – Cảm thức tro bụi và ý thức bền bĩ về tính hữu hạn tồn sinh” của Liêu Thái, tôi thấy tác giả lưu ý đến khía cạnh cách tân trong thơ anh, nguyên văn:“Dường như đến đây, ý thức cách tân về hình thức lẫn nội dung trong thơ Nguyễn Hàn Chung đã bắt đầu hé lộ – một sự hé lộ hàm ẩn nhiều hệ lụy cho kẻ trót đa man với con chữ, dự báo một nỗi cô đơn rình rập…” Và  tác giả kết:”Anh đã để lại cho bạn đọc quê nhà một hình ảnh đẹp về người nghệ sĩ – nhà giáo tóc muối tiêu có đôi mắt sâu thẳm, ánh nhìn tinh nghịch và nhân hậu luôn quắt quay thoát khỏi những ràng buộc của sáo mòn để tìm đến không gian mới của sáng tạo. “

Điều đó có thật vậy không? Và nếu có, anh có thể chia sẻ một chút về việc “cách tân” trong thơ anh ?

NHC:

Có thật không hả anh Hai ? Thì nó cũng hàm hỗn như thơ vậy, thật mà hư ,hư mà thật,cũng chả có cách tân cách cổ gì ghê gớm đâu chỉ là đổi mới tư thế làm…thơ cho nó sướng lên thôi chứ  cứ bưởi bòng rạ rơm vần vần vè vè đàng điệu  nó có vẻ giả giả thế nào ấy . Chính bản thân người viết đã chán ngấy thơ mình huống hồ …Cũng phải nói thêm điều này một chút .Cách đây chừng hơn hai mươi năm lúc NHC còn chưa bỏ xứ viết cái gì cũng sợ bị quy chụp như cái đận bài thơ Đánh cờ một mình bị truy tung đến điêu đứng nên sau này phải ẩn điều muốn hiển lộ dười tầng tầng bóng chữ kiểu ai hiểu chết liền nếu có kêu lên gọi xuống  hạch hỏi còn có cái để đốp chát:Bây giờ các cây bút hậu hiện đại cách tân đên mút chỉ  làm NHC cảm thấy thơ mình còn quê một cục  chẳng qua Liêu Thái dùng lối nói  khoa trương  cho NHC uống đường ăn mật đó thôi…

HT:

Anh Nguyễn Hàn Chung,

Không có lửa làm sao có khói, phải không anh ? Và có “cách tân” hay không ở thơ anh như Liêu Thái nhận định chắc người đọc cũng đã thấy rồi, nhưng có điều này, anh còn nhớ những bài thơ cũ một thời của anh không ? Hy vọng anh cho bạn đọc nghe lại chút hương xưa một thời qua những vần thơ cũ ấy, anh Nguyễn Hàn Chung ? .

NHC:

Kính anh Hai Trầu!

Vâng ,thưa anh .Có bạn văn khi đọc  Nghịch lưu của tuổi có comment với tác giả là trong tập thơ hầu như không có thơ tình .Quả vậy NHC cũng không biết tại làm sao mình  không thể …Thôi thì nhân anh nhắc ,NHC chép lại một  vài đoạn  thơ tình tang tình  gửi tặng anh cùng bạn đọc gọi là bổ sung vào phần khiếm khuyết :

”Nhà vắng lục tìm sách cũ
Lạc vào một cõi em xưa
Những lá thư vàng ố chữ
Lời yêu khi tỏ khi mờ…

Cổng trường Văn khoa quá chật
Anh đi kiếm lá mỏi mòn
Mối tình đầu như đốm lửa
Mỗi khi lòng không củi nhen…

Và nhớ những ngày mưa Huế
Thu lu quán xếp bên trường
Sóng sóng trăm tà áo trắng
Anh vẫn nhìn ra mắt em…”’

Tiếng vợ nựng con bên cửa
Anh biết giấu em vào đâu
Nào bướm nào hoa nào tóc
Anh còn nâng níu trên tay…
(
Ký ức đầu)

“Nửa đi là mất nữa rồi
Nửa vể, câm, một nửa vùi trong đau
Nửa trời cho dễ nữa đâu
Nửa rưng rức sóng chân cầu nửa em

Nửa chiều nửa sáng nửa đêm
Nửa xanh biếc rụng nửa mềm môi khô
Anh còn có nửa chi mô
Nửa em giàn giụa tan bờ nửa anh

(Nửa)

‘Biết rồi sẽ chuốc đa đoan
Mà không ngăn nổi quáng quàng đường say
Lâu rồi cứ tưởng ,ô hay
Trái tim ta cũng bàn tay ai cầm
Mây bời bời cỏ rối câm
Thời gian vò sợi tóc xanh trắng mù
Hôn liều lên chúm chím thu
Bờ môi như sóng nhiễm từ xa xăm

Giá trời bỏ quách tháng năm
Tôi hao khuyết hết trăng rằm cho em

(Tuổi tình )

Những đoạn trích trên từ hai tập thơ ”Tìm tôi trong bóng” và ”Nói hộ phù du “. Anh thấy có ”mềm ”hơn thơ trong NLCT không anh ?

HT:

Anh Nguyễn Hàn Chung,

Giờ xin bắt đầu với “Nghịch Lưu Của Tuổi” của anh . Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, quyển 1, trang 172 :  “Mùa đông, tháng 11, Lý Nguyên Gia thấy trước cửa thành có nước chảy ngược, sợ trong châu nhiều người sinh lòng làm phản, vì thế dời đóng ở thành ngày nay (Bấy giờ Nguyên Gia dời phủ trị đến sông Tô Lịch, mới đấp thành nhỏ thôi, có người thầy xem đất bảo rằng : Sức ông không đấp nổi thành lớn, độ năm mươi năm nữa về sau tất có người họ Cao đến đây  đóng đô dựng phủ …”(*) Như vậy “nước chảy ngược”, theo anh có phải là “nghịch lưu” không ? Và sao anh lại chọn bốn chữ  “Nghịch Lưu Của Tuổi” làm cái tựa cho thi phẩm  lần này, thưa anh ?

————–

(*) Toàn Thư theo An Nam kỷ yếu . Lý Nguyên Gia sở dĩ xin dời phủ thành là vì thấy ở phía trước cửa thành có nước chảy ngược – tức là nước sông Tô Lịch, bấy giờ còn là phân lưu của sông Hồng, nên nước chảy từ sông Hồng ngược lên.

NHC:

Lương tiên sinh quả thật là đại hành gia trong lĩnh vực truy nguyên nhưng NHC không thể trả lời câu hỏi nầy của anh Hai được đâu .Trúng thì không sao chứ sai thì chết bỏ xừ .Có điều khi chon bốn chữ Nghịch lưu của tuổi làm tiêu đề cho tập thơ NHC cũng có chút hàm ý. Thông thường theo hành trạng xuất xử của người xưa ”Thiếu tiểu ly gia lão đại hồi-Hương âm vô cải mấn mao tồi -Tạm dịch : Lúc trẻ bỏ xứ ra đi lúc già mới trở về -Tóc râu đều bac cả  mà giọng quê không đổi (Hạ Tri Chương). NHC đi ngược với cái trình tự kinh điển ấy .Gần sáu mươi năm quẩn quanh đi học rồi làm nghề gõ đầu trẻ ở một xó xỉnh quê nhà Quảng Nam -Đà Nẵng bây giờ già khèn trí cùn lực đoản ”bách niên đa bệnh độc đăng đài” còn bán mạng ly gia  hành cu li đất khách  phải quên cái hương âm uốn môi , uốn lợi học tiếng nước người nên liều mạng đặt tên tập thơ để đánh dấu một chặng cuối đường lưu lạc . Thế thôi chẳng có ý tứ mới lạ gì đâu anh ạ!

HT:

Anh Nguyền Hàn Chung,

Cảm ơn anh . Vừa rồi anh có nhắc “hành cu li”, tôi tò mò tìm trong tập bản thảo

bài “hành cu li ca”nơi trang 10, làm tại Louisiana với tứ thơ mang nhiều chua xót, đắng cay ; mỗi chặng dừng chân của Nguyễn Hàn Chung là mỗi vết cắt dù qua lâu rồi nhưng vẫn còn ê ẩm, khó lành. Nhưng câu cuối “Mây nước trùng trùng  thề không trắng tay…”, lại là dấu hiệu của một quyết chí . Có phải Louisiana lại là một bến bờ nào nữa mà anh đã dừng lại trên dòng đời lưu lạc này ? Và nay, anh có thêm được gì trong tay sau bao năm mải miết trong dòng đời này hay chỉ mới là”Nghịch Lưu Của Tuổi” không thôi, thưa anh ?

NHC:

Anh Hai ơi!

Phải nói Ông Hai Trầu và gã ‘’trai già Quảng Nam’’nầy có mối ‘’đồng thị thiên nhai ‘’  sao đó nên trong cả tập hơn bảy chục bài mà anh lại tò mò đọc hơi bị kỹ bài hành cu li ca lại đặc biệt chú ý tới câu cuối cùng ‘’Mây nước trùng trùng thề không trắng tay’’ tiếp theo là địa danh  Louisiana không ngày tháng. Con mắt  ‘’thấu thị xuyên tầng’’ của anh Hai chiếu như muốn thấu tâm can tỳ phế  tác giả.Thật ra không có thề thốt gì lắm đâu anh  . Anh biết bài hành cu li ca  NHC sáng tác trong hoàn cảnh nào không?Trên chiếc tàu casino ở Louisiana đó. Nướng hết chút tiền còm dành dụm trong trò đen đỏ rồi ra đứng trước boong tàu nhìn mây trắng sóng xanh đất khách tự thề với mình hành cu li kiếm sống để viết cái gì đó cho mai hậu chứ không phải để lao vào cái trò bác thằng bần như bao bậc tiền nhân tán gia bại sản trên đất Mỹ nầy.Thế thôi anh ạ!

Còn anh hỏi ngoài NLCT, NHC còn có những gì sau bao năm mải miết không?Còn chứ anh, NHC còn viết một tập cảm , bình từ những ngày còn ở trong nước khoảng 40 bài thơ theo chủ quan tác giả là sướng ,là tới bởi có cái để mà ngẫm ngợi .Các tác giả bị NHC chọn là bất kỳ không nhất thiết phải là nhà thơ có tên tuổi.Chỉ khoái là chọn là bình thôi.Hy vọng trong năm 2012 NHC sẽ trình làng tập bình có cái tiêu đề ‘’Thầm thức cùng thơ ‘’ sau khi  khoái thêm vài mươi bài nửa .

HT:

Thưa anh Nguyễn Hàn Chung,

Bài thơ “Bí ẩn tháng giêng”(*) mở đầu thi tập “Nghịch Lưu Của Tuổi”, với đoạn thứ nhì:

“……

Tháng giêng tàng trữ mầm xanh lao lực trong

bụi bặm

ẩn nhẫn chờ đợi một ngày  ấm áp

giống như chu kỳ của người đàn bà hoài thai

cánh đồng

tháng giêng tạm trú vào đàn bướm tơ sắp đến

kỳ sinh nở

mặc những cơn gió ganh tị chỉ chực len vào cội hoa ức hiếp … “

(NLCT, trang 5 và 6)

Trong một bài viết của nhà thơ Quỳnh Thi về tập thơ này với tựa đề :”Một số suy nghĩ về thi tập Nghịch Lưu Của Tuổi đăng trên Talawas Blog, ngày 25 tháng 10 năm 2010, tác giả viết :

“Bài “Bí mật tháng Giêng” có những câu “Bí ẩn của tháng Giêng cũng là bí ẩn của những điều không thể nói ra”, “Mặc những cơn gió ganh tỵ chỉ chực len vào cội hoa ức hiếp”. Trong câu thơ trên, chúng ta thấy Nguyễn Hàn Chung dùng nhóm chữ “Những cơn gió ganh tỵ” một cách tài tình. Chẳng rõ “cơn gió ganh tỵ” là cơn gió gì; liệu đó có phải là một ám chỉ cho “Bí mật tháng Giêng” không? Rồi còn “Con bướm khấp khởi đôi cánh mỏng – nương nhờ chiếc lá khô chờ hơi xuân hé”. Chiếc lá khô là của mùa Đông. Con bướm nương nhờ mùa Đông lúc còn nằm trong cái kén! Thật thâm thúy. Đó cũng là phong cách dùng chữ để diễn tả ý tưởng riêng biệt của thơ Nguyễn Hàn Chung vậy.”

Là tác giả làm ra những câu thơ “bí ẩn” này, anh nghĩ sao về nhận định của tác giả Quỳnh Thi?

(*) Bài thơ này trong bài viết của nhà thơ Quỳnh Thi ghi tựa là “Bí mật tháng Giêng

NHC:

Thưa anh Hai !
Kim Thánh Thán trong lời đề tựa Tây sương ký của Vương Thực Phủ  đời Nguyên có viết “Chỗ mà lòng tới rồi bút bât tất phải nói nữa”.Anh Quỳnh Thi có những cảm nhận của riêng anh  ấy về bài thơ Bí ẩn tháng giêng , NHC không thể chuyển sự phản ánh cảm tính của mình  thành khái quát của tư duy được.Hơn nữa dù NHC là tác giả chăng nữa cũng chỉ là người đứng sau cánh gà sân khấu hình tượng .Và thưa anh NHC nghĩ rằng hình tượng ngôn từ thường  tạo ra ảo giác cho nên bất khả tạo ra độ sáng rõ ,độ phân giải như ở các loại hình nghệ thuật khác.Chính vì muốn phá vỡ những hình thức  khô cứng đã quen được thừa nhận về mùa xuân  và muốn đi sâu vào những vận động bí ẩn của tâm hồn mà NHC viết Bí ẩn tháng giêng .

HT:

Anh Nguyễn Hàn Chung,

Trong trả lời cho câu trước, anh có nói: “Còn chứ anh, NHC còn viết một tập cảm , bình từ những ngày còn ở trong nước khoảng 40 bài thơ theo chủ quan tác giả là sướng ,là tới bởi có cái để mà ngẫm ngợi .Các tác giả bị NHC chọn là bất kỳ không nhất thiết phải là nhà thơ có tên tuổi .Chỉ khoái là chọn là bình thôi.Hy vọng trong năm 2012 NHC sẽ trình làng tập bình có cái tiêu đề ‘’Thầm thức cùng thơ ‘’ sau khi  khoái thêm vài mươi bài nửa .”

Qua những điều anh vừa chia sẻ làm tôi tò mò tìm đọc trang nhà “sông thơ”, và đọc được bài bình thơ sau đây của anh :” “Bốn mươi năm mang mang hồi ức” với bài thơ “Xa Cách” của Châu Liêm mà anh dùng làm nền cho bài bình thơ này . Bài thơ theo anh ghi lại qua trí nhớ như dưới đây:

Xa cách

Hai dặm cát vàng duyên nối tiếp

Đôi bờ sông rộng mặc ai đưa

Tôi đâu dám bảo Trường giang hẹp

Chỉ hận nghìn năm với bến bờ

Đêm ấy người đi sương xuống lạnh

Trăng mùa tiễn biệt sáng mông lung

Tôi đâu dám hẹn ngày tương ngộ

Người khóc đêm nào người nhớ không?

Tuổi mới hai mươi đời xế nửa

Từ nay đâu dám hẹn tương phùng!

Ai tiễn ta qua vài bến nước

Với hai sào gió bốn sào trăng

Ai tiễn ta rơi vài giọt lệ

Lệ chảy đầy trong đôi mắt trong

Quấn bàn tay lạnh trong tà áo

Từ nay xa cách mấy con sông

Châu Liêm

Sau khi giới thiệu tác giả Châu Liêm ngày xa xưa ấy chính là nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp hôm nay hiện đang ở gần đâu đây và anh có lời bình như sau :

“Tôi nghĩ không ra làm sao một cậu bé học lớp đệ nhị mới mười sáu tuổi ( *l)ại có thể sử dụng từ ngữ điêu luyện dường ấy.Phải chăng  đó là của trời cho và tác giả với tư cách là người sáng tạo vẫn nằm ngoài hệ thống  với các mối liên hệ nghệ thuật : Người chủ xướng và người đọc cũng chỉ đóng vai trò tham dự mà thôi .

“Có những bài thơ tác giả là những nhà thơ lớn ,ngôn ngữ thơ hàm súc  đặc dị,chứng tỏ tác giả uyên bác và trí tuệ cao nhưng sao người đời lại không nhớ mà kỳ lạ bài thơ Xa cách của Châu Liêm tuy không có nhiều sáng tạo về mặt thi pháp nhưng chiều sâu của tiếp nhận thẩm mỹ được  vượt qua được một độ lùi của thời gian chiếm lĩnh và tái tạo hình tượng ngôn từ trở thành hình tượng tâm tư trong lòng người đọc gây hiệu ứng tiếp nhận  bền vững trong lòng tôi và bè bạn một thời, một đời…

Cái cực sướng nào rồi cũng nhanh chóng qua đi tại sao cái cực sướng văn chương cử đeo dai đeo dính chúng ta đến mỏn đời làm vậy.”

(Sông thơ, ngày 02 tháng 11 năm 2009)

Theo như anh vừa nhận định qua lời bình mà tôi vừa trích, vậy bài thơ Xa Cách này quả là một bài thơ hay hoặc rất hay, ít nữa đối với riêng anh, từ đó nên mới có “Bốn mươi năm mang mang hồi ức” . Do vậy, tôi mới nghĩ thơ cũ đâu phải bài nào cũng dở, phải không  anh ? Về phương diện thơ hay và thơ giá trị, là một người làm thơ rất lâu và với kinh nghiệm giảng dạy môn Việt văn hơn ba mươi lăm năm như anh cho biết cùng trong bài bình thơ này, xin anh chia sẻ thêm chi tiết nhỏ này mà tôi thắc mắc hoài nhưng không biết hỏi ai; đó là, theo anh thì khi nào bài thơ được gọi là hay và khi nào bài thơ được coi là có giá trị ? Giữa bài thơ hay và bài thơ giá trị nó là một hay là hai bài thơ đó hoàn toàn khác nhau, thưa anh?

NHC:

Anh Hai Trầu quý mến !
Cái chi tiết nhỏ  mà anh  muốn được kiến giải không nhỏ một chút nào nếu không nói là vượt quá tầm suy nghĩ của những người cầm bút làng nhàng  cỡ NHC.Nó đi vào định nghĩa  cõi thơ của các bậc hàn lâm về mỹ học,thi pháp học ,về thời gian,không gian nghệ thuật ,tính thời đại văn học, văn hóa một dân tộc các biện pháp nghệ thuật các trào lưu văn học,trường phái văn học khác nhau.Theo thiển ý của NHC thì thơ hay là thơ làm rung động lòng người bất kể nó được viết với phong cách nào.Có điều nó phụ thuộc vào từng  thế hệ đối tượng với các khuynh hướng thưởng thức chứ không thể cào bằng mọi đối tượng tiếp nhận được .Vì thế mỗi trào lưu văn học đều có những đối tượng tiếp nhận thẫm mỹ khác nhau.
HT:

Anh Nguyễn Hàn Chung,

Qua bài bình bài thơ Xa Cách của Châu Liêm, tôi thấy anh mê chữ “quấn” trong hai câu kếtcủa bài thơ này và anh viết:

và nhât là từ quấn trong hai câu thơ cuối cùng;
’Quấn bàn tay lạnh trong tà áo

Từ nay xa cách mấy con sông’’

Động từ quấn bình dị dân dã  mở đầu đoạn kết lại có độ hút mà trộm vía tác giả  tôi thiển nghĩ chính anh cũng đâu có ngờ trong suốt  hơn ba mươi lăm năm làm người thầy giáo dạy văn tôi đã dẫn dắt các em học sinh chuyên văn quê nhà bình  nhãn tự trong các câu thơ ấy. Tôi đã cho các em đưa  từ xế,quấn vào trong một trục với các từ đồng nghĩa hoặc gần nghĩa chẳng hạn để thay thế cho các từ ấy nhưng các em và cả người thầy đều bất lực”(Bốn mươi năm mang mang hồi ức)

Và rồi tôi lại lần dỡ những trang thơ của anh, tôi lại thấy anh có câu thơ nàyvới chữ quấn rất điệu nghệ :

“Quấn lòng anh trong tà áo em đi

Tay ram ráp bụi đường xa thiếu bạn

Anh rớt cuối bươn tràn qua vận hạn”

(À ơi điệu cũ, NLCT, trang 7)

Ngoài ra, qua 136 trang sách với 72 bài thơ , dù tập thơ rất mỏng như vậy nhưng theo thiển ý của tôi, thơ anh có mấy nét chính sau đây:

1/ Anh có cách cắt, ráp các chữ trong các điển tích làm thành nhóm chữ mới để anh diễn tả những suy nghĩ của anh qua các câu thơ mà anh muốn viết rất công phu. Do vậy, chữ dùng của anh lạ, khô , rất khó đọc nhưng nhờ nó hàm chứa nhiều trăn trở qua chính những bước chân lưu lạc, thăng trầm trong dòng đời của chính tác giả và nhờ tài pha chế đôi chút gia vị châm biếm nhẹ nhàng, dí dỏm, không ác ý, nên nếu ai chịu khó đọc được vài bài thơ đầu rồi thì sẽ thấy thích, và lần lần đọc tiếp cho tới hết dòng thơ cuối cùng sẽ nhận ra thơ Nguyễn Hàn Chung chan chứa biết bao trăn trở về thân phận con người giữa dòng đời với một người không còn trẻ trung gì mà rồi còn phải lo bươn chải trèo lên từng bước chân một trên những triền dốc ngược…

2/ Về ý thơ, phần lớn thơ anh là có chủ đích “nghịch”“phản”. Tất thảy những bài thơ của anh lấy cảm hứng từ đáy lòng anh đã đành mà nó còn khắc họa lại những ngang trái mà anh bắt gặp, trong văn giới cũng như ngoài đời. Những “nghịch lưu”, “nghịch âm”, những “phản ca”, “phản cảm”, “phản tuyên ngôn thơ”, những “biến dị”, “hành”, “hèn ta thơ”, “mé”, “cảm thức mé” và mỗi mỗi chữ anh dùng không đơn giản chỉ là chữ, là ý, là thơ, là thẩn một cách bình thường mà là những dòng máu trong anh cứ “chảy ngược” như “nước chảy ngược” của một dòng sông phải chảy qua nhiều tảng đá ngầm nằm sâu trong đáy sông của mình. Thành ra, nếu tôi không lầm, anh rất cô đơn dù anh có rất nhiều bạn cũ và mới như trong trả lời của anh ở câu đầu tiên:”Thôi kệ rứa mà vui, mà có bạn bầu tứ xư”; nếu không muốn nói là anh chưa tìm được người đồng điệu, tri âm, tri kỷ, ít nữa là đồng điệu trong cách suy nghĩ, trong cách diễn đạt, và cả trong cách giải trí giản dị nhất mỗi ngày là anh muốn làm cho thơ mình khác với cái cũ… Và nỗi cô đơn đó, nó còn để lại rất rõ trong câu thơ mà tôi vừa nhắc bên trên:

“Tay ram ráp bụi đường xa thiếu bạn

Anh rớt cuối bươn tràn qua vận hạn”

(à ơi điệu cũ, NLCT, trang 8)

hoặc trong một bài khác:

“Không đủ lực đợi những cái chớp mắt biến ảo

mặc những cơn gió  quậy phá

quẫy đạp đi tìm di chỉ cánh đồng

cánh đồng xanh mơ ở đâu?

anh mải mốt chạy  marathon tìm em mệt nhoài ký ức”

(Canh giấc cánh đồng, NLCT, trang10)

hoặc trong bài “tha phương không tám”có đoạn:

“Thì cứ tống cứ tan ngần ấy tuổi

Biết cùng ai chia sớt chuyện buông tuồng

Chiều tới sáng lục tìm mưa cắm cúi

Ngón với bàn ngong ngóng đến thê lương

Gần rất lạ xa tới tầm tay với

Sợi mong manh riết róng cột âm thầm

Lầu cây khế leo tấm thân chùm gửi

Nhướng lên mù thấy rõ  một xa xăm

Vẫn mụ mị lùng bùng  cơn cớ trước

Và ngơ ngơ ngác ngác những phương chiều

Mùa không hắt tia nắng vàng ,vô phước

Kẻ điêu nào còn léo hánh cô liêu”

(bài tha phương không tám, trang 12

Hoặc như “bước qua thì cũ mới”, anh viết :

“bơi trên sóng sợ sông dài khủng khiếp

thấy lăn tăn đã hú ba hồn bảy vía hà bá ma da

muốn tháo chạy lên bờ ngặt dưới thân toàn nước

cõi trăm năm hơi đâu đủ sức dài cút bắt khánh tận nỗi buồn

mặc cho gã niềm vui đê hèn thiêm thiếp

chắc chắn có kẻ  sẽ gõ cửa cho em lách váy vào thiên thu

dọn sẵn một chỗ tinh tươm chơi trò rơi ngược

nhưng bây giờ có lẽ chỉ một mình anh  đang bơi

các em còn bận lau bàn chân ướt”

(bước qua thì cũ mới, NLCT, trang 20)

Và còn nhiều lắm những vần thơ mang mang nỗi cô đơn hiu quạnh

một bóng hình ngược nước ấy mãi hoài , không kể xiết …

Là tác giả của những bài thơ “nghịch lưu” này, anh nghĩ sao

về mấy ghi nhận nông cạn, thô thiển của một người đọc già

lười suy nghĩ  như tôi, thưa anh ?

NHC:

Anh Hai Trầu ơi!
Anh đã  chịu khó trải lòng mà thẩm thấu thơ NHC nói chung và NLCT nói riêng đó là  sự mừng vui mong ước  rất lớn không dễ gì đạt được của người cầm bút nghịch lưu nầy . Nhất là thơ trong NLCT đúng như anh nhận xét:khô,nghịch nhiều ý còn  hàm hồ nữa.Vô cùng trân quý những nhận xét tinh tường của anh  giúp NHC bừng ngộ nhiều điều trong trò chơi con chữ gian nan  khổ ải nầy .Rất mong nghe được những lời bình sâu, chân xác hơn nữa của anh cũng như bạn đọc về tập thơ NLCT .Điều người làm thơ  hãi sợ nhất khi trình thơ  ra làng đã được NHC thắc thỏm  trong  mấy câu cuối bài làm thơ và múa dao . Xin được mạn phép lặp lại :

”làm thơ khác gì múa dao
nghề càng tinh
càng mệt nhoài số kiếp

cùn tóc râu
thương tích ngữ ngôn
hãi sợ rụng vào trăm năm mất biệt

NHC cả nghĩ :  thơ đừng mất biệt  trong cõi vô tăm  là hạnh phúc không tưởng của bất kể nhà thơ nào ? Có phải thế không anh ! . Nguyễn Hàn Chung xin kính gửi đến anh Hai Trầu lời cảm tạ tri âm nhất.


HT:

Anh Nguyễn Hàn Chung,

Tôi xin được nêu lên một ghi nhận thứ ba nữa trong cách viết tên người, tên nhân vật trong các bài thơ mà anh đề cập tới họ ; đó là anh không bao giờ viết chữ hoa dù anh có cố ý nhắc những tên người, những nhân vật ấy, nhưng anh cứ phớt lờ đi, coi như đó là những chữ bình thường không lấy gì làm quan trọng cho lắm với mục đích là anh muốn dẫn người đọc đi qua một hướng khác không có ai trong thơ anh ráo trọi .

Điều này, anh làm tôi nhớ hồi còn đi trọ học, tôi thường phụ với chủ nhà vô lò nấu heo thợ bạc. Xin kể anh nghe diễn tiến công việc này như sau. Dân chuyên nấu heo vàng họ đi gom mua khắp Sài-Gòn Chợ-Lớn những bụi vàng nơi các tiệm thợ bạc. Gom về như vậy mỗi ngày và trong vòng vài ba tháng, số lượng heo vàng này đủ vô một lò thi bắt đầu vô lò . Trước tiên người ta đem mấy heo thợ bạc này ra trộn với cát nhuyễn và bỏ vào mấy ống vót nắn bằng đất sét trắng đã phơi khô lâu ngày, hình dáng mấy ống vót này giống như hình dạng trái bầu cắt ngang trên mặt . Vô ống vót xong xuôi đâu đấy người ta mới sắp xếp những ống vót này thẳng đứng trong lò đúc bằng xi măng; giữa những ống vót người ta bỏ xen kẻ những cục than đá vừa giữ cho các ống vót thẳng đứng, vừa giúp khi đốt lò lửa than đá sẽ làm cho cát và vàng trong ống vót chảy ra . Sau khi lò đã vô đủ số lượng ống vót heo thợ bạc cho một kỳ nấu heo như vậy, người ta bít nắp lò lại và mồi lửa đốt lò . Khi lửa cháy thì than đá trong lò bắt đầu cháy theo và đốt như vậy trong vòng năm ba ngày, có khi một tuần và coi khói trong lò lên màu trắng là bắt đầu bịt miệng lò lại, vì khói trắng là dấu hiệu các chất tạp đã cháy s ạch hết rồi ; rồi chờ khi nào lò nguội, chủ lò mới khui nắp lò và lấy các ống vót ra . Khi lửa cháy cát và vàng cùng chảy . Vì cát nhẹ hơn vàng nên cát chảy thành thủy tinh, nằm bên trên và vàng nặng hơn cát nên vàng nằm dưới đáy ống vót . Lúc bấy giờ chủ lò mới lấy búa đập ống vót và lấy vàng dưới đáy . Xong đâu đấy, người ta mới dùng acid HCL hoặc acid H2SO4 phân kim số vàng này để lấy ra bạc và vàng nguyên chất.

Sở dĩ tôi kể dông dài với anh về việc nấu heo thợ bạc và phân kim vàng là tôi muốn ví công việc anh viết tên các nhân vật dù quen hay chưa quen đều viết ở dạng chữ thường, giống như anh muốn pha trộn giữa cát và vàng  rồi cho vào lò lửa và rồi vàng và cát sẽ nhờ lửa mà phân biệt được đâu là cát đâu là vàng. Phải chăng đó cũng là cách chơi chữ với nhiều dụng công của anh không, thưa anh Nguyễn Hàn Chung ?

NHC:

Kính anh Hai Trầu !
Anh có lối ví von sao mà thâm thúy rứa ! Chẳng qua là một thủ thuật để tránh những phiền phức có thể xảy ra thôi anh à . Động đến  tài thì không sao chứ đụng đến tật các ông nhà thơ ,nhà văn là lắm chuyện .Tôi  dụng cách viết như vậy để có đường mà biện bác sau nầy  nếu ai dó có chất vấn:tại sao  và tại sao ? Một số bài dạng nầy đã lên
damau.org Người đọc cũng comment lủ khủ đó anh.Hơn nữa mình chỉ cảm một mé chân dung sao dám chính danh, chứ có đãi cát đãi vàng chi mô mà anh nói quá lên rứa.Mà thật ra cũng vui thôi,nào có ác ý với ai đâu !

HT:

Thưa anh Nguyễn Hàn Chung,

Sao tôi cứ miên man nghĩ về cái tựa “Nghịch lưu…” của anh hoài. Như anh biết quê tôi vùng sông nước miền Tây, nên đi đâu cũng gặp sông, gặp rạch, gặp kinh, gặp mương , gặp cồn, gặp bãi, và dường như chỗ nào quanh quanh nơi mình ở cũng nước là nước, mát lạnh cả một vùng … Thành ra nhà nhà đều phải có ít nhứt là một chiếc xuồng để đi lại trong vùng, khi lên ruộng, lúc ra chợ, hoặc cần đi cánh đồng xa xa giăng câu giăng lưới cũng phải nhờ tới chiếc xuồng. Việc nào cần chuyên chở hơi nhiều nhiều một chút thì người ta còn phải có chiếc ghe . Ghe thì có chiếc chở năm ba chục gịa lúa, có chiếc chở cả mấy trăm giạ lúa trở lên . Còn chở đá, chở gạch, chở cát, chở cây, chở gỗ thì ghe lại càng lớn hơn nữa như ghe cui, ghe cà dom, ghe chài, ghe mui lón, chẹt, sà lan và nhiều thứ lắm … Vì đi theo sông, theo nước như vậy, nên dân quê tụi tôi phải lựa con nước mà đi . Khi nào nước xuôi thì  nhổ sào bơi theo nước cho đở tốn sức bơi chèo và khi nào nước ngược thì tấp xuồng ghe vô bờ nổi lửa nấu cơm ăn uống no bụng rồi nằm nghỉ chờ nuớc xuôi đi tiếp cho tới khi về tới bến, tới bờ mình định tới … Tôi còn nhớ hồi học các lớp Sơ Đẳng Tiểu Học, rồi Tiểu Học Bổ Túc những năm 1940, trong các lớp học vách lá nghèo nàn nơi các làng quê thường hay treo câu cách ngôn : ”Học như chèo thuyền ngược nước, không tiến ắt phải lùi”. Nay nhớ lại anh có hơn ba mươi lăm năm dạy học, có lần nào anh dạy học trò câu ngạn ngữ này không, thưa anh ?

Buổi trò chuyện với anh tới đây kể cũng đã dài dù tôi còn muốn hỏi anh thêm nhiều điều nữa về tập thơ “Nghịch Lưu Của Tuổi”, nhưng sợ anh không có nhiều thời giờ, nên đành hẹn lại với anh vào dịp khác vậy . Xin chân thành cảm ơn anh đã giải đáp cho các thắc mắc trong cuộc trò chuyện này rất tận tình . Kính chúc anh có nhiều hứng thú trong con đường ‘nghịch lưu” của mình và chúc anh cùng gia đình nhiều sức khoẻ, vạn an.

NHC:

Kính anhHai Trầu

Qua cuộc chuyện trò thật lý thú giữa ông Hai Trầu và gã Trai già Quảng Nam nầy NHC rút tỉa ra được nhiều điều cần phải hoàn chỉnh hơn khi đưa tập thơ Nghịch lưu của tuổi  tới nhà in. NHC rất trân quý tình cảm trọng thị văn chương của anh nên phải vắt hết tinh lực để trả lời những chất vấn sát sạt của anh về những vấn đề xung quanh đời thơ NHC cũng như NLCT. Có gì NHC trả lời còn hàm hồ ,chung chung mong anh thông cảm thứ lỗi vì không thể làm gì khác hơn . Nghịch lưu của tuổi để mong được hợp lưu của đời chứ chẳng ai muốn ”nghịch thiên giả vong ” đâu anh. Nhưng anh ơi lắm khi  phải chấp chịu mất để mà còn….NHC còn chờ anh vấn nữa nhưng  rất tiếc anh đã tuyên bố ngưng nghỉ rồi nên thôi chờ dịp khác vậy.Một lần nữa Nguyễn Hàn Chung thành thật tri ân anh đa quan tâm nhiều đến tập thơ đầu tiên trên đất Mỹ của NHC .
Kính gứi đến anh chị  lời chúc sức khỏe . Nhân biết anh say mê hoa trái .hằng ngày cặm cụi bên luống cỏ ,chùm hoa NHC quý tặng anh mấy câu cũng để tạm kết cuộc trò chuyên rất  thú vị và bổ ích nầy ;

Cầm trong tay
một chùm hoa
Sắc màu tươi
có phôi pha một vài…
ném tung
vào
cõi trần ai
Mầm xanh
từ cánh hoa phai
cứa mình
Thành thật cám ơn anh vì những trao đổi rất bổ ích chung quanh  bản thảo tập thơ  NLCT của NHC

HT:

Anh Nguyễn Hàn Chung,

Một lần nữa cảm ơn anh viết tặng cho mấy vần thơ mang chút triết lý về nhân sinh nhiều ý nghĩa và cầu chúc anh cùng “Nghịch lưu của tuổi” luôn có mặt giữa dòng đời luôn dời đổi này …

Kinh xáng Bốn Tổng, ngày 26 tháng 3 năm 2011

chat với vợ


Nguyễn Hàn Chung

 

Anh xao nhãng

việc làm tình

chỉ cốt làm thơ

đù đeo

cái trò vô bổ

 

Làm tình sướng

một giây

một phút

thậm chí một giờ

 

Làm thơ

sướng

một sát na

mà dư vang hết biết

 

Xao nhãng việc làm tình

thơ anh chỉ là đồ vứt

 

Cơ nghiệp tổ tiên đi đời

bởi đám hèn sinh các anh

thiết làm tình mà bất lực

16/3/2011

Tập thơ mới của Nguyễn Hàn Chung

cao tốc hành

Nguyễn Hàn Chung

ngựa nghìn năm

xe trăm năm

chuyện cũ

mấy gã  hồ đồ

uống rượu dòm trăng

kết những đường ray chon von mệt lử

cõng những con tàu cao tốc hung hăng

cao tốc hề cao tốc

chạy về phía trường giang xả xui

mấy gã phần thư bàn độc

xua bầy đàn heo hạch tận cùng hang

ngựa nghìn năm

xe trăm năm

rỉ rả

đường mù mờ xe long rong thổ tả

cao tốc phom phom chân trời

chân lấm tay bùn

cái nòi vai u thịt bắp

trăm nơi

cao tốc hề cao tốc

lừa lê lết la lết lê

người ngựa  ngựa người máu hộc

có hề chi trường sơn  xưa xa

mù mù âm vực

con đất đỏ đất đen rồi

vú mẹ thòng trống không

ngựa nghìn năm

lạc rơ

xe trăm năm

cổ hủ

ém nhẹm hãi hùng trọi trơn

hỉ hả chị chị em em vén váy hộc tốc lên tàu  văn minh cao tốc

cao tốc hề tốc cao

cao tốc hành hành cao tốc

mặc kệ ăn cầm hơi

2/2011

TẢN MẠN CUỐI NĂM

Lê Lộc

Mười lăm năm ở phố, của phố mà phố vẫn lạ; mười lăm năm trong phố mà phố vẫn xa!

Càng trôi về những ngày cuối, của năm cùng tháng tận, lòng càng ngu ngơ như người mộng du. Người ở đây mà hồn ở đâu tận ngoài nớ.

Mười lăm năm xa làng quê, trong giấc mơ, vẫn vọng vang tiếng tu hú da diết gọi mùa cá chuồng Cửa Đại.

Mười lăm năm xa làng quê, trong nỗi nhớ, vẫn đều đều vang tiếng sôi ùng ục của nồi bánh tét đêm ba mươi trước sân nhà; lửa củi cháy bập bùng, tí tách, lan toả hơi ấm cho cả nhà  quây quần ngồi trông bánh, nghe cha tôi kể đủ chuyện về người, về đời… Và cảm nhận điều thiêng liêng, kỳ diệu của thời khắc giao thừa trang trọng.

Mười lăm năm xa làng quê, trong tâm trí tôi, vẫn in đậm hình ảnh như vừa hôm qua, tôi và bạn, hai đứa đèo nhau trên chiếc xe đạp cà tàng vào sáng mồng một Tết, ngược lên quê bạn,  nơi có cha mẹ già đang thắc thỏm mong ngóng thằng con xa quê chưa kịp về chiều ba mươi.

Đường quê, ngày mới, nắng tinh khôi. Đường quê, hoa dại lung linh sắc màu. Đường quê, nụ cười nở hoa, tươi rói. Đường quê, áo mới tươi màu, phảng phất cả mùi thơm vải mới, tinh tươm.

Mười lăm năm ở phố, tôi cứ mãi nghe văng vẳng một thứ âm vọng rất thiết tha từ làng quê, trong những giấc ngủ chập chờn, mộng mị, hay từ thẳm sâu tiềm thức.

Mười lăm năm, vẫn đau đáu nỗi niềm làng quê. Những ngày khắc khoải, những đêm thao thức.

Phố! Phố rộng lớn mà tù túng. Phố đồ sộ mà chật hẹp. Phố ken dày nhà cửa, cộ xe mà hoang lạnh ốc đảo. Phố thừa nguy nga, thừa lộng lẫy… mà thiếu vẻ đẹp chân phương, hồn hậu.

Phố xa hoa, tung tẩy, đãi đưa…

Phố lạnh lùng, xa cách, khu biệt…

Phố, ngày tết, và ngày không tết, lập lờ, chưa bao giờ rõ nét.

Hèn chi, Mẹ vào phố ở với con trai, xa ngàn cây số, chưa quen nhà đã vội vã trở về làng quê.

Hèn chi, Mẹ ra phố ở với con gái, chỉ cách chưa đầy một giờ xe, rồi cũng quày quả trở lại làng quê.

Mười lăm năm ở phố mà sao lòng người chưa phố…?!

LÊ LỘC

 

Chùm thơ xuân của Nguyễn Đức Dũng- Phạm Tấn Dũng – Nguyễn Hàn Chung- Huỳnh Minh Tâm

Cuối năm Canh Dần rồi tới năm Tân Mão .Chào đón chu kỳ luân chuyển của đất trời từ khởi thỉ .Nguyễn Hàn Chung nhận được thơ xuân bè bạn gửi đến .Vội post vào đây cũng là để  mời bạn thưởng xuân .

Cố thổ

Nguyễn Đức Dũng

Bồi lắng đất đai này cơ man phù sa phổ hệ
sông khẳm mây trôi
người xốn mắt đò
gió bãi bờ rướn xanh tóc em xanh ngập ngừng dâu bắp
phiêu dạt phương trời neo đậu quẩn trong mơ

Còn neo đậu dấu hà thâm khoai sắn
hoa văn riêng,
Hòn Kẽm – Đá Dừng
còn neo đậu dáng cò sông nắng
đập cánh giang hồ
nhún lạnh dọc sống lưng

còn vướng ngọn tre bên nhà hàng xóm
đau như roi  hái trộm buổi cây người
ham hố chi đâu
vụng về danh phận
vẫn in hằn nếp trán đứa ham chơi

Có mải miết chừng mô rồi cũng mỏi
mộng đường bay đánh bẩy trái tim mình
nhắm mắt lại hồi đầu thị ngạn
sau hành trình nghí ngởn của điêu linh

25 – 12 – 2010

XUÂN THÁNG CHẠP

Phạm Tấn Dũng

Vừa thôi chứ

Cái rét miền Trung quên mặt trời đáy nước

Xuân đâu mà! Tháng chạp

Mắt nhìn xạnh tiếng nấc

Tôi  về

Hơi thở nép vào thị trấn lặng yên

Bên kia bức tường là mặt trời

Vạn thọ hắt lên khuôn mặt em

Làn gió chợt qua thôi miên

Cơn mưa buốt chiều

Chạm vào xanh xưa

Giọt nước buồn bay lên đám mây

Ai mà níu con đường trôi trong buổi chiều

Để cỏ mượt mây giăng

Hàng rào lối nhỏ

Xa khuất ngôi nhà

Bờ lan trí nhớ

Xuân đâu …tháng chạp

Vừa thôi chứ

Là lẫy nói vậy thôi

Chứ nghe tiếng lá khô trượt trên mái nhà

Như tiếng chim bay về

giọng hót tôi còn nghe rất rõ

Luôn mềm bàn tay ấy

Cho dù cái rét dính khăn ướt vắt qua hàng lan can

Tháng chạp

Rồi xuân đến

Anh bước lên vạt nắng

Mồ hôi lạ ban mai

Cuộn lại bóng mình

Xuân trào miệng hạt

Tháng chạp mây qua

Phồn sinh tụ phấn

Tạ ơn phố hẹp

Nhỏ xuống dòng sông

Sông xé thân đêm

Rêu xuân mở mắt   ./.

hai con xuân

nguyễn hàn chung

một con nhắm một con nhòe

con nhắm rõ rành như ban tối

con nhòe mơ hồ như ban khuya

hơi xuân ngọng nghiụ phồng  líu cả lưỡi

em váy tốc tan hoang không ngờ

bứng cả mùi hương xuân khờ năm xưa

quên bẳng câu sáo mòn cửa miệng

những ngôn âm tới thì dậy mẩy

ngứa nghề lẳng lơ em  sàng cho ai biết tay

một con nhắm một con nhòe

con nhắm mồn một rơm rạ gai quào tứ tán

con nhòe bèo bọt cũ xì thâm căn

mùa ở đâu mà xuân chẳng ràn rụa

chỉ  là cố lý  tha hương…

bồng em lên tay nhẹ sâu phiền muộn

đầu mày cuối mắt  thuyền quyên lúng liếc xưa rồi

anh mân mê bú mớm con trẻ ngày nào

chợt thấm niềm tin  nát nhàu cỏ rác

một con nhắm một con nhòe

xuân  biết có còn nhắn nhe đào mai  lá nõn

có  gã chăm bẳm đầu thai vào cơn mơ hái lộc

nhưng dẫu mệnh vận xúi quẩy thế  nào

cũng còn hơn  mấy gã đàn ông lụa là

khăn gói lên đàn vu quy

cuối năm Canh Dần


THẰN LẰN NHỚ NẮNG

Huỳnh Minh Tâm

Bốn bức tường xanh là của tôi

những dây điện chằng chịt của bầy nhện là

sân khấu thế vận hội

bầy ruồi nâu như máy bay phản lực

+

cuộc sống đôi khi nhộn nhịp

những cuộc rượt đuổi tốc độ, những trò đú đởn

ba hoa

của thế giới thằn lằn

dưới ánh sáng chói chang bóng đèn nê-ông hoặc

lấp lánh ánh sao ngọn đèn ngủ

+

tôi chọn cho mình một lối sống giản dị

đó là cái chết cây xanh trong chậu kiểng

đôi khi cô độc lạc loài

nhìn những lỗ đinh bảng lịch công tác quạt

điện và giấy khen thưởng

+

tôi nhớ những cơn nắng đâu mười năm trước

sao mà xanh lá nõn sao mà ấm áp miên man

những tàu chuối phất phơ cơn gió lùa nhồn nhột

đôi nách

bầy chuồn chuồn tung tăng trong đám cỏ dại

hoa trắng như mây

+

những cơn nắng tươi nguyên non nớt thổi hồn

tôi những giấc mơ

về cuộc sống không dự định-một diễn tiến kỳ

cùng bất tận

cái đẹp của sương lành lạnh trong kẽ răng

vẻ kỳ ảo của hoa từng cánh từng cánh rơi chậm dần

vào thời gian

+

tôi đã uống vài tách trà của ngôn từ

dịu dàng nhắm mắt.

XEM TRANH ĐÁM CUỚI CHUỘT

Tình cờ vào Blog Lê Trâm gặp bài thơ :Xem tranh đám cưới chuột của  cố nhân Nguyễn Đức Thắng . Nguyễn Hàn Chung mạn phép các  bạn post vào đây để bá quan thưởng thức…


(Tặng năm Mèo)

Nguyễn Đức Thắng

Tranh của ngày xưa, tranh vẽ tuơng lai

Tranh hát chuyện ngàn sau tranh vạn kiếp

Tranh triết l‎ý nhân sinh

Nép dưới bụi rậm gai

Mang hơi hám củ sắn củ khoai

Xăm xăm băng qua thế kỷ

Nhốt nụ cười cổ tích, vỡ òa đến tận mai sau

Không phải khúc quanh co khu nhà ổ chuột ,

lối mòn cống rảnh kênh mương…

Chuột Đông Hồ đến tận cung Hằng

cưới Trăng

bằng Ngựa Ô, Kiệu hồng… thang máy

Không cần cầu cạnh bóng đêm

Chuột của ban ngày

Trộm giọt tinh mai hiến dâng chiều khát

Đám cưới Chuột nghênh ngang băng qua giữa làng Mèo

Mặc nhiên ánh nhìn ngại ngần của nắng

Những tính toán thiệt hơn:

Chén đi lủ chuột này,

Liệu mai còn gì để chén?

Nên chăng đa vị hằng ngày:

Chuột dâng khúc nhạc cung đình,

Có vị tanh của cá,

Vị hoang dã của chim…!

(Sắc màu triều cống hôm nay

mai sau hóa kiếp Mèo)

Chuột Mickey hồn nhiên tinh nghịch với đời

Chuột Đông Hồ điều hành máy tính

Vũ trụ sấp ngữa trong tay

“ Thuần hóa” Mèo

Thành chuột

Đôi mắt tưởng chừng ngái ngủ lim dim

lại mọc ánh nhìn mang hồn Bạch tuộc

Thiên chức Mèo ngủ quên

Đông Hồ Tháng giêng 2011

Mắt biếc

Cuối năm Canh Dần   Nguyễn Hàn Chung lục lọi trong mớ sách cũ chợt gặp tập san Mắt Biếc của  lớp  11 A1 trường THPT Nguyễn Duy Hiệu Điện Bàn Quảng Nam  trong đó có bài  tản văn của con gái út  .Mình không ngờ nó cùng cảm thấu nỗi gian nan của cuộc người cầm bút  nên post vào đây . NHC

CHIỀU CUỐI NĂM…

LÊ LỘC

Những năm trước, chậm nhất là hai  mươi sáu Tết, tôi đã vừa thong dong, vừa tươi tỉnh, vừa khoan khoái khi ngồi trên tàu về quê. Năm nay, đến ba mươi Tết rồi, mà tôi vẫn còn ở đây, với vợ con, trong căn nhà giữa phố ồn ào, lòng trống huơ, dửng dưng không hề gợn một chút cảm giác Tết. Vậy là không thể về được nữa rồi. Sao không bực bội! Tôi đi ra lơ ngơ, đi vào thờ thẫn. Ngồi bần thần, nằm rã rượi. Chốc chốc, ra đứng tựa cửa, mắt xa xăm, tay buông thõng. Dáng vẻ ủ rũ, có lẽ trông tôi y như cây chuối cụp lá, vàng nhợt sau mùa lụt trong vườn quê thuở nào. Cái cách phố lạnh lùng, thờ ơ với Tết, càng khiến tôi đờ đẫn nhớ Tết làng quê.

Hằng năm, từ rằm tháng chạp, khi nắng chớm xuân ấm áp trải khắp ruộng đồng, cha tôi đã hì hục đốn hạ những cây sầu đông trong vườn, rồi đẵn khúc và bửa nhỏ thành củi, phơi đầy sân, đầy ngõ. Củi cây sầu đông phơi được nắng thoang thoảng mùi thơm, pha chút hăng hăng, gây cảm giác dễ chịu, cùng với ý nghĩ mẹ và em gái sẽ có một cái Tết được nấu nướng thoải mái, nhàn nhã bằng củi. Chứ không phải chịu cảnh lui cui ngồi dính rịt trong bếp, không dám rời đi nửa bước, luôn tay cầm đũa bếp đùn đẩy rơm rạ, hoặc lá tre, lá mít, lá chuối khô… vào lửa. Khói bếp ùn tỏa cay xè, ràn rụa mắt mẹ, mắt em. Nhưng, dường như làn khói bếp lại ngần ngại bay lên cao, vào không trung. Như thể bay lên sẽ phai, sẽ loãng, sẽ tan đi hơi ấm. Là mất, là hết, là vô tâm, là đoạn tình đoạn nghĩa với bếp lửa, với tình người. Nên cứ là đà, quấn quít, vấn vương, bịn rịn trên mái tranh. Những sáng sớm trong lãng đãng mù sương, những chiều tà trong nhàn nhạt nắng, hình ảnh làn khói lam vật vờ uốn lượn quyến luyến mái tranh, hư ảo trên nền xanh thẫm của lũy tre làng, vẫn ngàn đời lắng đọng niềm yên ả, êm đềm trong lòng người xa quê.

Trong khi cha lo toan chuyện củi lửa, phần việc của tôi là quét váng nhện, bụi bặm khắp nhà trên, nhà dưới. Sau đó, lau dọn và trang trí bàn thờ. Sao cho đến trưa hai mươi ba phải xong đâu vào đó. Để kịp chiều tối hôm ấy lễ đưa ông táo về trời. Những giá ảnh và di ảnh ông bà trên bàn thờ được lau rất cẩn thận. Tấm vải điều phủ bên trên cũng được giặt sạch sẽ, thơm tho. Mấy bộ lư hương, chân đèn bằng đồng được đánh sáng bóng. Chân tàn hương, cha mẹ tôi bảo phải đặt vào thùng thiếc rồi đốt, không được vứt bừa bãi. Nếu làm thế là thất kính đối với người khuất mặt, là mang tội. Cát trong nồi hương, dứt khoát phải thay mới. Mẹ buộc tôi đi lấy cát tận dưới lòng sông, về phơi thật khô, rồi mới thay cát cũ.

Bình thường, cha mẹ tôi đã đặc biệt chú trọng việc cúng kính. “Cúng phải kính”, cha mẹ tôi thường căn dặn mỗi lần kỵ giỗ. Trước hết, trên bàn thờ phải có hoa và quả, theo vị trí nhất định: đông bình tây quả. Tiếp đến, ly nước trong (để ông bà súc miệng), đĩa trầu cau. Thức cúng phải bày biện cân đối, tề chỉnh. Khi thắp hương, phải cắm bằng hai tay, thẳng đứng, không đươc nghiêng xiêu. Hễ thờ tự phải thanh sạch, thành kính, cha mẹ tôi luôn khuyên răn con cái. Những điều có vẻ nghiêm ngặt như thế, tự bao giờ đã thấm trong tiềm thức tôi tình cảm quý trọng tổ tông, nguồn cội.

Chuẩn bị Tết, mẹ và em gái tôi có quá nhiều việc để làm. Đầu tiên, soạn tất cả chén bát, đũa muỗng, ly tách, ấm trà, bình rượu… trong chạn ra rửa kỹ, phơi phong khô ráo, rồi xếp trở vào. Những đồ đạc này chỉ dùng riêng cho dịp cúng giỗ, đám tiệc và tết nhứt mà thôi. Sang ngày mai, mẹ đi chợ mua kiệu, hành, ca-rốt, củ cải… về cùng em gọt, xắt, phơi… chuẩn bị cho món dưa kiệu truyền thống không thể thiếu. Mới nghĩ tới thẩu dưa kiệu tim tím, đo đỏ… bắt mắt là đã nghe thèm bánh tét, bánh rò rồi. Đến ngày kia, mẹ với em rang nếp, rang đậu, rồi xay thành bột thơm phức để chuẩn bị làm các thứ bánh: bánh in, bánh tổ, bánh dẻo, bánh nổ… Nhưng đến công đoạn cuối cùng, trộn, chà, in, nện… là phần việc của cha con tôi. Những chiếc bánh sắc cạnh,thơm nức, ngó phát thèm lần lượt ra khỏi khuôn chỉ chờ sấy nữa là cho vào thùng, vào hộp.  Cứ thế, cả nhà ngày nào cũng bận bịu đến khuya lơ khuya lắc. Nhưng niềm vui, tiếng cười tràn ngập, căn nhà càng thêm ấm cúng.

Sắm sanh, chuẩn bị ăn Tết, người dân quê vẫn quen tự tay mình  làm lấy các món ăn, bánh trái, bằng vật liệu cây nhà lá vườn, do chính công sức, mồ hôi của mình tạo ra. Hớp ngụm trà, nhâm nhi chiếc bánh, ta sẽ liên tưởng bột đậu, bột nếp mềm mịn, thơm lựng thế này là thành quả của bao ngày cày sâu cuốc chín, dầm mưa dãi nắng, thức khuya dậy sớm… Mồ hôi người từng gieo vào đất, thì đất sẽ lại trả ơn người bằng những mùa vụ ruộng đồng lúa nếp trĩu bông, bằng những chum lu ắp đầy đậu bắp. Để rồi, mỗi năm một lần, chỉ có dịp Tết, người dân quê mới thực sự  thong thả, xúm xít cùng nhau thưởng thức hương vị các món ăn Tết. Và, chỉ có dịp Tết, người dân quê mới khoan khoái, an nhàn tận hưởng hương vị cuộc sống. Cũng chính vì thế mà cái Tết ở làng quê là sự bừng lên rõ rệt nhất.

Cứ thế, không khí chộn rộn chuẩn bị Tết, khiến xóm làng vốn tĩnh lặng cả năm, bỗng bừng thức dậy từ giữa tháng chạp. Nhà nhà tất bật dọn dẹp sửa sang, cười nói rộn rã. Ngoài đường, hối hả kẻ đi bán, lật đật người đi mua. Rải rác từng nhóm đôi ba cô cậu đi làm ăn phương xa về nhà ăn Tết, tay xách vai mang, lỉnh kỉnh quà cáp, tinh tươm quần áo. Đường làng bỗng tươi tắn sắc màu, rộn ràng chào hỏi. Trẻ em hí hửng đùa nghịch, tung tăng chạy nhảy, hồn nhiên khoe nhau quần áo mới toanh, được cha mẹ, anh chị vừa sắm cho. Hàng xóm láng giềng í ới, lao xao hỏi mượn, trao đổi nhau ô nếp, lon đậu, bát đường… Hoặc nhờ chú, nhờ anh khéo tay gói giúp ang nếp bánh tét, bánh rò. Eng éc tiếng heo kêu làng trên xóm dưới, phía trong đầu ngoài. Người ta xôn xao mổ heo chia nhau cùng ăn Tết. “Có đói cũng ba ngày Tết, có hết cũng ba ngày mùa”, đó là cách người nông dân tự tưởng thưởng chính mình, sau thời gian nhọc nhằn làm lụng. Xong nhà ông Hai, đến nhà bà Ba, rồi nhà chú Lúa, nhà cô Nếp…, nhộn nhịp lễ cúng tất niên kể từ ngày hai mươi ba, liên tục tới chiều ba mươi. Nhà nào cũng sum họp, tề tựu đông đủ ông bà, con cháu, dâu rể… Ấm cúng, đề huề. Và chắc chắn không bao giờ thiếu hàng xóm láng giềng. Những người luôn sẵn lòng sẻ chia lúc tối lửa tắt đèn. “Bà con xa không bằng láng giềng gần”, chỉ có nơi làng quê, chỉ có người dân quê mới nghĩ, mới hiểu, mới nói, mới làm điều đó một cách vô tư nhất. Nghĩa xóm tình làng luôn sâu nặng, thắm thiết.

Rồi cũng đến chiều ba mươi Tết, mọi việc hầu như đã xong xuôi. Nhà cửa, đường làng khang trang hẳn lên. Nhịp Tết của xóm làng lắng xuống một chút. Khi đêm dần buông, mọi người chờ đón giao thừa. Ngoài sân, bàn cúng đã được trang trọng bày sẵn. Trong nhà, bàn thờ tổ tiên cũng đã đầy đủ bánh trái, hoa quả. Khi phút giây giao hòa của năm cũ và năm mới điểm, hương đèn được thắp lên. Cha tôi trịnh trọng áo dài, khăn đóng, quỳ lạy, khấn vái. Khoảnh sân rộng, trong đêm trừ tịch, giữa đất trời mông mênh, kỳ vĩ, tôi nghe như hồn thiêng quê cha đất tổ lung linh trong ánh nến, kỳ ảo trong nghi ngút khói hương, khói trầm. Vào nhà, chắp tay trước bàn thờ tổ tiên trang nghiêm, tôi cảm nhận mối gắn kết thiêng liêng về cội nguồn tộc họ, về tôn ti thứ bậc họ hàng.

Tất cả những điều rất bình thường, rất giản dị như thế ở làng quê, mà tôi chưa hề cảm nhận  suốt gần hai mươi năm nơi phố xá xa hoa này, thì lòng tôi sao khỏi trống huơ, vắng lạnh, hẫng hụt, khi mỗi độ Tết đến, người ta kéo nhau về quê sum vấy, đoàn tụ, bỏ mặc thị thành buồn thiu, ngơ ngác. Có tôi trong nó, thẫn thờ, khắc khoải,  chiều ba mươi nát ruột hát bài “Về quê”. Để rồi nghẹn giọng “…thiếu quê hương ta về ta về đâu???” . Và bật khóc ngon lành.

Nhiều khi, thả trôi cảm xúc dập dềnh theo dòng hồi ức miên man, bằng giọng trầm buồn, nửa như có chủ ý, nửa bâng quơ, mẹ kể:  “Hồi nớ, cha con đem cái núm rún của con chôn sau vườn, gần bờ tre, giữa bụi chuối và gốc mít…”. Cuống rốn ấy đã hóa đất từ lâu lắm rồi. Nó vẫn quẩn quanh, loay hoay trong lòng đất, chỗ gốc mít, bụi chuối, bờ tre xa xưa. Nó là một phần máu thịt của tôi, cũng là của mẹ, của cha tôi. Thử hỏi chiều cuối năm rồi, mà quê nhà vẫn mịt mờ, xa lắc xa lơ, làm sao mình khỏi nát lòng nát dạ, khỏi thắt ruột thắt gan?!


Chùm thơ viết ở Hội An

Nguyễn Hàn Chung

Về

Khoắng vào sông hỏi

nhánh rong

Giạt bao rồi mới chịu ròng

đáy sâu

Xa xăm nhớ quá

ngõ Cầu

Bước về phố hẹp va nhau

giữa đường

Cầm tay em khẽ

…rồi buông

Trái tim chai

đổ

hồi chuông vụng về

Khách bên trời

cứ như mê

săm soi tìm chút hồn quê

cũng vì…

Sông Hoài chảy

đến tràn ly

và em

mới rựng xuân thì

tối nay

Tôi lêu bêu

riết cả ngày

Chỉ ưng vin nụ thơm ngay

buổi đầu

Em con gái

đến bao lâu

Anh con trai

đến bạc đầu

con trai

Say rồi biết tỉnh

là sai

Lặng thinh

nghe gái sông Hoài tắm khuya

Thưa với sông Hoài

Ngồi một nấm với dòng sông cạn gió

Hỏi chi sóng cũng thì thào

Ngày mẹ tắm bến này con rong rêu đâu đó

Cũng có thể là mây phố bay

Mộ cha táng hút khuya đêm trừ tịch

Sông hoài thai giọt nước mắt rã rời

Khói thắp nén nhang tàn không nói

Dường con nghe đồng vọng bao lời

Con rảo bước đường còn xa ngút ngát

Đá không mềm rào rạo cứa chân con

Về gục dưới bệ thờ tiên tổ

Bỗng sáng trưng mọi ngõ ngách tâm hồn

Ngày hiu hắt rụng hoa quê lấm tấm

Phố tinh khôi bí ẩn lớp rêu tàn

Cánh bèo tím cuối sông rồi vẫn tím

Vận giọng chào em lí nhí Hội An

Con đã nếm từng ngày mưa héo phố

Chiều bơ vơ lan cả bát cao lầu

Biết lấy nỗi chi làm duyên nợ

Đêm sóng Hoài gió Đợi vỡ tràn nhau

Sóng đã vì sông mà cạn gió

Rù quyến con tập tọng vỗ bờ

Phố trễ nãi đèn lồng treo đỏ

Một nấm ngồi nghiêng ngó khách ba lô

Đi xe ngựa ở phố

Lão xà ích quất thanh roi

Thời gian rớt xuống đôi vai người già

Từng đoàn bóng lộn vù qua

Cỗ xe ì ạch ì à ngàn năm

Xì xồ tiếng lạ tiếng quen

Mấy ông bạn ngoại lóe đèn liên miên

Ngựa và người cứ lặng yên

Chỉ nghe tiếng vó gõ tìm tàu xưa

Lão xà ích lại vung roi

Cỗ xe vẫn thế mệt nhoài lắc lê

Mai này hiện đại phố quê

Ngựa xe thổ mộ đi về nơi đâu…

Mặc người góp chuyện xưa sau

Lão xà ích vẫn cắm đầu giong xe

ĐỌC KÝ NHẬN GIAO MÙA

Huỳnh Minh Tâm
( Nhân đọc tập thơ Ký nhận giao mùaLa Trung, NXB Văn học, 2010)

Gặp gỡ La Trung vài lần, trò chuyện buâng quơ không ra chuyện, bởi tào
lao tùng phèo, nhưng qua đấy tôi có cảm nhận tính tình La Trung bỗ bã,
mộc mạc, hơi “ồn”. Rồi đọc tập thơ ký nhận giao mùa của anh, và thật
sự ngạc nhiên hớn hở, bởi thơ anh kiệm lời, kín đáo, đôi chỗ tinh tế
đến xao xuyến, ngỡ ngàng.

Gió tàn đông ngõ lời giã biệt
Cành biếc xôn xao
Vo ve ngôn ngữ bướm ong
Sợ mất hương trinh hoa vàng gọi nắng xuân về dâng hiến
Nhện cố giăng trận đồ bát quái
Côn trùng ăn đến vô tư
Mặc người sờ nắn âm dương
Mắt cửa vẫn mở thời gian hàng trăm thế kỷ
Hẻm nhỏ cựa mình trở giấc
Nghe đường xưa ký nhận giao mùa
(Ký nhận giao mùa)
Đó là những câu thơ hay, thể hiện tầm quan sát thiên nhiên của La
Trung sâu sắc, cách diễn đạt là lạ, xê dịch ý tưởng bất ngờ. Ký nhận
giao mùa  ở bài thơ trên là ký nhận, giao thoa, hòa quyện giữa thiên
nhiên với thiên nhiên, giữa cái đẹp vô tư ưu ái với cái đẹp ưu ái vô
tư, ở một thời khắc cụ thể đông tàn xuân đến của trời đất mênh mông.
Nhưng ký nhận giao mùa  ở cả tập thơ, theo thiển ý của tôi, là những
ký nhận sâu xa hơn về thời gian, rộng lớn hơn về vũ trụ. Ở một vài
nghiã nào đó, đó là  ký nhận giữa con người và  thiên nhiên, giữa con
người và con người, giữa những điều chưa biết và những điều đã biết,
là hòa quyện trộn trạo trong thức tâm không thời khắc. Và đôi lúc bản
ngã ta cũng không cần hỏi ai ký nhận, ký nhận về điều gì, ký nhận ở
thời khắc nào, ký nhận để làm gì. Bởi khi đặt điều hỏi đáp là ta đã bó
hẹp vào khuôn khổ của lý trí và cảm xúc. Đọc ký nhận giao mùa là đọc
cái hòa quyện khôn dò với hóa công.
Em có về hãy nhẹ bàn chân
Như ngày xưa
Cái thời dưa muối
Kẻo cha ông nửa mừng nửa tủi
Rằng ta lạc dấu cội nguôn!
( Phút thiêng)
Đọc ký nhận giao mùa , bạn đọc đễ dàng nhận ra, thơ La Trung không to
tiếng, ít lý sự thi phi với đời sống-xem như một đối tượng cần đối
đãi, dẫu cuộc đời không phải lúc nào cũng mật ngọt với hoa thơm, mà
dường như phần nhiều là đắng đót chua cay.
Chạm cốc tình say ngỡ bóng thiên đường
Loay hoay dỗ cơn phiền muộn
Cầm tháng năm lên bờ xuống ruộng
Phố xưa mấy bận đi, về
Giọt đắng trái mùa chạm phải nỗi đau
Ngẩn ngơ bên bờ tâm thức…
( Chín tới)

Hành trình đi tìm cốt tủy thơ ca, tình yêu và “ bản lai diện mục”
trong thơ La Trung, tựa những anh hùng tìm đạo thời xưa, đầy công gai,
trắc trở, cũng là những phản tỉnh và cô đơn. Nhưng ở La Trung có vẻ
nhẹ nhàng, điềm đạm hơn, thi ca hơn
Trở giấc cô đơn
Dấn thân theo từng con chữ
Nửa đời duyên với nợ
Lọt lòng mấy cuộc tri âm
Hồn thi nhân tỉnh thức nửa đêm
Tứ thơ đau ứa trên đầu bút
( Cáo trạng không lời)
Hoặc là:    thương nhánh sông quê uốn mình cầm hơi xứ sở
Sư cụ xả thiền vội vã rung chuông
Rớt câu thần chú
Vọng thấu năm căn
( Ngộ)
Thơ La Trung đa tình nhưng ít đa đoan, nhiều chuyện, rối rắm. Có lẽ
anh đã tìm ra chõ tựa vững chắc cuối cùng của cuộc sống ? hoặc là, anh
đã “ ngộ” ra cái bến bờ dừng chân của con thuyền kỳ hồ lang bạt. Bởi
vậy chăng mà giọng thơ anh nhỏ nhẹ, đầm ấm, chứ không cố ý lên gân cốt
dạy đời, thấm dần vào tâm hồn bạn đọc như sự lan tỏa của không khí và
hơi sương, như hương hoa và sắc nắng. Cái lý sự trong thơ anh là cái
lý sự khêu gợi, chủ yếu cho chính mình.

Thiếu nghĩ
Con ôm ghì hiện tại
Nụ cười cha gãy hai
Rơi bên tượng đài…
Giật mình!
Nghiêng tai hứng âm thanh nguồn cội
Tiếng cười ông và cha dội vào trí não
Nhận ra lối mòn
Con tất tả đi tìm…
Nụ cười gãy thiêng liêng
( Nụ cười gãy).
Là người con của đất Điện Bàn nhân kiệt, góp một giọng hót lạ cho quê
nhà,âu đó cũng là nguồn hạnh phúc vô biên. Cái riêng biệt của thơ La
Trung là, không có vẻ riết róng, nghịch ngợm, kỳ ảo ngôn từ như Nguyễn
Hàn Chung; không có chất liệu, ngữ điệu mới mẻ, kiêu sa, trí tuệ như
Nguyễn Minh Hùng; cũng không có vẻ “ tân kỳ hình thức”, những câu thơ
tài hoa như Phạm Tấn Dũng. Có lẽ thơ La Trung giao thoa, gặp gỡ nhiều
với thơ của Nguyễn Nho Khiêm thời trước.  Đó cũng là giọng thơ nhỏ
nhẹ, dịu dàng, đầy suy tư và chiêm nghiệm về lẽ sống, lẽ đời, thường
trực “ quẫy đạp” để “thoát thai’ những ý tưởng, những phát hiện mới,
và anh dần đến độc chín của sáng tạo. Tôi dám chắc rằng, anh tự biết
sức mình, tài mình và không tự huyễn hoặc là bao. Còn với mảnh đất Hội
An, nơi anh đang sinh sống và viết, dường như anh là “người trong
nhà”, đang thể hiện, để lại một dư âm ?

Lan man, dàn trải như thế là tôi muốn mở ra cái quê quán tôi xưa ngẫu
nhĩ đâu đó của tác giả còn tiềm ẩn. Biết đâu tôi lại bỏ sót những hình
ảnh kín đáo, kỳ vĩ nào đó của thơ La Trung. Chẳng hạn, tôi thích những
câu thơ sau mà chẳng biết vì sao:

Chút hương đời ra mắt cuộc trần ai
Mặc tháng năm thì thầm kén chọn
Thôi nhé !
Tình riêng
Riêng tình đã trọn
Khắc lời thương lên sắc màu lận đận
Hát ru người qua ngõ thị phi…
( Tự ru)

So với tập thơ đầu tay Gót quê, thì tập  ký nhận giao mùa  đã có những
bước tiến vượt bậc về cấu tứ, cách diễn đạt và độ chín của ý tưởng.
Tuy nhiên, mặt hạn chế của thơ La Trung là biên độ đề tài còn hạn hẹp
và quen thuộc quá, như : khúc tơ dâng mẹ,ngôi yêu, xưa sau, sóng mơ,
tấc lòng, hậu ca…Những cái đề như vậy dễ làm bạn đọc có cảm giác
“sáo” và “sến”.Ở đây cần phải nói thêm là,cũng với những đề tài ấy,
nhưng anh chưa có hướng nhìn mới hơn, thổi vào bài thơ một cảm xúc mới
hơn, làm độc giả ngỡ ngàng. Quả thật điều này cũng hết sức khó khăn,
hết sức sáng tạo. Ở thể thơ lục bát, thơ của La Trung cũng chưa tạo ấn
tượng cho lắm, ý tưởng còn nghèo, đơn điệu về nhịp điệu, không có
những bước đột phá, sắc sảo về ý đồ nghệ thuật

Có lẽ không thừa, trong các bài viết, nhận định của tôi tôi luôn “ ghi
chú” rằng, trên đây là những  nhận xét, những kiến giải của một cá
nhân cá thể, không đại diện cho một “chân lý”; bởi vậy, trong bài viết
có thể có rất nhiều sai lầm, hạn hẹp, rất ít tính chân thực, tính
khách quan, độ chính xác của biện chứng khoa học; hy vọng “ tài liệu
tham khảo” này đóng góp một phần rất nhỏ để soi rọi vào “ ký nhận giao
mùa” của La Trung. Nơi ấy chưa đựng một vẻ đẹp tâm hồn của một con
người, và một nhà thơ. Để kết thúc bài viết này, cho tôi  bộc bạch vài
lời như một tình yêu :

Vào một thời khắc nào đó của ngày trong năm
Nhưng tốt nhất đẹp nhất có lẽ
Vào một buổi sáng
Của mùa xuân
Anh gánh hoa ra chợ
Mọi người xúm xít vòng quanh rạng rỡ
Người thứ nhất bảo : rau anh thơm quá !
Người thứ hai bảo : rau anh sạch quá !
Người thứ ba bảo : rau anh xanh quá !
Người thứ tư bảo : rau anh non quá !
Người thứ năm bảo : rau anh mềm quá !
Người thứ sáu bảo : rau anh ngọt quá !
Người thứ bảy bảo : rau anh mập quá !
Người thứ tám bảo : rau anh dài quá !
Người thứ chín bảo : rau anh rẻ quá !
Rồi mọi người bỏ đi
Chỉ còn anh
Và gánh hoa
Có thể vào một thời khắc nào đó của ngày trong năm
Nhưng tốt nhất đẹp nhất có lẽ
Vào buổi trưa hoặc buổi chiều
Của mùa hè hoặc mùa thu
Anh gánh hoa ra chợ
Và mọi thứ sẽ khác.

BÓNG LÀNG-ĐẤT VÀ NGƯỜI


 

BÓNG LÀNG-ĐẤT VÀ NGƯỜI

(Nhân đọc tập thơ Bóng làng của Ngô Hà Phương, NXB Đà Nẵng 2010)

Những cảm nhận ban đầu của tôi khi đọc tập thơ Bóng làng của Ngô Hà phương-người con của  Đại Lộc-là gặp quê xứ đất đai Đại Thạnh của anh nói riêng, Đại Lộc Quảng Nam nói chung rất chi thân thiết; và xứ đất của “Cuộc đời bão thổi/ anh đã đi vạn dặm chân trời/ sao có điều rất lạ em ơi/ vẫn chưa đi khuất tiếng gà trưa xao xác/ tiếng mẹ la con tiếng sáo cưỡi diều/ tiếng con trẻ kéo ngày lên ngõ nhỏ/ tiếng gàu khua trăng tiếng lá động chiều/ tiếng nhái nhai đêm tiếng vườn mỏi quả/ tiếng võng vẽ vòng tiếng mọt mài trưa”(bóng làng) ấy lại đầm ấm tình người, tình đất, tình cây. Nơi ấy con người được sinh ra, sau nỗi đau, là tình yêu mơ mộng. “Vẫn chưa ra khỏi bãi bò nhẩn nha gặm cỏ/ chưa ra khỏi bờ tre quẫy gió/khu vườn tiếng chim xanh mãi mái hồn/giếng nước mái đình mắt níu tay ôm/chưa ra khỏi. không bao giờ ra khỏi/ và. Anh vẫn còn đi. Trời rộng. Năm dài…”

Trải lòng mình tươi mới với cỏ cây hoa lá, với suối mát trăng thanh, xuyên suốt tập thơ, Ngô Hà Phương không rời cảm xúc quê nhà chứa chan mật ngọt, mật đắng. Đất quê, hương quê, trời quê như một tiếng gọi cho thơ anh chếnh choáng men nồng. Như rượu hồng đào, để rạo rực từng dòng thơ ấm nóng. “Rớt xuống Khe Tân một chiều hồ say/ núi thả hồn thơ vào đáy thẳm/ mây thả bồng bềnh lên cõi mộng/ thuyền lắt lay một chấm ngang trời/ đồi núi chập chùng say đắm/ khe suối thì thầm bí ẩn/ tầng tầng cú sóng đập vào tim/ lưng ngã khe Mài ngủ quên trên thác đá/ duỗi cẳng vũng ruà ngấm mát vào xương/ Cụng trán dương thông khói sương mờ má lạnh/ vấp mắt vụcĐầm sóng soải những tiên nương.”( Nhấp chén Khe Tân)

Đọc thơ của Ngô Hà Phương, dường như tôi đang nghe, ngửi, nếm, nắm nhẹ nhàng, thoang thoảng đâu đây mùi “hương” của quê lúa và quê núi, của tuổi thơ và tuổi già, của giấc mộng và sự thật. Thơ anh cảm động, chất chứa một tình cảm đôn hậu, gần gũi, truyền thống. “Con đã leo lên gò ông An bước cao bước thấp/ hái trái sim tím bầm bao nỗi nhớ nhung/ gỡ mảnh liềm trăng mẹ đất để cuối trời leo lét/ nhặt ánh mắt tròn xoe trước khoảng rộng chân trời xưa con thả cheo leo/ khựng ánh bùi ngùi trước gò ông Đầu lành lạnh/ …con nhảy tung tăng trên con đường thơm mùi hoa ngõ” ( Con đã về đây )

Có người bảo “thơ là trái tim”, rồi, “thơ là giọt lệ”, hoặc “thơ là vầng trăng thu chênh chếch ngoài song cửa”. Dẫu nói thế nào, đọc Bóng làng, tôi cũng cảm nhận tác giả đã khúc xạ, hoặc là anh đã “trầm thơ” ở trong các nhận xét ấy

 

Vâng, nếu “thơ là trái tim”, thì Ngô Hà Phương đã có trái tim hồng mọng nước, đập đâu đó phập phồng dấu yêu. “Sớm nắng chiều mưa chia dòng trong đục/ mẹ vẫn bốn mùa nuôi một dòng xanh/ khi đứng vọng người bên bờ nỗi nhớ/ mắt dòng sông hay mắt mẹ mênh mông/ tôi bây giờ đã qua nhiều sông suối/ nỗi buồn nhớ quê rười rượu sông người/ sông hỡi sông, hoàng hôn lênh đênh khói sóng/ khiến lòng mình xanh một nét chơi vơi” (Vẫn chảy sông ơi)

Nếu “thơ là giọt lệ”, thì lệ của anh cũng đã lung linh tan vỡ sinh thành những giấc mơ  thổn thức, cho anh niềm hy vọng để sống và yêu . “Giấu tuổi thơ vào cánh ve mắt phượng/ tôi lao về phía không gian chật chội tiếng người/ cơm níu áo, ngày lấn đêm, cơn mơ đè giấc ngủ/ bước mải mê quên lối cỏ mời/ Tôi đã đến tận chân trời khát vọng/…giờ trở lại hè vẫn tươi sắc nắng/ lá vẫn hát đầu cành hoa gạo lắc lư/ biết lấy gì đền ơn người cất giữ/ ngoài hai mái đầu đã sớm hoang vu” ( Vẫn sáng mùa hè ấy)

Nếu “thơ là vầng trăng thu chênh chếch ngoài song cửa”, thì anh đã có bài thơ Thu Xa rất gợi, nhiều hình ảnh đẹp. “núi thờ thẫn đón chân mùa se sắt/ sông lặng lờ phả mát giọt trong veo/ đồng ngọt xớt những câu hò gặt hái/ đường thơm lừng bao trang vở nắng reo/ hang lá trẻ chơi biết thu về, sắc đổi/ cành lạnh vườn thưa bần bật cánh chim sà/ lặng lẽ ao chiều thuyền lá tre bất động/ ngõ nhỏ đi về vàng nhuộm lối phôi pha/ bến vắng chiều nghiêng cha ôm cần tựa mộng/ngút ngát chè đồi mẹ lúi húi hái mơ” ( Thu xa).

Trên một nền ngôn ngữ dân dã, giản dị, một giọng thơ se sẽ, khe khẽ, dịu dàng, “ý được gợi ra nhiều hơn văn tự, chữ xoá đi nhưng hồn chữ ở lại”( Trần Đồng Minh), không a dua theo một xu hướng thơ hiện đại trúc trắc, khó hiểu, khó đọc, cũng không ham hố mang tính triết học về thân phận, chỉ đất và người, cùng đôi lúc ngỡ rặt là tiếng nói phản tỉnh về nỗi buồn sâu xa ( cõi tiềm thức) ( Mỗi lần cầm khăn xoá bảng/ biết là thương trách bàn tay/ những điều mình vừa mới giảng/ lẽ nào thành hạt phấn bay (Phấn bay)), tập thơ đầu tay Bóng làng đã “giội” vào tâm hồn bạn đọc một “cốc chè xanh tươi ngọt ngào”, đáng quí đáng yêu. Thành thật chúc mừng anh thành công, “dày dặn, sâu sắc, cao tầm” như nhà thơ Trúc Thông đã tin cậy.

Thêm góp ý

Thêm góp ý
authimage

Powered by Vnweblogs
© 2007 – Design by Omar Romero (all rights reserved)

Sông thơ (http://songtho.net )

Nhà thơ Nguyễn Vân Thiên và các bạn hữu đã hình thành một trang Web rất đẹp lấy tên là Sông Thơ tập hợp rất nhiều sáng tác mới rất đáng đọc .Nguyễn Hàn Chung trân trọng giới thiệu cùng quý bạn .Liên lạc với Sông thơ tại D/C caunoisongtho@gmail.com.

Tìm kiếm trang web này

Trang Chủ

CHÚC MỪNG MỘT MÙA GIÁNG SINH AN LÀNH & TRÀN ĐẦY THIÊN PHƯỚC *
XIN CHỜ 1 PHÚT ĐỂ NGHE NHẠC MỪNG GIÁNG SINH !
& Mời vào mục Buồm Thơ, đọc trang thơ Vọng GIÁNG  SINH :
* NHÓM   LỬA ĐÊM ĐÔNG ! @ vào mục Dòng Đời Tìm hiểu Phong tục & Ẩm thực mùa GIÁNG SINH có gì lạ ?*** Đặc biệt  đọc GIÁNG SINH BUỒN – Ghi chép tản mạn của Tác giả GÃ SIÊU ! ! !

Khi … rất

Nguyễn Hàn Chung

Khi thức em rất chiêm bao

Khi ngủ tôi mới lào cào thăm em

Khi đứng tôi rất cương lên

Khi nằm em mới tròm trèm giọt tinh

Khi no em rất ái tình

Khi đói tôi mới u minh lộn sòng

Khi em rất thẳng làm cong

Khi tôi tưởng ruột là lòng dạ ai

Khi tôi rất đúng thành sai

Khi em  rũ  sạch ra  ngoài sành sanh

Khi tôi vào trận  rất lành

Khi em cào cấu tanh banh tóc thề

Khi nào tỉnh  rất là mê

Là khi  tôi với  em  về bên kia

18/12/2010

Bà Bang Nhãn-Sự nối tiếp trăm năm của nguồn mạch thơ ca nữ Đất Quảng

Nguyễn Hàn Chung

Trang  thơ  Đất Quảng  thực sự được bắt đầu từ giữa thế kỷ XVIII với thơ ca của một người phụ nữ tài hoa : Phạm Lam Anh nữ sĩ nổi tiếng ngang hàng  và có phần sớm hơn ‘’Bà chúa thơ Nôm ‘’ Hồ Xuân Hương theo như nhận định của hai văn thần triều Nguyễn :Trương Đăng Quế và Phạm Liệu .Ngót gần hai trăm năm sau vào cuối thế kỷ XIX mới có một người phụ nữ đất Quảng  làm thơ khác mà đề tài sáng tác cũng lấy cảm hứng từ đất và người Quảng Nam –Đà Nẵng. Đó là bà Bang Nhãn (1853-1927) người ở làng Hà Nha nay là xã Đại Hồng ,huyện Đại Lộc . Trường hợp cuộc đời của bà có hơi giống chút ít với cuộc đời bà Huyện Thanh Quan : Người đời vẫn nhớ tên riêng nhưng lại không thường gọi mà lại gọi bằng chức vị của chồng . Ở đây chồng bà làm bang tá nên bà được quen gọi là bà Bang Nhãn dù tên thật của bà là Lê Thị Liễu .Hiện nay người đời sau cũng chỉ sưu tầm được hai bài thơ của bà: bài Qua Đà Nẵng cảm tác( còn có tên là Thăm Cửa Hàn ) và Vịnh núi Ngũ Hành cảm thán cho nỗi mất mát của quê hương Đà Nẵng khi mảnh đất non trẻ của đất Quảng trở thành nhượng địa cho kẻ thù xâm lược.

Qua Đà Nẵng cảm tác

Rầm rầm ngựa lại với xe qua

Nhượng địa là đây có phải a ?

Liếc mắt nhìn xem phong cảnh lạ

Ôm lòng chạnh tưởng nước non nhà

Nào tay hồ thỉ đi đâu vắng?

Nỡ để giang sơn cực lắm mà!

Nghĩ đến người xưa thương đất cũ

Căm gan riêng giận bác trời già.

Câu khai đề gợi ta nhớ đến một câu khai khác trong bài Thăng Long thành hoài cổ :’’ Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo “ của bà Huyện Thanh Quan song nỗi nhớ  niềm  đau của bà Huyện  là về một tấm cô thành với ‘’nền cũ lâu đài’’  chìm trong cảnh ‘’tang thương, tuế nguyệt ‘’. Nhưng dẫu rằng triều đại có đổi thay chứ giang san Việt vẫn y  nguyên’’nam quốc sơn hà ‘’ thì vẫn còn chấp chịu được,  còn nỗi đau của bà Bang Nhãn không đơn giản là sự giải bày ‘’một mảnh tình riêng’’ mà thật sự là một nỗi xót xa , quặn thắt trước sự đổi thay của non sông mất chủ. Cửa Hàn đã trở thành nhượng địa  ‘’rầm rầm xe ngựa’’ của Pháp với những cảnh trái tai gai mắt  trái với thuần phong mỹ tục nước nhà trở thành ‘’phong cảnh lạ ‘’.Câu thừa tác giả sử dụng dấu chấm hỏi cuối câu nhưng không có dụng ý nghi vấn ,nghi vấn gì nữa  khi lý trí  biết rõ hết rồi nhưng trái tim còn cố  lưu giữ niềm tin mong manh trong âm a ngân dài như muốn trì níu một điều gì khiến ‘’lòng chạnh tưởng’’: ’’Nhượng địa là đây có phải a ?

Hai câu luận vang lên ‘’ Nào tay hồ thỉ đi đâu vắng-Nỡ để giang sơn cực lắm mà !’’có sự đồng điệu với  hai câu kết  của cụ Đồ Chiểu trong bài Chạy Tây’’Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng -Nỡ để  dân đen mắc nạn nầy ‘’. Cũng hàm ý như nhà thơ mù đất Đồng Nai bà kín đáo phê phán những ‘tay hồ thỉ ’’ bình nhật quan lớn huênh hoang khoác lác bây giờ  trước súng gươm xâm lược của cường quyền xâm lược, lộ rõ sự hèn nhát cố hữu  của tầng lớp mình “để giang san cực lắm mà ‘’ Cụm từ ‘’cực lắm mà ‘’ thô mộc  rất Quảng mà không kém phần quặn thắt ,tủi đau.

.Bài Vịnh núi Ngũ Hành  ngôn ngữ thơ có hân hoan hơn thể hiện niềm vui trước thiên nhiên kỳ thú .

‘’Cảnh trí nào hơn cảnh trí này?

Bồng lai thôi cũng hẳn là đây

Núi chen sắc đá màu phơi gấm

Chùa nức hơi hương khói lộn mây

Ngư phủ gác cần ngơ mặt nứơc

Tiều phu chống búa dựa lưng cây

Nhìn xem phong cảnh ưa lòng khách

Khen khéo thợ trời khéo đắp xây!’’

Tứ thơ nằm trong mạch cảm  trước vẻ đẹp  giang san gấm vóc của các thi gia trung đại đậm hơi hướng dân giã tuy vẫn là những thi liệu  Hán -Việt cũ :’’Bồng lai, ngư phủ,tiều phu’’ song sự Nôm hoá đã được tác giả có ý thức vận dụng đa dạng phong phú hơn trong các cụm từ thuần Việt “núi chen sắc đá, chùa nức hơi hương,gác cần,chống búa , ưa, thợ trờivv…’’nhờ vậy trong ngôn ngữ thơ sự trang nhã đài các đã hoà trộn với sự nôm na rất Quảng tạo thơ bà có  một chỗ đứng riêng biệt không lẫn vào đâu, với ai dù đặt  trong mối tương quan với các nhà thơ  làm thơ vịnh cảnh cùng thời hoặc trước sau chút ít của văn lâm đất Quảng nói riêng và văn chương cả nước ,nói chung.

Cùng với nữ sĩ Phạm Lam Anh của thế kỷ XVIII bà Bang Nhãn thật sự đã góp phần làm nên một nét đẹp vô cùng quý giá cho thơ ca nữ đất Quảng trong suốt chiều dài lịch sử hàng  trăm năm.Cho đến hôm nay những người phụ nữ làm thơ đất Quảng vẫn chưa xuất hiện nhiều trên thi đàn cả nước huống hồ thời bấy giờ,cái thời nam tôn nữ ti ấy  đất Quảng địa linh nhân kiệt sản sinh được một người phụ nữ làm thơ Nôm thành thục có bản sắc riêng  như bà Bang Nhãn thật sự là niềm tự hào  vinh dự lớn cho tất cả con cháu chúng ta.

VỀ THĂM QUÊ

Lê Lộc


Về quê. Một chuyến đi vội vàng, gấp gáp. Nhưng về quê bao giờ cũng thế, lòng cứ rộn ràng, háo hức, thắc thỏm, hồi hộp… Mười lần như chục, hể hả niềm vui, tíu tít nỗi mừng. Như thể nơi đây là nặng nề, ngột ngạt, bụi bặm… Còn ngoài nớ mới nhẹ tênh, phóng khoáng, trong lành…

Về, là về tạ lỗi trước mộ cha kính yêu, nơi đầu làng quạnh hiu nhang khói. Đốt nén hương mà lòng con thổn thức, nước mắt đầm đìa. Một đời cha vất vả, cơ cực. Cha từng dầm mưa dãi nắng, làm lụng cật lực, ăn uống kham khổ, chắt bóp từng đồng nơi quê nghèo gởi ngược vào thành phố cho cháu nội ăn học, cùng nuôi giấc mơ đổi đời với con, với cháu. Thấm thoát mười lăm năm rồi còn gì. Giấc mơ đổi đời đã lụi tàn dần theo năm tháng nghiệt ngã, mà cuộc đời vẫn chưa đổi thay là mấy. Tóc con đã bạc tự bao giờ. Rồi con cũng hiểu ra triết lý sống giản đơn “tri túc” của người xưa, để tự an ủi, tự vỗ về. Vẫn còn sót lại những phút giây trầm ngâm, giằng xé. Nhưng lòng đã nghe thanh thản, nhẹ nhàng hơn.

Về, là về với mẹ già đang từng ngày thắc thỏm chờ con. Đâu ngờ mẹ đã ra đầu ngõ đón con từ lúc nào. Ánh mắt sáng lên niềm vui, nụ cười tươi tắn, bao dung, hiền từ. Nắm tay con, mẹ quở: “Họ đi Sài Gòn, ai cũng mập ù, còn con răng mà cứ ốm nhách, ốm nhom như ri con hè?!”. Con ái ngại, lúng ta lúng túng chẳng biết nên trả lời mẹ thế nào đây. Đâu phải hễ ai đi ra cũng… “mập” đâu mẹ, ngậm ngùi con nghĩ bụng. Mập, thường vẫn khiến người ta liên tưởng về một cuộc sống đủ đầy, ấm no, sung túc. Mà con của mẹ hãy còn… , trong khi đời mình đã gần xế chiều rồi. Nhìn con ra vẻ đăm chiêu, mẹ chột dạ: “Ý chết! Mẹ nói rứa làm con buồn phải không? Thôi, vô nhà tắm rửa rồi ăn cơm, mẹ nấu sẵn rồi”. Mâm cơm dọn ra, mẹ ăn qua quít, chỉ lo sớt cơm, gắp thức ăn cho con. Con chợt cảm nhận tình mẹ cao cả đến dường nào: “Mẹ chín mươi tuổi vẫn còn lo cho con bảy mươi” là vậy!

Về, là về thăm em gái mến thương. Em hiền lành, chân chất. Em chịu khó, tận tụy, hy sinh. Mà đời em mãi lao đao, lận đận. Suốt thời con gái, em ở cùng cha mẹ, để anh chị yên tâm dắt con ra đi với giấc mơ đổi đời làm hành trang. Khi cha ngã bệnh, nằm liệt giường, em vừa lo phụng dưỡng vừa lo cáng đáng mọi việc trong nhà ngoài đồng. Lần lữa mãi rồi em cũng phải có chồng. Phải có một đứa con để nương tựa lúc tuổi già bóng xế chứ! Phận gái mười hai bến nước, số phận đẩy đưa em trôi dạt tới bến “có chồng cũng như không”. Nhưng, em vẫn thế, lặng thầm chịu đựng. Nhìn em gầy gò, quắt héo, lòng anh lại rưng rưng buồn!

Về, là về nhìn lại mảnh vườn cũ, mái nhà xưa. Mà lòng chết lặng. Nhà mình đấy ư!? Vườn không, nhà trống. Hoang lạnh, tiêu điều. Thoáng chốc, một quãng đời yên ả, ấm êm bỗng xa hút, mất tăm… Cứ như là chưa hề có. Nhớ, nhớ quặn lòng cái thuở trên nền đất này, cha mẹ, anh em quây quần, xúm xít dưới mái nhà đơn sơ, nhưng vô cùng ấm cúng. Kể từ khi  vợ chồng con khăn gói vào thành phố mưu sinh, các em lần lượt rời mái ấm theo chồng. Rồi đến lượt cha ra đi vĩnh viễn về cõi khác. Mẹ già yếu, mong manh như đèn trước gió. Mà mưa bão, lũ lụt miền Trung bao giờ cũng dữ dội, tàn khốc. Cuối cùng, mẹ phải bỏ nhà tạm lánh sang bên ngoại. Đành đoạn mỗi người một nơi, đau thắt ruột gan. Chiều nay, dưới mái hiên nhà quạnh vắng, liêu xiêu dáng đứng, chơi vơi nỗi niềm, nước mắt con lại rơi, và mất hút giữa cơ man là cỏ dại!

Về, là về dạo thăm ruộng đồng. Cởi bỏ giày dép, xắn quần đi chân trần, lội khắp triền kênh, bờ ruộng. Để tìm lại chút giao cảm giữa bàn chân ta, là da thịt, là xương máu của người với đất. Đất và người đã từng là của nhau, trong nhau. Những sáng sớm tinh mơ, ruộng đồng đã thức dậy đón bước chân trần. Lưỡi cuốc, đường cày lật đất lên, trưa hè bỏng rát lòng bàn chân. Nước và đất quyện vào nhau, cái lạnh cuối đông cắt da cắt thịt, chân người vẫn lấm lem bùn đất. Mồ hôi và nước mắt rơi thấm vào đất. Tinh lực của người cùng ân tình của đất hoà quyện và chuyển hoá thành  dưỡng chất để bật ra mầm sống cho hạt lúa, củ khoai, trái bắp… Tình người và đất qua từng ngày, từng tháng, từng năm đã gắn kết, bền chặt. Thế mà hôm nay, bỗng ngậm ngùi nhận ra, bàn chân trần của ta, đã từ lâu không chạm đến, không được tiếp xúc với đất, dường như đã lạ lẫm, đã nguội lạnh cảm xúc về đất!

Vài ba ngày ở quê trôi qua thật nhanh. Lại phải quay vào thành phố. Ở phố dường như khó mà nhìn thấy đất, để gần gũi, thân cận với đất. Gạch đá, bê-tông, đường nhựa… giành giật từng tí một, để lấp che, phủ kín, ngăn cách đất. Thế rồi, bàn chân trần lại thèm, lại nhớ quắt quay cảm giác êm ái, đằm thắm khi dẫm lên cỏ dại của những nẻo đường làng quê!

LÊ LỘC

Gió đèo Le

Lê Thị Điểm

Nếu được làm ngọn gió đèo Le

Em sẽ đi tìm đôi dép lạc mang vào chân mẹ

Nâng nhẹ gánh vai cha

Và ru anh

những khi anh mỏi phố về nguồn

Có thể

Chỉ là bóng chim, tăm cá

Gió đèo Le vẫn dịu dàng, cần mẫn

Thổi qua thung nắng

Sẽ rất hạnh phúc

khi đươc làm ngọn gió đèo Le

Dẫu mây chiều xa giăng mờ bóng núi

Tiếng vạc kêu hun hút cuối chân trời

Biết chẳng là gì so với gió đèo Le

Nhưng em vẫn ước !

Thấy trùng trùng bay nhớ loạn

Nguyễn Hàn Chung

Thương con sẻ đồng trốn chui trốn nhủi

bọn âm hồn bất tán

lùng sục không sót nhành cây bụi cỏ nào

chúng nhai rau ráu nỗi buồn chim sẻ

mùi thơm đau chim non

Tôi chạy mù mịt đắng họng

gãy cổ ngắm lớp lớp đàn đàn chim bay bang Texas

chúng bay sướng

chẳng biết sợ ai

nhẩn nha  lu bù lầu cao cột điện

nguýt háy kít bụp loạn xạ chớt nhả  mấy tên cu li da màu khiêng bê…

Mùa mưa khô mưa

tuyết còn lang thang đâu miền bắc

những khu rừng nguyên sinh cây ríu rít xanh

cái cây mầy cũng sướng

không ai rờ rẫm râu ria ra rậm rịt từ thuở mẹ cha sinh

Con sông gầy gò quê tôi

quen thói lên bờ xuống ruộng

lính quýnh chảy về đông

thi thoảng đến kỳ kinh  cũng lên cơn đồng bóng

ăn sống nuốt tươi đám rách rưới bần hàn

con sông này đây sướng rơn

rong chơi óc ách quẩn quanh nuôi sống côn trùng

Cả cum mây vàng mây xanh mây xám

mầy cũng sướng

nhởn nhơ bay tán loạn xà bần

thỏa thích bốn phương tám hướng

mây quê mình chỉ biết lính quýnh về tây

theo chiều gió đông gió chướng tạo cơn

mưa cuối thu , đầu đông trẩy hội côn đồ

giông  gió ,bão lũ quăng quật cuống cuồng xô tất thảy rơm rạ tranh tre xuống biển đông mù mịt

Làm gì có cao xanh đâu  mà kêu thấu

dao găm đồng lõa với nam mô

thế gian toàn điệu khải truyền nát bét

đầy dẫy những con giòi con sâu tương cận

Thành một nấm,  em và tôi.

Texas Nov15 – 2010

Thi trung hữu Vidéo

 

Mời quý bạn xem video Thả thơ vào tranh của một số nhà thơ và họa sĩ nỏi tiếng trong :

d d d tha tho vao tranh_baygiothangmay