Sự hòa hợp của những phức điệu

Huỳnh Thị Thu Hậu

Dọc Như cỏ dại như lá úa như cây xanh(*) của 5 tác giả thơ đầy cá tính: Nguyễn Chiến, Phạm Tấn Dũng, Phùng Tấn Đông, Huỳnh Minh Tâm, Đỗ Thượng Thế, tôi cảm nhận được đây là một tập thơ để lại nhiều suy tư. Và, đó còn là một thanh âm lạ giữa những thanh âm đã rất quen thuộc.

Cảm xúc đầu tiên là sự trang nhã, ấn tượng của tập thơ. Những tác giả “Bắc Thu Bồn” này rất trau chuốt khi chọn lựa màu giấy, tranh bìa. Màu giấy vàng thanh nhã và bức tranh đơn giản nhưng đa nghĩa. Năm mươi bài thơ được tuyển là những đứa con tinh thần đã được 5 anh em hoài thai trong khát vọng giao cảm, đồng điệu trên con đường thi ca.

Có một phạm trù thơ và phạm trù siêu thơ. Như cỏ dại như lá úa như cây xanh nằm giữa lằn ranh của hai phạm trù đó. Một Nguyễn Chiến lãng mạn với Khúc tình mưa, Ngày tình cũ, Ngày trái tim lên ngôi. Một Phạm Tấn Dũng siêu thực cùng Tạ với thung xưa, Cảm giác. Một Phùng Tấn Đông hơi hướng “hậu hiện đại” với Trình diễn thơ, Bài tìm thấy sau nhiều năm, Về một mùa xanh xa Huỳnh Minh Tâm, Đỗ Thượng Thế vừa hiện đại và hậu hiện đại.

Trên hành trình tìm kiếm và sáng tạo cái Đẹp, họ đã gặp nhau. Năm phong cách, đa dạng nhưng thống nhất ở giọng điệu. Thơ của 5 “thi mã” Bắc Thu Bồn này là thơ điệu nói. Giọng điệu thơ đẫm hơi thở của thời đại, của người trẻ:

tôi ơi em ơi

đừng nói đừng nhắc đừng gợi nhớ

mùa xa thẳm

những lau khô xám lạnh ven đường

(Về một mùa xanh xa – Phùng Tấn Đông)

…Có con chim săn đuổi các dự định

Có cảm giác của một người thợ săn người đi câu người kỵ sĩ

Cảm giác là con thú mạnh con hươu con cá hồi con ngựa

Và ngược lại những dự định

Cảm xúc đi tìm mình tóm lấy mình cưỡi lên điều khiển

(Cảm giác – Phạm Tấn Dũng)

…Graffiti

Những giấc mơ Graffiti

Writer đánh cuộc đời mình

Đâu đó

Tiếng chim vừa thoát khỏi đường viền sương khói

(Graffiti – Đỗ Thượng Thế)

ta đứng dưới mây nhìn mây bay

ly sầu ly sầu mà chi cô đơn mà chi

tháng mười một cài hoa lên tóc

chảy trăng tứ xứ chuông ngân thánh thót chuông vọng hồi

 

chuông ngân thánh thót mà chi

chuông nằm im trên vạt cỏ chuông treo trên tay người

từ đâu tới đây để ngóng vọng

vứt tiền qua cửa vứt đời qua cửa

mà không vứt được nỗi buồn

(Bài thơ tình yêu tháng mười một – Huỳnh Minh Tâm)

Tôi lạc về đâu

Chân trần bước lạc linh sa mạc

Chống chèo vô vọng

Giữa đại dương cuồng nộ

Lụt trời nước dựng

Sa mạc lớn dần

Ẩn ngữ thi ca

Không còn ai hiểu

Tôi ném đá vào tôi

Bầu trời ứa nguyệt

Cánh chim

(Đi lạc – Nguyễn Chiến)

Những câu thơ gấp gãy chứa đựng sức nặng triết lí, mang tính tư tưởng:

Bèo trôi lửa trôi

Bướm vàng cũng trôi

Mi rồi cũng trôi

Tau rồi cũng trôi

Trôi

Rồi trôi rồi trôi

(Giấc cỏ chỉ - Đỗ Thượng Thế)

Con chim núi là ta hay ta là con chim núi

Vút một tiếng tắt cổ

Bi thương và mê ly

(Bài thơ tình yêu tháng mười một – Huỳnh Minh Tâm)

Phảng phất trong thơ là niềm bi cảm của vẻ đẹp Á Đông. Tựa hồ như quan niệm của Komachi trong bài thơ sau:

Hoa đào rơi

Nhan sắc phai rồi

Hư ảo mà thôi

Tôi nhìn thăm thẳm

Mưa trên đầu tôi

Những câu thơ đẹp và lạ đánh thức tâm trí người đọc:

Chuyện như sông

Chảy

Chảy

Chuyện như núi

Cao

Cao

Chuyện như biển

Sóng

Sóng

(Câu chuyện đời con người ta – Huỳnh Minh Tâm)

Thơ của họ là tiếng nói của những dự cảm mong manh, của tâm linh, trực cảm, của vô thức, cổ mẫu và giấc mơ:

Trong giấc mơ ngắn

Thường có giấc mơ đàn ông không biết về ranh giới

Nhặt những viên sỏi ủ dưới lòng sông mưa ngày

Ném trả về phía đại ngàn âm âm tiếng lá vỗ về

Tiếng nỉ non ve rừng nuốt cạn bờ sương triền suối

Rồi mơ cái nỗi ngâm chân của biển

Ngửa mặt hứng mưa trời thắt nhịp hoàng hôn

(Giấc mơ đàn ông – Phạm Tấn Dũng)

Phạm Tấn Dũng đã nói được cái mơ hồ, không biên giới của giấc mơ. Có rất nhiều giấc mơ nữa thường trực trong mười bài thơ của anh:

- Khi cơn mơ vừa sinh ra

Còn díu dan đói khát nỗi mong chờ

(Những ý nghĩ không rời)

- Cơn mơ không tự thức dậy

Tôi sinh tôi ở mảnh vườn khác

(Vườn khuya)

Trong cảm hứng bất tận về giấc mơ, Nguyễn Chiến lại nói một cách khác:

Giấc mơ đầy tiếng ếch nhái

Cánh đồng khô cong

Lỗ nẻ lọt chân trâu

Mưa xanh mưa trắng mưa tràn

Giấc mơ mẹ già nụ trầu đỏ

Áo gấm thung thăng hội làng

(Giấc mơ – Nguyễn Chiến)

Đó là giấc mơ níu giữ vẻ đẹp của một thời vang bóng, của những giá trị vượt thời gian. Cũng giống như Đỗ Thượng Thế:

Giữa dòng nỗi mình phơi cạn

Ta lại mơ bống vàng từng thiêng lòng giếng

(Giữa dòng)

Như cỏ dại như lá úa như cây xanh là sự phá vỡ ranh giới thể loại. Thơ văn xuôi với những bứt phá về lạ hóa ngôn ngữ: …đếm và gõ thăng hoa đến hạn đến lúc hắn tự biết trình diễn thơ hay thơ trình diễn sau rốt không quan trọng đến khi cử toûa ồ à wov… (Trình diễn thơ – Phùng Tấn Đông).

Sự lạ hóa ngôn ngữ kia còn là những khoảng lặng biết nói trong thơ của Đỗ Thượng Thế:

Ngày — tháng — khởi hành bão táp

Soi bống bống bang bang…

Xác ánh đèn phố bụi

Lẫm chẫm – lẫm chẫm suơng chiều…

Trong 5 phong cách thơ, Phùng Tấn Đông là người để lại nhiều ám ảnh nhất. Vì trong thơ anh có vẻ đẹp của yếu tố kinh dị kiểu Edgar Poe. Những hình ảnh trong mười bài thơ của anh không thuộc kiểu hình ảnh theo vẻ đẹp truyền thống quen thuộc mà là những biểu tượng của yếu tố kinh dị: cuốc kêu trăng chảy máu, thủa thịt da chớp giật giông gió kéo về em thơm con sùng đất, gặp lũ ma đêm – chơi trò cút bắt, mặt tròi ngún khói, đồng cỏ trôi lem nhem bóng tối, cơn gió mịn mướt lông măng thổi rợn mặt người, tiếng mèo hoang gào gió bấc

Sự cách tân của 5 tác giả trong tập thơ Như cỏ dại như lá úa như cây xanh không nằm ở chuyện hình thức hay lạ hóa câu chữ. Họ viết bằng chính chiều sâu thăm thẳm của linh ngôn, của trải nghiệm với con người thứ hai – con người của vô thức huyền bí. Thơ của các anh là tiếng nói dự cảm của thế giới đổ vỡ, rạn nứt, thơ giải thiêng, thơ chống lại sự giáo điều, mực thước, khuôn mẫu… Phần lớn các bài thơ có tứ đẹp: Gởi X, Điệu buồn ru tuổi thơ tôi, Giấc mơ đàn ông, Kì khu thơ, Câu chuyện đời con người ta, Giấc cỏ chỉ, Giấc mơ

Giá trị của tập thơ không chỉ nằm ở kĩ thuật viết độc đáo mà còn nằm ở tư tưởng nhân văn, thông điệp mĩ cảm mà nó chứa đựng. Đối với các anh, thế giới phải được liên tục định nghĩa lại và để làm được điều đó, họ liên tục khám phá những góc nhìn mới để không lặp lại người khác và không lặp lại chính mình. Vì vậy để đọc được Như cỏ dại như lá úa như cây xanh với lí trí thôi chưa đủ, chúng ta cần phải đọc bằng cả tâm hồn, trái tim, sự trải nghiệm của tiếng nói bên trong. Tôi xin mượn lời của Huỳnh Minh Tâm để khép lại những cảm nhận của mình:

Trước khi viết một câu thơ

Thả một hạt sen xuống hồ

Khóc ba ngày

Cá mang hạt sen ba ngày giấu dưới bùn đen

Sau khi viết một câu thơ

Cười ba ngày

Hoa nở một bông mùa bấc

Sống lưng lạnh buốt

kì khu thơ

H.T.T.H


(*) NXB Văn học, tháng 12-2011

LÊ LỘC

LẠY CHA

đất quê chôn núm rún mềm

trăm năm chờ rụng trái tim về cùng

lạy cha ngủ giữa cội nguồn

cạn đời lạc chợ trôi sông con về.

MẸ GIÀ

cõi còm, trơ trọi, nghiêng xiêu

nhạt nhòa dáng mẹ buốt chiều tiễn con

hiên đời mưa tạt gió luồn

lại mong manh, mẹ mỏi mòn đứng trông.

NHÀ XƯA

cột xiêu, phên nát, nhà hoang

đã tôi mục rệu, mơ tàn giấc chưa?!

dựa cây mít góc vườn, mưa

mốc meo khóm rụng, khóc xưa xanh cành.

2/2012

LÊ LỘC

Thơ lục bát Nguyễn Bá Hòa trong “Thuyền Hạnh”

 

Nguyễn Chiến

Tôi không làm công việc giới thiệu thơ Nguyễn Bá Hòa. Nếu giới thiệu, tôi sẽ viết bài đăng báo. Ở đó, tôi sẽ nói nhiều đến cái hay của thơ Nguyễn Bá Hòa để bạn đọc tiện thưởng thức, đở mất công đi tìm. Nguyễn Bá Hòa không thích thơ mình bị đem ra mổ xẻ, luận bàn vô lối. Trong thơ mình, anh đã từng “mắng” những kẻ “luận bừa”: Ngồi nhậu đặc sản dế Nhớ ông Tô Hoài xưa Chuyện văn chương lại để Đám Lưu Linh luận bừa Ở đây, trong hội thảo về thơ do Hội Văn học nghệ thuật tổ chức, tôi xin phép bàn đến chỗ được, chỗ chưa được của thơ Nguyễn Bá Hòa. Từ chỗ hay, chúng ta học tập cách thức tiếp cận hiện thực, cách thức sử dụng các yếu tố nghệ thuật… Từ chỗ chưa hay, chúng ta rút kinh nghiệm chung. Tôi chỉ đi vào mảng thơ lục bát trong tập Thuyền Hạnh của anh. Tập Thuyền Hạnh có 79 bài thơ bốn câu, trong đó 59 bài lục bát, tỉ lệ gần 75%. Có thể nói sở trường của Nguyễn Bá Hòa là thơ lục bát; anh chọn thể lục bát để đi vào thế giới thi ca. Người ta hay nói thơ lục bát dễ viết nhưng viết cho hay rất khó. Tôi không nghĩ như vậy. Thơ lục bát là lời ru bên nôi nên chúng ta thấy gần gũi, quen thuộc; thật ra nó là thơ thanh điệu, đã tồn tại qua hàng ngàn năm, có hình thức phát triển đến mức hoàn thiện nên là thách thức lớn đối với những ai muốn đi tìm cái đẹp với thể thơ nầy. Lục bát bốn câu lại càng khó hơn; vì cần có tứ thơ để ý tình có chỗ trú ngụ, phải nén lại để nổ vỡ, phải chặt chẽ trong bố cục như bài tứ tuyệt luật Đường… Nguyễn Bá Hòa tự dẫn mình vào con đường gập ghềnh, dễ bị “sập bẫy thơ”, dễ rơi vào “cạm bẫy chữ”. Không ít người phải chia tay với thơ lục bát, đến với thơ tự do, để không bị vần nhịp o ép bó buộc! Trên con đường ấy, Nguyễn Bá Hòa đã có những bước nhịp nhàng, hoa mĩ và thi thoảng có cả những bước lao đao. Nguyễn Bá Hòa lập tứ như thế nào? Ở những bài thơ không có tứ, thường đơn nghĩa: Thơ em Bài thơ em gởi bốn câu Ý lời thô vụng chẳng sâu nặng tình Ngoa ngôn vô sắc vô hình Nhưng là tứ tuyệt của mình tặng ta Trăng xế Bấy lâu sao chẳng nói năng Bây giờ năng nói thì trăng xế tà Thôi đành mở trái tim ra Dẫu trăng đã xế vẫn là trăng thôi Hai bài thơ có lối viết đơn giản, thơ thiếu hàm ngôn, phô ra giọng kể lể, giải thích; chữ “nhưng”, chữ “dẫu” như gã xấu trai bị ép phải đứng ngay ở đầu hàng nên lúng túng, ngượng nghịu lắm. Song cũng có bài đơn giản mà hồn hậu, rất có duyên: Trưa quê Mướp vàng hong nắng ngoài sân Cây rơm tròn lửng phơi trần dưới trưa Cây cần vọt, cái gàu đưa Đi đâu vẫn nhớ buổi trưa quê nhà Ở những bài có tứ nổi, tuy năng lượng chưa nén chặt để bùng nổ nhưng người thơ vẫn gởi gắm được nỗi niềm: Được – mất Thơ anh u ám lâu ngày Đem ra giặt sạch phơi đầy trước sân Tình cờ cơn gió ghé thăm Thổi phần chua xót để phần yêu thương Nhờ cái tứ, người đọc không chỉ nghĩ đến chuyện được – mất trong chuyện làm thơ mà còn nghĩ đến chuyện được – mất của đời người; mà theo anh, chỉ có sự tình cờ ngẫu nhĩ và quyền năng của siêu nhiên mới cuốn đi cái phần chua xót, đem đến phần yêu thương cho con người. Một ý thơ sầu nhưng sáng lên mơ ước được trải lòng, mơ ước chỉ có tình yêu thương, đừng có cay đắng trong cõi người. Valentine Lẽ nào chỉ một ngày yêu Tính ra là cả xuân đều nhớ mong Cớ sao chỉ một nỗi lòng Hãy yêu tất cả người trong cõi đời Một tứ thơ lạ. Ngày tình nhân chỉ là một, còn ngày yêu của tình nhân thì 365, cả kiếp trước và kiếp sau nữa. Đã vậy thì hãy mở lòng ra yêu cả – và thiên hạ. Tình yêu vốn ích kỉ, không ai chấp nhận san sẻ nhưng trong bài thơ lại mở ra phía tha nhân và nhuốm màu bác ái. Nguyễn Bá Hòa làm nhiều thơ tình, với những tứ thơ đẹp (Ngả ba sông, Tượng đá, Người mơ, Thiếu nữ, Đành thôi, Xao lòng, Nguyệt thực, Sao băng,…) Lời yêu trong thơ Nguyễn Bá Hòa hòa trong tiếng kinh cầu, thơm như tình ái của ni cô (Hàn Mặc Tử), chứ không có sức nóng của sự va chạm giới tính: Sao băng Vỡ ra từ khối lửa tình Băng băng trong cõi nhân sinh ghẹo người Trong đêm nhặt mảnh sao trời Kết thành tràng ngọc tụng lời kinh yêu Lỡ đánh rơi ánh mắt bên đường thôi, mà đã đứng trước gương soi lại mình, đã cảm thấy mất một chút chung tình với em rồi: Xao lòng Đánh rơi ánh mắt bên đường Về nhà ái ngại soi gương tìm mình Trong gương nguyên vẹn dáng hình Mắt chăng? Một chút chung tình với em Hãy đọc bài Thiếu nữ: Cây thiếu nữ trổ hoa xuân Nụ duyên hàm tiếu thơm ngần hương trinh Gió hây hẫy, nắng rập rình Chim lơi cánh vỗ, riêng mình lặng im. Thơm ngần hương trinh, gió hây hẫy, nắng rập rình, chim lơi cánh vỗ… Rõ ràng, người thơ không phải là không có ánh nhìn giới tính trước nhan sắc mĩ nhân. Nhưng sao lại lặng im, từ tâm đến vô tâm làm vậy? Như thế là có lỗi trước cái đẹp rồi. Đồng Đức Bốn dám viết: Em bỏ chồng về ở với tôi không? So sánh với người đàn ông trong thơ Đồng Đức Bốn, người đàn ông trong thơ Nguyễn Bá Hòa mẫu mực quá, đạo hạnh quá chăng? Chữ tình trong thơ anh thường gắn với chữ duyên. Chữ duyên xuất hiện với một tần số khá cao và phong phú về hình thức kết hợp: tình duyên, tơ duyên, nụ duyên, nhành duyên, tấm duyên; tìm duyên, bắt duyên, duyên nảy mầm; duyên lành… Hình như người đàn ông trong thơ anh không thích những biểu hiện cụ thể của tình yêu mà chỉ “yêu chay” và chiêm bái cái duyên gặp gỡ trong đời. Những bài thơ có tứ chìm thường sắc sảo, đa nghĩa. Tứ thơ lẫn vào hình ảnh, vào lớp áo ngôn từ nên ý thơ kín đáo, nhiều dư vị khó quên: Cầu vồng Ghé chân vào cõi mênh mông Đưa tay ướm thử cầu vồng mấy gang Buồn chi! Chức Nữ – Ngưu Lang Chiều nay nắng gọi mưa sang bắc cầu Chức Nữ – Ngưu Lang là biểu tượng của tình yêu trắc trở. Từ chuyện Chức Nữ – Ngưu Lang, người thơ thương những trái tim yêu trong khổ đau rồi muốn làm cái gì đó để đưa những người yêu nhau đến với nhau, chí ít cũng là lời an ủi hay gợi cho họ một niềm tin sum họp, dù vô thường như nắng gặp mưa. Đó là tấm lòng thơ đối với nỗi đau nhân thế. Bài Giếng cổ cũng có cái tứ chìm lấp song gợi bao điều sâu xa: Cái giếng cổ bằng đá ong Cả làng uống, nước xanh trong bốn mùa Lẫn trong nước tiếng chuông chùa Tiếng thiêng liêng tự ngàn xưa vọng về Cái giếng cổ bằng đá ong là do con người làm ra từ xưa, đã thành tài sản chung của làng. Đó là mạch nguồn xanh trong bốn mùa không vơi cạn và hòa trong đó là tiếng chuông chùa từ ngàn xưa vọng về. Giếng cổ trở thành giá trị văn hóa đẹp đẽ, thiêng liêng và không thể thiếu trong cuộc sống mọi người…Bài thơ hay, chỉ tiếc chữ “lẫn” dùng chưa đắt. Ca dao giàu hình ảnh so sánh, ẩn dụ; lục bát trong tập Thuyền hạnh của Nguyễn Bá Hòa rất hiếm hình ảnh so sánh (chỉ có 3 hình ảnh so sánh) nhưng có cả hệ thống hình ảnh ẩn dụ. Đây là nét đặc sắc của lục bát Nguyễn bá Hòa, làm cho thơ anh có dư ba. Xin thống kê ra đây: hương gió, mùi ve, hương trinh, đêm trầm hương, tình xưa xanh, tình ươm vàng, màu em, mùa ái ân, nhành tương tư, trái hân hoan, trái yêu, trái xuân, hạt phôi pha, mầm quên, nụ xuân, cây vạn hạnh, cây thiếu nữ, nụ duyên, dây tình duyên, tấm duyên, chồi yêu, lộc tình, áo chiều, chén tình, lửa tình, khói lòng, bến xao lòng, triền nhớ nhung, đỉnh phong trần, đôi mắt dao cau, hàng cây ngữa mặt. Mùi ve, hương gió, tình ươm vàng, tình xưa xanh, đêm trầm hương… là những hình ảnh ẩn dụ được xây dựng theo cách thức chuyển đổi cảm giác của thơ tượng trưng. Những hình ảnh ẩn dụ – tượng trưng nầy làm cho câu thơ đẹp và giàu ý nghĩa. Qua đó, tác giả đã chứng tỏ mình là một nhà thơ có trực cảm mạnh và tinh tế. Đặc biệt hơn là cách sử dụng hình ảnh ẩn dụ có màu sắc siêu thực. Tác giả sắp xếp những hình ảnh đứng cạnh nhau một cách ngẫu nhiên, như không hề có liên quan gì. Hình ảnh thơ khác lạ, phi lí ẩn chứa nhiều nét nghĩa mới, có nét nghĩa ngã về phía vô thức, tiềm thức. Sự kết hợp các hình ảnh, từ ngữ vốn xa lạ, không hợp lô-gíc như: khói lòng, trái hân hoan, trái xuân, áo chiều, ngữa mùa, hàng cây ngữa mặt, triền nhớ nhung, hạt phôi pha… là những ẩn dụ đa tầng có màu sắc siêu thực, tạo nên hiệu ứng ngữ nghĩa, gây bất ngờ cho người đọc. Câu thơ như bông hoa lạ, làm ta phải ngắm nhìn lâu: – Hàng cây ngữa mặt nguyện cầu Chồi yêu tức ngọn nảy đau lộc tình (Nguyện cầu) – Nghiêng chiều rót nhớ vào đêm Ngữa mùa hứng giọt sương mềm vẹn nguyên (Thiên nhiên) – Gió mùa thả ngọn vô hương Gót hoàng hôn dẫm nát vườn chiêm bao (Vịn chiều) – Tiếng ru chạm nắng vườn trưa bỗng mềm (Hạ) Đó là những câu thơ tài hoa của Nguyễn Bá Hòa. Hay, khó cắt nghĩa nhưng… không mới. Ta đã thấy nhiều trong thơ Nguyễn Xuân Sanh, trong lục bát Bùi Giáng, trong ca từ của Trịnh Công Sơn,…rồi. Có thể nói lục bát của Nguyễn Bá Hòa là lục bát “rin”. Gieo vần, ngắt nhịp, hài thành không có biến cố. Nhịp lục bát là nhịp ru, được xây dựng trên cơ sở nhịp 2, đều cho tất cả các câu 6 và câu 8. Phá cách phải có ý đồ nghệ thuật rõ ràng. Lục bát trong Thuyền hạnh chỉ ba bốn bận ngắt nhịp lẻ, song dường như không có sắc thái biểu cảm gì: – - Đi một bước/cũng xuất hành Một câu thơ/cũng duyên lành/đầu năm. (Xuất hành) – Gót hoàng hôn/dẫm nát vườn/chiêm bao. (Vịn chiều) – Cái giếng cổ/bằng đá ong Cả làng uống/nước xanh trong/bốn mùa Lẫn trong nước/tiếng chuông chùa Tiếng thiêng liêng/tự ngàn xưa/vọng về (Giếng cổ) Ba lần tác giả tỏ ra mạnh dạn sử dụng các dấu câu ! ? . ở giữa dòng thơ làm cho câu lục bát có chút mới mẻ: – Buồn chi! Chức Nữ – Ngưu Lang – Mất chăng? Một chút chung tình với em – Ta trôi vướng giữa đời nhau. Gọi là Thơ lục bát của Nguyễn Bá Hòa khơi mở cho chúng ta nhiều vấn đề. Lục bát hôm nay phải viết như thế nào? Có nên đổi mới thơ lục bát không? Và đổi mới theo hướng nào? Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp trong bài “Giới thiệu thơ Đồng Đức Bốn” không tin ở sự cách tân thơ lục bát và đã nặng lời: “Tôi đã thấy sự suy đồi, sa đọa của thơ lục bát ở ta kể từ khi Nguyễn Bính và Bùi Giáng mất đi”**. Ông còn viết: “Những cố gắng cách tân lục bát, xét cho cùng giống như người già làm răng giả, người què đóng nẹp chân”**. Đó là ý kiến cực đoan. Không thể nói vì thơ lục bát là đặc sản, là quốc hồn quốc túy của dân tộc nên phải giữ nguyên gốc. (Lục bát đâu chỉ là của riêng của người Việt. Nhà thơ Inrasara đã trình ra lục bát Chăm, lục bát Thái Lan trong bài viết “Lục bát và các dòng thơ lục bát”) Cách tân là yêu cầu sống còn trong sáng tác văn chương mọi thời. Người làm thơ lục bát cũng phải gánh lấy trách nhiệm cách tân, làm cho thể thơ nầy có sức chứa lớn hơn và mang được cái hồn của người Việt trong thời đại mới. Lục bát truyền thống vốn ngọt ngào liệu có chuyển tải được hiện thực đa diện, với nhiều mâu thuẫn phức tạp đan xen của hôm nay hay không? Nhiều nhà thơ hiện đại đã có những cố gắng làm mới thơ lục bát. Huy Cận cắt bỏ yếu tố tự sự, dùng nhiều tính từ làm cho lục bát của ông có nét khác với lục bát truyền thống. Du Tử Lê chủ trương ngắt nhịp lại thơ lục bát (không lấy nhịp đôi làm cơ sở) dùng dấu vạch nhịp, dùng dấu chấm (.) trong dòng thơ, câu cuối của bài thơ có thể là câu lục và đặc biệt bỏ âm trắc bắt buộc ở tiếng thứ tư ở mỗi dòng thơ. Du Tử Lê là nhà thơ cách tân lục bát mạnh mẽ nhất. Lục bát Du Tử Lê mới, lạ và có hương vị riêng. Hãy đọc ít câu: …Nằm nghe – chăn gối rơi. Cùng tháng năm bằn bặt.- Phật còn ở không Tôi nhìn – tôi rất chon von …Sao tua chưa từng nằm kề /. em thơm tho giữa thơ, lìa biệt, tôi /. tay cầm tay, lên: chia hai : mũi đinh đóng xuống đời. Thôi nhé. Đừng xa người. Sao tôi không dưng ? địu em trước ngực, lưng buồn râm, ran. Đồng Đức Bốn, Phạm Xuân Nguyên, Mai Bá Ấn rất thành công với thể loại thơ lục bát, được dư luận chú ý***. Lục bát Đồng Đức Bốn, Phạm Xuân Nguyên đậm chất thế sự được viết theo lối dân gian – hiện đại. Mai Bá Ấn cắt dòng bậc thang… Có người nói: làm thơ chỉ cần cảm xúc, không cần lí luận. Không đúng, người sáng tác hôm nay cần có lí luận để “chỉ đạo” công việc sáng tạo của mình, không thể sáng tác mù. Nhưng cũng không để lí luận o ép, uy hiếp hồn thơ. Trường hợp Du Tử lê, Đồng Đức Bốn, Phạm Xuân Nguyên, Mai Bá Ấn hay Nguyễn Bá Hòa là những gợi ý để mỗi người làm lục bát tự định hướng. Lục bát Nguyễn Bá Hòa là lục bát “rin”, gần với lục bát truyền thống, chưa phải là “lục bát đời mới”, không thấy dấu ấn của sự cách tân. Anh thành công trong sử dụng các yếu tố nghệ thuật như lãng mạn, tượng trưng, siêu thực để câu thơ có màu sắc, hồn vía. Lục bát của anh là lục bát tình, lục bát duyên, lục bát thiền, ít có lục bát thế sự. Ai đem phân chất một mùi hương (Xuân Diệu). Ai đó nói rằng phê bình thơ là việc tàn nhẫn, người phê bình thơ là “kẻ ác”. Nhưng phê bình văn học không thể thiếu trong đời sống sáng tác của bất cứ một nền văn học nào. Sinh thời, nhà văn Nguyễn Tuân dặn dò: khi tôi chết hãy chôn theo một “thằng” phê bình. Thi sĩ Nguyễn Bá Hòa đã viết mấy câu: Đã bao lần uốn lưỡi Vẫn nói lời chua ngoa Nhà thơ đã thấu ngộ cái lẽ ấy thì người viết bài nầy “được lời như mở tấm lòng.. Tháng 11 năm 2011 ……………………………………… *

Thuyền Hạnh, NXB Văn nghệ, thph Hồ Chí Minh, 2010. ** Nguyễn Huy Thiệp, Giăng lưới bắt chim, NXB Hội nhà văn, 2006, trang 138, 139. *** Phần thơ lục bát trong các tập: Chăn trâu đốt lửa, Trở về với mẹ ta thôi (Đồng Đức Bốn), Cỏ cháy, Ở trọ hồn làng, Bến chuồn chuồn (Phạm Xuân Nguyên), các tập: Lục bát làm liều, Thị trường lục bát (Mai Ba An)

đám cưới trên đồi (phần hai)

wedding in topanga canyon

Nghi thức xông khói

Sau đó, là những lời thề ước của cô dâu chú rể rất chân thật mà lãng mạn, nồng nàn. Dịp này, người chủ trì buổi lễ, Meg Glasser, đọc bài thơ Mối Duyên Lành – Bài 2667 (This Marriage- Ode 2667) của thi sĩ Rumi:

Mối Duyên Lành – Bài 2667

Xin phước lành giáng xuống trần gian vào lời thề nguyền, giao kết hôm nay.
Xin đôi lứa mãi như giòng sữa ngọt ngào, như rượu đào, như kẹo mật.
Xin mối lương duyên
như cây lá trong vườn đem lại nhiều
trái thơm, bóng mát.
Xin tiếng cười tự thiên đường sẽ ròn rã ngân vang, hôm nay và mãi mãi.
Xin cho giây phút này là chứng tích của thương yêu, là dấu hiệu của hạnh phúc.
Xin cuộc tác hợp này tốt tươi, viên mãn,
Và xinh đẹp như vầng trăng đang vằng vặc sáng trên nền trời xanh ngát.
Ôi nói sao cho cùng trước hồn thiêng chư thánh thần, bồ tát,
Đang hoà nhập cùng chúng ta trong ngày vu quy, sắt cầm hảo hợp.

image

Lễ đeo nhẫn cưới và đọc thơ Rumi

This Marriage – Ode 2667

May these vows and this marriage be blessed.
May it be sweet milk,
this marriage, like wine and halvah.
May this marriage offer fruit and shade
like the date palm.
May this marriage be full of laughter,
our every day a day in paradise.
May this marriage be a sign of compassion,
a seal of happiness here and hereafter.
May this marriage have a fair face and a good name,
an omen as welcome
as the moon in a clear blue sky.

I am out of words to describe
how spirit mingles in this marriage.
(3)

image

Tiếng hát rất ấm và tha thiết của nữ ca sĩ (có dáng dấp Joan Baez) qua hai nhạc phẩm “Mahadev” và “Blessed Always”

Sau bài thơ Duyên Lành là hai bản nhạc “Mahadev” từ đĩa nhạc Radiant Awakening và bản “Blessed Always” được hát lên qua giọng hát trữ tình của Radha, cô gái áo đỏ.

Lễ cưới tiếp theo đó là quan khách cùng hai họ trở lại các bậc thang có treo những lá cờ mang các dòng chữ Tây Tạng để đến cái sân lát đá lúc khởi hành lễ cưới, nơi đây có dọn sẵn vài thức ăn nhẹ cùng những chai rượu đỏ sẵn sàng mời khách nhâm nhi cùng vui với niềm vui của cô dâu chú rể.

image

Cô dâu chú rể chụp hình lưu niệm với sáu cặp dâu phụ rể phụ

Sau khi hai họ cùng bằng hữu trò chuyện về lễ cưới tràn ngập hạnh phúc này, họ được cô dâu chú rể mời đến địa điểm dự tiệc cưới.

Từ dưới chưn một vách núi, các cặp rể phụ dâu phụ lần lượt được xướng danh mời lên trước sự chào đón bằng những tràng pháo tay nổ giòn. Rồi đến song thân cô dâu, song thân chú rể, và sau cùng và cũng là hai nhân vật chính cho tiệc cưới tối nay là cô dâu, chú rể. Dĩ nhiên rồi, họ được chào mừng bằng những tràng vỗ tay thật dài.

Lần lượt hai thân phụ cô dâu và chú rể ngỏ lời cảm ơn quan khách và tiệc cưới dưới ánh trăng sáng trên nền trời giữa những núi đồi chập chùng nơi đây chính thức bắt đầu với những bước khiêu vũ đầu tiên của cô dâu và chú rể. Và sau đó mọi người cùng nâng ly chúc mừng hạnh phúc của đôi tân lang và tân giai nhân và của cả hai họ, của mọi người.

Như hòa cùng niềm vui với cô dâu chú rể, các loài hoa trong khu vườn trên ngọn đồi tình ái này cùng đua nhau nở rộ những cánh hoa đầy hương sắc và kết trái ngọt ngào.

image

Các loài hoa trên đồi cùng vui nở trong ngày cưới của cô dâu chú rể

image

Bông Artichaut nở rộ với những nhụy hoa màu tím

Trước khi kết thúc các ghi nhận về đám cưới này, có lẽ sẽ rất thiếu sót nếu không nhắc về các biểu tượng mà cô dâu và chú rẻ chọn cho ngày cưới của mình.

Trước nhứt, về ý nghĩa những tiếng “OM” vang vang đã ghi lại bên trên là một chọn lựa khá đặc biệt mà dường như chưa lần nào tôi dự một tiệc cưới như vậy. Thứ đến là những lá cờ muôn màu của truyền thống Phật Giáo Tây Tạng theo làn gió ban phát những lời kinh chúc lành đến mọi sinh vật trong vũ trụ .… Thứ ba nữa là những bông sen. Có tới hơn một trăm bông sen mà cô dâu chú rể tự tay làm lấy để trang trí nơi các bàn tiệc, nơi hai tấm bảng giới thiệu các lễ cưới trong gia tộc hai bên, là biểu tượng của sự trong lành và thanh khiết mà hai nền văn hóa Phật Giáo ở Tây Tạng và Ấn Độ có dịp mang tặng cho loài người khắp mọi nơi. Sau cùng, những con voi màu hồng là hình ảnh mà cô dâu và chú rể rất yêu thích. Tân lang và tân giai nhân cũng yêu quý Ganesha, vị thần voi Ấn độ có thiên tài vượt qua mọi khó khăn. Những biểu tượng về voi nhắc nhở đôi uyên ương tôn trọng sự thông thái vô biên, trực giác bén nhạy, và năng lực sung mãn lúc nào cũng ngự trị trong chúng ta và khắp nơi trên toàn cầu.

Trở lại nhà sau kỳ dự lễ cưới vào một đêm trăng tròn tháng Bảy vừa rồi trên ngọn đồi vùng Topanga Canyon, tôi mới nghiệm ra một điều là những người trẻ ở Hoa Kỳ, ngoài học thức và tài năng, họ còn có một đời sống tâm linh rất phong phú, sâu sắc mà nhiều người già như tôi vốn giữ những nếp cũ phải giật mình. Quả thật, câu nói cửa miệng:“Đi một ngày đàng, học một sàng khôn,” đúng với riêng tôi biết bao!!!

Lương Thư Trung
Topanga Canyon, ngày 16- 07- 2011

Cước chú:

1/ Các hình trong bài do người viết chụp.

2/ Thủ ấn: ấn kết bằng ngón tay. (Theo Tự điển Phật Học Hán Việt của Phân Viện Nghiên Cứu Phật Học, nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, tái bản và bổ sung, 2007, trang 1294)

3/ Bản dịch Việt ngữ của Tô Thẩm Huy. Bản Anh ngữ được trích từ tuyển tập “Love is a Stranger,” chủ biên Kabir Helminski, Threshold Books, 1993).
Tô Thẩm Huy chú thích thêm về Rumi: (Mowlana) Rumi là thi sĩ người Persian, quê ông ở miền Balkh nay là vùng phía bắc Afghanistan, sống vào thế kỷ 13. Ông viết nhiều thơ ca ngợi tình yêu, rất được phương Tây yêu thích, như những câu:

Tình yêu đến,
trở thành như máu trong thân thể tôi
ùa chảy qua những mạch, bủa vây trái tim
Ôi, bạn hỡi,
mọi điều bạn thấy về tôi,
chỉ là cái vỏ bên ngoài,
phần còn lại tình yêu đã chiếm trọn.

Love came,
and became like blood in my body.
It rushed through my veins and
encircled my heart.
Oh, my friend,
all that you see of me
is just a shell,
and the rest belongs to love.

Đám Cưới Trên ĐồI (phẦN 1)

         (   Copy from Damau.org)

Lần đầu tiên tôi tới California lại ghé qua Topanga Canyon thuộc vùng núi non Santa Monica của Los Angeles. Từ phi trường Los Angeles, xe chạy về hướng xa lộ 405, rồi con đường 27, chúng tôi lại rẽ về hướng biển với hàng dừa kiểng cao lêu nghêu như thách thức sức chịu đựng cùng gió giông vào những mùa mưa bão. Đây là phần bên này bờ Thái Bình Dương, mà bờ bên kia là vùng biển Việt Nam của tôi. Bãi biển buổi chiều vắng người và nghe nói nước biển vùng này rất lạnh vì dòng nước từ trên vùng Alaska mang cái lạnh từ bắc cực xuống đây.

topanga beach

Bờ biển vùng Topanga Canyon (Los Angeles, California) (1)

Theo con đường cặp bờ biển, xe chạy một đỗi lại phải rẽ vào tay mặt bắt qua con đường đèo khúc khuỷu với những vách núi cheo leo hai bên đường để tìm ngã Robinson lên ngọn đồi thuộc vùng Topanga Canyon, nơi mà ngày mai, thứ bảy, chúng tôi sẽ dự lễ cưới nơi này.

image

Núi đồi vùng Topanga Canyon (Los Angeles, California)

Trước khi lên máy bay đi California lần đầu, tôi chưa có một ý niệm gì về vùng đồi núi cheo leo này. Trong bụng cứ đinh ninh là đi California đồng nghĩa là đi về vùng Quận Cam hay một chỗ nào đó có nhiều người Việt Nam đang sinh sống. Đến khi tìm đường qua những đường đèo, chúng tôi mới biết vùng này dường như không có người Việt cư ngụ. Dọc đường đèo, nhà cửa cư dân nơi đây rất thưa thớt. Xa xa vài quán bên đường bán tạp hóa hay cà phê. Lâu lâu mới có trạm bán xăng và thỉnh thoảng mới có con đường quẹo lên hướng núi về tay mặt hoặc rẽ sang tay trái mà trong tầm nhìn giới hạn chúng tôi thấy những ngọn núi cao chót vót kia lác đác những căn nhà gạch quét vôi màu vàng nhạt.

image

Đá trên vùng Topanga Canyon

Xe chạy vòng vèo chừng hơn nửa giờ chúng tôi gặp con đường Robinson nằm bên tay mặt với cái cua quẹo rất gắt dẫn về ngọn đồi mà chúng tôi muốn tìm. Khi vào cổng, chúng tôi không ngờ giữa nơi núi non mịt mùng này lại có một ngọn đồi trải một thảm cỏ xanh rì với những đoạn đường tráng nhựa êm ái như nơi đồng bằng. Khi ngừng xe nơi căn nhà mà mình sẽ ở trong năm ngày ở đây, chúng tôi rất đỗi ngạc nhiên thấy người chủ ngọn đồi này đã xây cất rất nhiều nhà nhỏ lác đác nơi các triền dốc này, gốc núi kia bao quanh bằng những con đường lên dốc xuống dốc… Theo đứa cháu cho biết những căn nhà và cả ngọn đồi này người chủ chỉ dùng làm nơi nghỉ những ngày cuối tuần.

Xem chừng ở đây xa các nơi có người Việt thật, vì dọc theo con đường đèo mà chúng tôi vừa đi qua không thấy tiệm quán Việt Nam nào. Thành ra, muốn ăn cơm hay ăn phở chúng tôi phải chạy xuống đèo và đi chừng gần một giờ lái xe mới có tiệm phở bán cơm tấm Việt Nam.

Bạn có thể nào tưởng tượng nổi giữa một vùng núi đồi bao la này lại có một triền dốc với tám bức tượng Phật Thích Ca ngồi trên các tòa sen hiền từ mà nghiêm nghị biết bao giống như nơi đây là một vùng Phật tích lâu đời …

image Tám tượng Phật Thích Ca ngự trên tòa sen bên một triền đồi theo hình vòng cung (nhìn tứ phía trước) image

Từ trên triền đồi nhìn xuống địa điểm cử hành lễ cưới

Sau khi đứa cháu đưa chúng tôi vào nhà sắp xếp chỗ nghỉ và tắm giặt xong xuôi, chúng tôi đi dạo một vòng với khu vườn cây ăn trái không bón phân hóa học có đến năm ba mẫu càng làm chúng tôi nhớ như mình đang đi về một vùng núi rừng Thất Sơn với cam, quít, táo, hồng đầy nhánh. Cái thú của người nhà giàu là dường như họ lập vườn trồng cây trái để coi chơi cho vui, nên trái chín rụng đặc gốc mà không thấy ai lượm mang về … hoặc hái trái đang còn trên cây ăn thử …. Rồi có cả một khoảng đất trống nuôi những chị gà đẻ trứng. Hỏi những người chăm sóc gà mới biết gà ở đây ăn toàn bằng những trái cây chín rụng, không dùng loại thực phẩm chế biến sẵn như các nơi nuôi gà công nghiệp. Gà đẻ nhiều lắm; chúng đẻ đầy các ổ lót sẵn bằng ván gỗ và cỏ khô; làm tôi liên tưởng những ổ gà lót bằng những chiếc thúng rách miệt nhà quê nơi làng quê tôi.

Buổi sáng, ở một triền đồi còn đọng sương đêm lành lạnh, những chàng nai tơ không lo nghĩ gì cứ thong dong dạo chơi trên những ngọn cỏ còn ướt những giọt sương.

image

Đàn nai đang hứng sương và ăn cỏ vào sáng sớm

Bao quanh ngọn đồi này, chỗ nào cũng có những tượng đứng, tượng ngồi, những lu và những khạp, những khúc cây lớn móc bộng ruột làm thành những chiếc mõ. Nơi đây có khoảng mười căn nhà với đầy đủ tiện nghi như máy lạnh, tủ lạnh, phòng khách, phòng ngủ, nhà vệ sinh không thua bất cứ ngôi nhà nào dưới đồng bằng. Thêm vào đó, trước mỗi nhà như vậy người ta có đặt hai bàn tay bằng đồng với vị thế bắt ấn theo nghi thức Phật Giáo (2)

image

Trước cửa một ngôi nhà nghỉ cuối tuần

image

Địa điểm cử hành lễ cưới với một trăm chiếc ghế được cô dâu chú rể tự tay xếp thành vòng tròn

Lưng chừng đồi có một sân lót đá với những bậc thang bằng đá cùng các bức tượng thiếu nữ cũng bằng đá là nơi các cặp phù dâu phù rể chuẩn bị đến nơi hành lễ. Nơi đây cũng dọn sẵn những thức ăn nhẹ và rượu dành cho khách nhăm nhi trước khi dự tiệc cưới chính thức và khiêu vũ dưới sân cỏ thấp.

image

Sân lót đá và cầu thang

image

Những bậc thang bằng đá với những lá cờ xanh đỏ tím vàng mang các dòng chữ Tây Tạng tiêu biểu cho Phật Giáo Tây Tạng

Bắt đầu lễ cưới khoảng 5 giờ chiều thứ Bảy, các cặp dâu phụ, rể phụ tập trung nơi lưng chừng đồi – chỗ có những băng ghế và các tượng với nền lót đá bằng phẳng – rồi bước theo các bậc thang dẫn xuống sân cỏ phía dưới, nơi vòng tròn mà bà con hai họ và khách dự lễ cưới đã ngồi đợi sẵn.

image

Địa điểm khách sẽ dự tiệc cưới và khiêu vũ cùng cô dâu chú r dưới ánh trăng tròn 16 chiếu trên đồi

Đi đầu là cháu gái bốn tuổi làm em bé rải hoa cầm cái giỏ nhỏ đựng đầy những cánh hoa hồng tiến về vòng tròn làm lễ. Khi đến nơi, cháu lấy những cánh hoa trong giỏ rồi đi vòng quanh vòng tròn rải những cánh bông ấy đều lên mặt cỏ.

image

Cháu Sophia từ Boston phụ trách rải hoa mở đầu lễ cưới

Tiếp theo là các cặp dâu phụ và rể phụ, rồi song thân cô dâu, cùng cô dâu tiến xuống vòng tròn phía dưới.

image

Các cặp phù dâu phù rể bắt đầu rời địa điểm tập trung để đến nơi cử hành lễ cưới

Sau khi đón nhận cô dâu từ ông bà nhạc, chú rể và cô dâu tay nắm tay tiến về vị trí cử hành lễ cưới giữa những tràng vỗ tay chào mừng.

Hôn lễ cử hành với nghi thức rất lạ mà tôi chưa bao giờ tham dự lần nào. Người điều khiển chương trình có tên là Govinda với mái tóc xoắn bỏ dài theo sống lưng, mặc chiếc áo màu đỏ như một thổ dân. Ông ta bắt đầu bằng ba tiếng kèn mà tiếng vọng lại của nó kéo dài và lan xa vào không trung giữa lúc mọi người đang chăm chú đôi mắt nhìn về hướng cô dâu chú rể. Rồi những tiếng “OM…OM…OM” lại được cất lên từ người mặc áo đỏ ấy, tượng trưng cho tiếng vọng vang lên từ vũ trụ, theo truyền thuyết cổ xưa, nó biểu hiệu tất cả quyền năng từ các đấng thiêng liêng trong trời đất. Rồi một cô gái cũng mặc áo đỏ bắt đầu mồi lửa vào một cái bình có chứa đồ nhóm lửa và xông khói chung quanh cô dâu chú rể cùng quan khách như mang đến một phép mầu hạnh phúc cho đôi tân lang và tân giai nhân.

KHÔNG LỜI MỸ SƠN

 -Phạm Tấn Dũng-

Nơi ấy nắng lên muộn

nắng xuống chậm

Sông chảy xuôi thì buồn

Lưng sóng đầy mốc meo cổ tích .

Nơi ấy trăng to dần

băng qua mảng trời về phía núi

Tôi lần theo

và bơi ngược những dòng sông

dòng sông dắt tôi

như dắt ký ức mình

nhỏ dần

nhỏ dần

nhạt đi

Nơi ấy phủ đầy hình hài

mùi hăng cỏ dại

phế tích trĩu buồn

buồn như những cuộc tình không sinh không nở

buồn như tiếng gà bí ẩn xưa xa

buồn đến thót tim những trưa đứng bóng

lãnh lót tiếng gà ác mộng nghìn năm

Nơi ấy ngọn đèn đã tắt

Tôi ngồi hí hoáy hõm đêm

ngồi như ngồi bên người tình đã từng ôm ấp

những trận mưa quất đau cổ tháp

những vàng vọt nắng quái chiều tà

những chòng vòng nhơ nhớ

lưng sóng đầm đìa phế tích hoang rêu

Nơi ấy với những cơn say chệnh choạng

Tôi với bóng mình ngã nghiêng bóng Tháp

dắt ký ức về gởi em giữ dùm

Tôi bắt găp ánh nhìn khiếm thị

Và tôi mù trong những gì tôi được thấy   ./.

Không gian xưa


                                      -  Miên Trà

Ta đi lại những đường xưa

Phố rộng người đông, biển treo dày đặc

Công ty nào cũng còn hữu hạn

Quán nhậu, cà phê lúc nhúc sớm chiều

 

Đường Bạch Đằng kéo  dài

Cây và cảnh đáng yêu

Nhạc chờ thể dục

Ông lão, cụ bà bước đều hai…một

Lung linh sông Hàn buổi sáng tinh mơ

 

Bất ngờ gặp quán Phố xưa

Lộc vừng đâu về đây nở hoa thầm lặng

Điện thoại nhắn tin hò hẹn

Uống ly trà gừng chia sẻ ngọt cay

 

Trường cũ bạn xưa đâu đây*

Sao mà như công viên, ghế bàn giải khát

Loanh quanh muốn tìm nơi bóng mát

Bất ngờ đến tận Không gian xưa

Không ai đón đưa

Người xưa chẳng thấy .

                                      * Trường Trung học Sao mai trước 1975

                                                 ( Trường THPT Trần Phú sau 1975.)

Cha, con và nghề giáo – nghiệp thơ

Ngô Hà Phương – Ngô Thị Thục Trang:

Cha con Ngô Hà Phương, Ngô Thị Thục Trang là một trường hợp đặc biệt trong làng văn chương xứ Quảng, bởi cả hai cùng theo đuổi nghề giáo nhưng nghiệp thơ đã lỡ vận vào mình…

- Chọn nghề giáo nhưng vẫn đều đặn in thơ, có phải dạy học là cái duyên còn con đường thơ dường như là định mệnh?
- Ngô Hà Phương (NHP): Nghề giáo khá ổn định, mô phạm; cuộc sống nhà giáo chuẩn mực và ít trắc trở. Còn thơ và người thơ cần lắm sự lãng mạn, ngẫu hứng… Thế nhưng, tôi quan niệm thơ trước hết là chốn để mình giãi bày nỗi niềm, sự rung cảm từ cuộc sống. Tôi vốn được cụ thân sinh dạy làm thơ từ nhỏ và biết làm thơ từ đó. Rồi có giai đoạn đời sống nhà giáo rơi vào khó khăn, cực nhọc, tôi đã quên mất thơ. Sau bao phen “lưu lạc”, khi tuổi đã xế chiều, sực nhớ ra… thơ vẫn gắn bó máu thịt với mình như con người phải cần đến không khí để thở đấy thôi.

alt
Hai thế hệ nhà giáo – nhà thơ Ngô Hà Phương và Ngô Thị Thục Trang.

-Ngô Thị Thục Trang (NTTT): Khi làm thơ, tôi quên mất mình là một nhà giáo. Lúc đó, tôi như người say, bao cảm xúc về quê hương, tình yêu, phận người tôi đều gửi hết vào thơ. Có lẽ, cũng nhờ đi theo nghề giáo, tôi thấy mình có thêm nhiều thời gian để trải nghiệm và sống cho thơ hơn nữa. Việc dạy học (nhất là dạy các môn tự nhiên) đòi hỏi ở tôi tính mô phạm rất cao. Nhưng sau bục giảng, tôi lại là một phụ nữ lãng mạn, ưa quan sát, chiêm nghiệm cuộc sống…
- Hội VHNT Quảng Nam vừa trao giải C cho “Bóng làng” – tập thơ vừa mới “trình làng” đầu năm nay của NHP. Giải thưởng này đến với anh như một duyên may hay là sự minh chứng cho vườn thơ đang độ chín?
- NHP: Làm thơ khá sớm nhưng tới tuổi này tôi mới chọn in tác phẩm đầu tay, bởi tôi thích sự cẩn trọng, chỉn chu. Giải thưởng đến với tôi như duyên may, hẳn rồi. Tôi không dám bình luận gì thêm, chỉ mừng khi cách biểu hiện của mình được nhiều người đồng cảm, là món quà lớn nhất đối với tôi.
- Còn NTTT làm thơ, viết văn với bút lực sung mãn và là gương mặt trẻ sớm tạo được dấu ấn riêng. Tại sao mãi đến bây giờ chị vẫn chưa chịu trình làng đứa con tinh thần của mình?
- Đã mấy lần tôi tính xuất bản tập thơ đầu tay nhưng vướng chuyện này nọ, nên cứ lần lữa mãi. Lúc đầu tôi nghĩ, chuyện quan trọng nhất vẫn là sáng tác chứ không phải là chuyện in tác phẩm. Nhưng trước sự động viên rất lớn từ gia đình, bạn bè, giữa năm nay tôi sẽ tập hợp các sáng tác trong vòng 10 năm qua để ra mắt tập thơ. Số lượng truyện ngắn cũng đã kha khá, nhưng tôi chưa hài lòng mấy, tôi muốn sản phẩm của mình khi trình diện công chúng phải hết sức chỉn chu.
- Chừng như hình ảnh quê nhà cứ day dứt mãi trên dòng sông thơ của hai cha con – nhà thơ vậy?
- NHP: Tôi sống nhiều ở quê, cảm xúc về quê rất dồi dào, trong đó ký ức tuổi thơ là nỗi ám ảnh thường trực. Người dân quê vốn sống gắn bó, chan hòa. Tôi yêu từng ngõ làng, lũy tre xanh, con đường quạnh vắng, yêu nét hồn hậu của người dân lao động tảo tần một nắng hai sương… Mọi thứ cảm xúc ấy đi vào thơ tôi rất tự nhiên, không cầu kỳ.
- NTTT: Xa quê từ năm 17 tuổi nên ký ức về quê sâu đậm nhất trong tôi vẫn là năm tháng tuổi mới lớn. Nếu chăng có cuộc trở về, thì không có cuộc trở về nào đẹp nhất là cuộc trở về với thế giới tuổi thần tiên ấy, nó trong sáng và hồn nhiên biết mấy, không dễ gì tìm lại được. Tới nay, tôi vẫn thấy mình chưa làm được điều gì cho quê hương cả.
- Những thao thức về thơ ở một NTTT khi còn đang tuổi thiếu nữ và giờ đây ở vai trò một người mẹ, người vợ trong một tổ ấm mới, thì có gì khác?
- Giọng thơ tuổi thiếu nữ có phần nhẹ nhàng, thiên nhiều về cảm xúc. Khi đã là người phụ nữ của xã hội, của gia đình, thơ tôi xuất hiện những chông chênh, suy nghiệm, có lẽ là thường tình. Nhưng sức mạnh siêu hình nào đó thôi thúc tôi làm thơ thì vẫn vẹn nguyên, có khi còn mãnh liệt hơn. Giai đoạn này, tôi tạm dừng sáng tác thơ bởi tôi rất sợ lặp lại chính mình. Tôi đang tìm kiếm, khám phá hướng đi mới cho thơ. Song, khoảng lặng này cũng ý vị, bởi chỉ trong thời gian ngắn tôi đã viết thêm 20 truyện ngắn. Đó cũng là cách thức để trải nghiệm và cảm xúc thêm chiều thăng hoa.
- Vậy sự cách tân trong thơ?
- NHP: Tôi luôn đảm bảo sự chuẩn mực, gẫy gọn cho câu chữ. Tôi không có chủ đích đi tìm sự cách tân cho thơ, bởi tôi chỉ viết theo nhịp rung cảm của mình. Nếu có, thì cũng chỉ là sự tìm kiếm cách thức diễn đạt mới hơn, tứ thơ súc tích hơn, có một chút thay đổi về cú pháp, từ ngữ chẳng hạn.
-NTTT: Tôi nhận thấy, hiện nay thơ đang trượt vào một lối mòn đáng tiếc, chưa thấy có sự cách tân, đột biến nào trong tư duy. Mà sự “cách tân”, có chăng chủ yếu chỉ là sự đập phá, nổi loạn bằng hình thức đơn thuần. Bản thân người nghệ sĩ cứ luẩn quẩn… dò đường. Tôi nghĩ thế này: anh cứ viết lạ, cứ viết mới đi, nhưng anh phải hiểu mình đang viết cái gì thì mới mong độc giả hiểu và đọc được. Ý thức cách tân trong tôi trước hết là sự thay đổi nhịp câu, thay vì viết những câu có vần điệu êm êm như trước, gần đây thơ tôi xuất hiện những câu trúc trắc, không còn tròn trịa, nhưng cá tính. Tôi luôn nỗ lực tìm kiếm tứ thơ lạ và cách biểu đạt lạ, chẳng hạn như “Em môi cong hửng nắng” (Tin nhắn giao mùa), “Một ánh sẻ chia/nhẹ hơn ngày xám xịt/khi mọi triết lý chẳng làm đêm ngắn được/người hẹn nhau về hóa giải cùng trăng” (Hạt yêu thương)…
- Trong thơ, Trang thấy mình chịu ảnh hưởng từ ai nhất?

Nhà thơ Ngô Hà Phương sinh năm 1955, giáo viên Trường THCS Lý Thường Kiệt (Đại Thạnh). Tác phẩm đầu tay: “Bóng làng” – NXB Đà Nẵng, được trao Giải C – Giải thưởng Hội VHNT Quảng Nam 2011.
Ngô Thị Thục Trang sinh năm 1984, là con gái thứ hai của nhà thơ Ngô Hà Phương. Năm 2005, tốt nghiệp cử nhân hóa học Đại học Sư phạm Huế, hiện giảng dạy tại trường THCS Nguyễn Khuyến (Đà Nẵng). Năm 2005, được giải khuyến khích Cuộc thi thơ bút hoa của Tạp chí Tài hoa trẻ; giải A – giải thưởng thơ Đà Nẵng năm 2009. Có nhiều thơ, văn đăng trên báo trung ương và địa phương.

-Tôi vốn đọc nhiều tác phẩm trong và ngoài nước, nhưng có chịu ảnh hưởng từ ai không thì… không biết. Tôi thường xuyên đọc nghiên cứu, lý luận để làm giàu thêm ngòi bút. Tôi cũng rất khắt khe với câu chữ của mình, bài viết xong cứ sửa đi sửa lại nhiều lần rồi mới để người khác đọc. Tuy nhiên, khi bắt đầu làm thơ, tôi học nhiều từ ba. Tôi học được cách viết nét, bỏ bớt những cảm xúc, những câu chữ không cần thiết từ ông. Ba còn giúp tôi chọn hình ảnh thơ sinh động hơn.
- Nhà thơ Ngô Hà Phương, ông thấy điều này thú vị chứ?
- Tôi thường đọc thơ Trang, cảm nhận được nguồn cảm xúc dồn nén trong đó. Thơ Trang nhanh, nhạy, có nhiều chuyển biến, cách tân, đổi mới; giọng thơ mềm mại nhưng cảm xúc thì mãnh liệt, cháy bỏng. Có thể, những gì tôi không chạm tới được ở trong thơ thì cây bút trẻ như Trang đã thay tôi làm điều đó.
- Nữ tính trong thơ Thục Trang bộc lộ khá đậm nét, chị có thể chia sẻ một chút về điều này?
- Tôi viết từ những gì bên trong con người tôi. Có những cảm xúc thoáng qua, tôi phải bắt kịp; có những cảm xúc lắng đọng, đòi hỏi tính suy nghiệm cao. Có thể bản thân tôi là phụ nữ, nên chuyện bạn nhận thấy tính nữ trong thơ tôi là điều hiển nhiên. Ngoài đời tôi không mấy được nữ tính cho lắm, nên có thể từ trong vô thức tôi đã trút hết tất cả vào trong thơ! (cười).

HOÀNG LIÊN  – QUANG VIỆT (thực hiện

QUÊ HƯƠNG BÊN NGOÀI TÊN GỌI

                                                                                           Huỳnh Minh Tâm

Dào dạt trong tôi dòng chảy quê hương
Dưa cà xanh biếc tháng hai tiếng chim chìa vôi giọt giọt giữa trưa hè
Tiếng nói thô mộc của cha tôi với trâu bò đất đai và chén rượu
+
Những điều thiêng liêng và bình dị đâu đó dễ gì nhận ra
Trước khi từ biệt cõi đời tạm bợ
Sự tạm bợ đôi khi qúi giá hơn những lí do tốt đẹp những tiện nghi
+
Nhận biết gương mặt người thân đôi mắt người tình
Đi qua cuộc đời như ngọn gió
Trong cùng một chiếc nôi  của sự sống
Và sự chết
+
Nhận biết những giọt nước mắt mặn chát bể muối
Mỗi ngày trước sự héo úa của cỏ sự lừa gạt của chữ nghĩa
Sự tha hóa của chất giọng
Tiếng bò rống tiếng chó tru tiếng gà vịt ỏm tỏi
+
Quê hương
Ngọn đèn của tình yêu đã thắp trong tôi vài tính từ
Xanh mướt và sống động
Vài danh từ đêm đêm tôi cầu nguyện
Vài động từ im lặng  ngẫm nghĩ
+
Chỉ cần vậy sao cần nhiều hơn chất đầy mộng tưởng
Dào dạt trong tôi một dòng chảy
Quê hương bên ngoài tên gọi
Sự nhạt nhẽo lạnh giá của ao tù và rác rưởi

Tin Văn Nghệ ở Houston Texas Hoa Kỳ

Nguyễn Hàn Chung

Chiều ngày 09/04/2011 tại tư gia Nhà văn Lương Thư Trung ở Houston Texas anh em bè bạn văn nghệ  có tổ chức một buổi tiệc trà họp mặt giới thiệu tập văn Mùa Màng Ngày Cũ do anh biên soạn .Tập sách gồm 287 trang là cả một khung trời mùa cũ của đất đồng sông nước miền Nam với lời tựa  nồng ấm cảm thấu của nhà văn Tô Thẩm Huy;’’chỉ còn cách dấn liều một cuộc tao phùng,lần dở cảo thơm mùa màng ngày cũ mà say sưa xao xuyến trước chân trời lục tỉnh đang bát ngát mở ra ,la đà sông nước.Mà dãi dầm màng mưa mùa nắng.Mà thơ thới với cỏ cây chơi đùa cùng chim cá .Mà lần theo nẻo đi lối về của cóc nhái, ếch lươn …Cái hồn ứng xử thuở dăm bảy người xưa nhảy hùm dưới rạch,xúc cá lùa tôm ,xong rủ nhau lên bờ ngồi xem dòng dọc làm tổ ….(trích ) cộng với lời Bạt chơn chất mà không kém phần chân xác  của  nhà thơ Phan Xuân Sinh :’’Chữ nghĩa bề bề của ông làm ta phải giật mình vì ông đã biết vận dụng sự hiểu biết cùng kinh nghiệm làm ruộng mấy mươi năm của mình mô tả tường tận sự việc một cách hợp lý sâu sắc.Ông không những thay mặt nông dân nói lên công việc đồng áng của họ ,mà khi ông viết về đồng quê ,ta tưởng chừng như những cộng cỏ ,con tôm ,con cá ,nó cũng nói lên được tâm tư thân phận của mình”(trích )

Trên đây là một số cảm nhận của hai nhà văn xứ Bắc và miền Trung được Mùa Màng Ngày Cũ đánh  thức than hồng  trong trái tim ly quê bén ngún  .Còn người nhà quê đích thị quê họ nói ra sao về Mùa Màng Ngày Cũ :”…Làng mạc ,ruộng đồng quê hương như đã thấm sâu trong tâm hồn ông và đâu đó luôn ẩn hiện trong những trang viết …Dù đang sinh sống tại một thành phố lớn ở Hoa Kỳ cách xa quê hương nửa vòng trái đất nhưng ông vẫn như một người nhà quê ,ông vẫn luôn tưởng nhớ về những cây cầu khỉ,về món cá lóc nướng trui và cả những câu thơ ngâm nga nơi làng quê cũ…”(Thái Lý –Châu Đốc )

Trong lúc văn đàn hải ngoại đang im ắng ,lớp trẻ lớn lên thiếu những hiểu biết về phong tục tập quán của quê nhà  dễ dẫn đến dần xa nguồn cội Mùa Màng Ngày Cũ của bác Hai Trầu (một bút hiệu khác của anh Lương Thư Trung  ) thật vô cùng  đáng quý .Xin trân trọng giới thiệu tạp ghi MÙA MÀNG NGÀY CŨ cùng bạn đọc.

Houston Texas

04/09/2011

THI CA VÀ NGHỆ THUẬT

QUỲNH  THI

NƠI  XUẤT  PHÁT  RA  THƠ .

Tứ diệu đế : Đất – Nước – Gió – Lửa , tạo nên đời sống vạn vật và con người . Nó cũng tạo nên Thơ . Tinh túy thơ từ đó phát sinh. Và con người biết khai thác , tận dụng làm sinh thú cho đời sống tinh thần của mình .

Nguyên lý của Trời đất tự bao giờ có . Chẳng ai biết , rồi nó ban phát cho muôn loài , được gọi là thiên nhiên . Sông núi hữu tình , hoa nở bốn mùa thắm xinh , khí trời nóng ấm , mát lạnh . Chất thơ mênh mang không thể thiếu hòa quyện vào đời sống , tâm hồn con người , để  con người vui sống , sinh tồn  hiện hữu và hưởng thụ  . Người ta gọi đó là nghệ thuật mà nghệ thuật là cái đẹp . Thi ca là cái đẹp . Những tác phẩm được gọi là nghệ thuật đều tỏa ra ngạt ngào vẻ đẹp .

Tứ diệu đế thăng hoa thành cái đẹp , mà con người phải tìm kiếm . Đi tìm cái đẹp , dĩ nhiên cái đẹp là một sự vật đã có sẵn . Có sẵn không phải là nó lộ diện , hiện hình , mà ta phải đi tìm kiếm . Đi tìm bằng cách sáng tác . Người sáng tác là nghệ sĩ . Nghệ sĩ tạo nặn ra , làm ra , tìm ra cái đẹp để đáp ứng , cầu toàn cái nhu cầu đời sống tâm linh . Do vậy mà người nghệ sĩ là người suốt đời đi tìm . Họ tìm trong thiên nhiên , Trời đất con người . Họ tìm nơi chính họ . Cào cấu nơi chính tư duy của họ . Họ gào thét từ niềm đau , từ trong sâu thẳm cuộc sống để làm nên nghệ thuật . Vậy thì tính chất của nghệ thuật được gạn lọc từ nơi chốn xù sì nhất , ảm đạm nhất , hoang vu nhất . Nó được lấy ra từ một hố thẳm nào thâm sâu nơi con người . Một nơi tăm tối nào từ vực  sâu , rồi người nghệ sĩ dùng tài năng , kiến thức của mình mài dũa , gột rửa , lau chùi rồi nó sẽ được ban cho một thứ ánh sáng huyền diệu  , một thứ hào quang đặc biệt nào mà người nghệ sĩ hà hơi vào , biến nó thành cái đẹp . Họ không thể dễ dàng kiếm ngay ra được một thứ vật quí hiếm , mà phải cất công đi tìm khó nhọc , có khi cái giá phải trả bằng máu hay bằng mạng sống của họ !

Chúng ta thấy người nghệ sĩ điêu khắc , từ khi nắm một vật vô tri , vô hình như thỏi đất đá , gỗ sắt , không phải anh làm chỉ ngày một ngày hai , mà nó trở thành ra pho tượng nghệ thuật theo ý mình . Người họa sĩ đứng trước một khung vải cũng phải ưu tư , tìm tòi , để kiếm ra một đường nét , một mầu sắc , một bố cục cho riêng minh . Cái bố cục và đường nét của bức tranh làm cho bức tranh độc đáo , bắt mắt người thưởng ngoạn , phải tốn biết bao lần phác họa , có khi vẽ đi vẽ lại , thử nghiệm mệt mỏi , si mê điên dại mới vừa ý . Phải tìm để mong bắt gặp một nguồn ánh sáng phép lạ nào soi chiếu vào người mẫu , vào cảnh vật hữu tình , làm hứng khởi . Vóc dáng mà anh vừa tìm thấy , hay khuôn mặt vừa bắt gặp trong trí tưởng trừu tượng hay hiện thực  mà anh cho là nghệ thuật . Ôi chao ! Bao nhiêu là khổ cực và nhẫn nại mà kể .

Nhà văn cũng vậy , khi đặt bút viết , anh ta phải suy nghĩ , ưu tư với đề tài mà mình sẽ viết ra  . Văn thể , cốt truyện , bút pháp , sao cho câu văn chữ nghĩa lôi cuốn người đọc . Anh ta phải biết gieo hạt mầm sự sống vào tác phẩm thì nó mới thật , mới linh động , lúc đó người đọc mới khám phá ra được sự diệu kỳ của văn chương . Còn người làm thơ , đi tìm tứ thơ , đi tìm ngôn ngữ , nhạc tính cho thơ . Anh ta đi tìm cái gợi hứng , cái xúc động , nguồn cảm hứng để viết nên bài thơ , mong làm rung động lòng người , là người phải sống thực trước đã . Làm thơ mà thiếu cái cảm xúc thực của đời sống , thì không thể gọi được là một thi sĩ tài năng . Bài thơ mà không rung động được  lòng người  thì chỉ là một bài thơ vô hồn , một bài thơ vô hồn là một bài thơ chết  . Nó chỉ là một cái xác chữ không hơn .

Nghệ thuật viết văn , tính chất của sự thật dù là hư cấu trong tác phẩm tự nó đã nói lên giá trị cái phẩm hàm để cảm hóa và thuyết phục người đọc . Nghệ thuật phải vượt lên cao hơn lòng thù hận . Vì lòng thù hận chỉ là cái ngã tầm thường , nó làm giảm đi cái giá trị lớn lao của văn chương , của tác phẩm . Nó là mớ bòng bong để tuyên truyền . Nội lực tài năng và bản lãnh của nhà văn là ở chỗ đó . Tư cách là ở chỗ đó .

Có không ít bài thơ mà chúng ta thấy , chữ nghĩa quá mầu mè ướt át  , hay người làm thơ  dùng chữ cầu kỳ giả tạo , cốt để làm dáng uyên bác rởm . Ý nghĩa thì vô hồn , tẻ hạt , không có tăm dáng của cảm xúc

Chúng ta nên nhớ , thơ không dựa và gối đầu lên thứ  lý trí vô tri nhạt nhẽo , mà cái nôi của thơ là chiều rộng của cảm xúc và tư tưởng . Thơ dù là thơ Tự do , thơ Đường luật , thơ tiền chiến hay thơ Tân Hình thức  ( THT ) , thơ không thể nào là một chuỗi tự sự , kể lể dài dòng , thiếu ẩn dụ gợi mở .

Thơ THT Việt thời gian gần đây sa đà vào một khuyết điểm lớn  là : kể chuyện dài dòng , lê thê .  Hơn thế nữa thơ THT lại câu nệ vào số chữ trong câu như  7 chữ  hay 8 chữ , giống và rập khuôn thơ Tiền chiến , khiến người đọc và nhất là  người  làm thơ rất khó chịu , vì sự gò bó vào số chữ qui định trong mỗi câu thơ . Nó làm mất sự tự do lẫn cảm hứng khi làm thơ.

Tuy nhiên thơ THT khác thơ  vần Tiền chiến là : nó không lệ thuộc vào vần bằng trắc nên người ta còn gọi là thơ không vần . Là thơ không vần thì chỉ loại bỏ được việc gò bó vần điệu , khỏi phải đi tìm chữ để cho đúng vần khi đi tìm ý thơ để câu thơ không bị ảnh hưởng cảm hứng . Nhưng ngược lại , THT tự sự , kể lể  như đã nói ở trên nên nó thiếu chất thơ , ít nhạc tính . Thơ THT giống như một đoản văn ngắn . Thiển nghĩ những người thích làm thơ THT Việt cần phải khắc phục để sự phát triển lâu dài và người thưởng ngoạn không bị nhàm chán .

Nên chăng , người làm thơ THT nên loại bỏ một số chữ qui định mỗi câu thơ . Nghĩa là không ấn định số chữ qui định trong mỗi câu thơ , nhưng vẫn giữ cách xuống hàng đột ngột khi câu chưa hết ý . Chúng ta có thể hiểu như là cách làm thơ Tiền chiến phá thể ?

Những người thao thức cách tân thơ , làm mới thơ , đó là  một cần thiết trong nghề thơ , trong nghệ thuật thơ . Chúng ta trân trọng những nhà thơ có tâm huyết đó . Sáng tạo có nghĩa là làm mới . Vì khi họ không làm mới được nữa , thì sáng tạo cũng không còn tiếp tục được . Lúc đó việc làm thơ cũng chỉ là một việc làm giống như loài trâu , bò nhai lại cái bã của mình và của người khác đã nhả ra .

Còn nhớ  hồi gặp nhạc sĩ Trịnh  Công Sơn lúc còn sinh tiền ở Sài Gòn , tôi hỏi . “ Sao lúc này anh  lại vẽ bộ bỏ viết nhạc rồi sao ? “ Anh trả lời .” Mình viết nhạc lúc này gặp bế tắc , nên quay sang vẽ một thời gian xem sao . “ Cách trả lời đó là lòng tự trọng và  khiêm nhường của một người nghệ sĩ lớn .

Những năm sau này âm hưởng dòng nhạc họ Trịnh lan tràn khắp nơi , khiến nhiều người viết nhạc bắt chước , nhái theo âm giai , cung điệu âm nhạc của anh . Ngay cả những người đã có tiếng tăm . Họ quên rằng mỗi người sáng tạo , tác phẩm làm ra phải có một cá tính riêng thì mới được gọi là căn cước của người nghệ sĩ ấy . Người ta không ngạc nhiên khi thấy giới sáng tác  âm nhạc Việt Nam đi thụt lùi so với giới nghệ sĩ  biểu diễn .

Nhưng làm mới nghệ thuật đến đâu ? Làm mới đến chừng nào là do tài năng của người nghệ sĩ ấy thuyết phục thì việc làm mới đó mới có ý nghĩa .

Trong ý nghĩa làm mới thơ ,  không phải cứ nghĩ ra được một thể thơ mới thì mới gọi là làm mới thơ , là Cách tân thơ . Không phải bất cứ lúc nào , hay bất cứ ai cũng có thể phát minh ra một thể thơ mới được , một trường phái mới được .

Bất luận một thể thơ nào cũng có thể làm mới . Làm mới ở đây là làm mới ngôn ngữ , làm mới thi pháp , làm mới hình thức , làm mới nội dung , ý nghĩa bài thơ .v .v . . .

THƠ  VẦN .

Lâu nay tôi làm thơ Tự do mà không làm thơ vần . Không làm thơ vần , không có nghĩa là bỏ hẳn , là đành đoạn chia tay . Lâu lâu không làm , lắm khi cũng nhớ . Như nhớ một người con gái đã xa . Đến một lúc nào ngồi buồn một mình , suy nghĩ vẩn vơ lại mong có dịp gặp lại .

Dẫu biết thơ vần như Lục bát , thơ 7 chữ hay  8 chữ Tiền chiến , nó giống như một cái hkhuôn bánh đã có sẵn . Cách làm thì giống như một thứ bột đã xay nhuyễn , nhồi bóp theo một loại công thức , rồi đổ vào khuôn , nó  sẽ cho ta một loại bánh giống nhau . Tuy vật liệu có gia giảm để làm khác đi mùi vị , nhưng hình thức cái bánh thì cùng một loại . Để tránh đi nhàm chán, người làm thơ phải biết cách tân làm mới .

Nói ngán thơ vần thì nói vậy . Nhưng tình cờ được đọc một bài thơ vần hay thì cũng rất là thú vị . Do vậy mà duyên nợ với thơ vần , không thể nào bỏ được . Lúc buồn tình cũng thỉnh thoảng ngâm nga đọc lại , rồi khi có hứng  thì cũng bằng bằng trắc trắc , tìm chữ gieo vần . Thế là ta lại tình ý với nàng vui vẻ , mà bấy lâu nay ta đã ngoảnh mặt như một kẻ phụ tình . Cứ thế cuộc đời làm thơ của tôi luôn luôn “ diễn biến một cách phức tạp “ .

Trong một bài tiểu luân về thơ trước đây tôi có viết rằng : Làm thơ Tự do . Thơ vần hay thơ THT , tùy theo thời gian hay nhu cầu cảm xúc của tâm hồn mà người làm thơ xử dụng một thể thơ nào cho phù hợp với tâm hồn cảm nhận vào thời gian lúc đó , chứ không nhất thiết là phải làm một thể thơ nào nhất định . Người làm thơ thường thay đổi tâm tánh , nghĩa là thay đổi cái tâm cảnh lúc làm thơ .

Nhà thơ Thanh Tâm Tuyền được coi như là nhà thơ Tự do . Ông là một trong những nhà thơ cách tân “ cách mạng “ nhất trong lịch sử thi ca Việt Nam . Nhưng đến khi vào tù ông lại quay sang làm thơ vần . Khi sang Mỹ ông mới cho in một tập thơ vần lấy tên là : Thơ Ở Đâu Xa  , là như vậy chứ không phải là một lý do nào khác .

Có lắm người suy luận theo ý mình và cho rằng ông làm thơ vần ở trong tù  , mục đích là cho dễ nhớ , dễ thuộc ! Hay là ông bỏ lối thơ Tự do hiện đại để quay trở lại với lối thơ cũ .

LÀM  NGHỆ  THUẬT  KHÓ  HAY  DỄ  ?

Có người hỏi tôi : Làm thơ có khó không ? Tôi xin trả lời : Bất cứ là làm việc gì , nếu không biết thì đều khó cả , huống chi là làm nghệ thuật . Làm thơ là làm nghệ thuật . Vẽ tranh là làm nghệ thuật . Viết nhạc là làm nghệ thuật . Nhưng làm nghệ thuật phải cho ra là làm nghệ thuật , nghĩa là phải vẽ cho đẹp , viết cho hay . Làm nghệ thuật  như thế thì khó . Rất khó . Còn nếu làm dở , thì dễ ẹc . Vì nó đâu phải là nghệ thuật !

Thế nào là thơ dở ? Thơ dở trước tiên là một bài thơ không có hồn . Đọc lên không gây được cảm xúc . Nó bắt chước , rập khuôn , vần vè . Thứ thơ ghép chữ dễ dãi . Nó chắp  vá  những từ ngữ  sáo mòn cũ rích với nhau sao cho có vần để người  nghe được xuôi tai , câu trên khớp với câu dưới về bằng trắc , mà không cần  một cảm xúc nào , một ý tưởng nào .

Còn thế nào là một bài thơ hay thì cũng khó nói , nó tùy cảm nhận nơi người đọc . Nhưng theo tôi , trước hết muốn làm được một bài thơ hay thì bài thơ đó phải đánh động được lòng người . Khi mình đọc bài thơ đó lên , bài thơ phải gây được xúc dộng , xúc động trong cảm xúc , vì người làm thơ có nhận được  cảm xúc  thì khi viết ra mới làm xúc động lòng người . Đánh đánh động trái tim người thưởng ngoạn . Nói tóm lại người thi sĩ càng nhận được nhiều cảm xúc nghĩa là họ đặt cả tâm hồn mình vào được bài thơ , thì người đọc càng xúc động . Thế là một bài thơ có thể gọi được là hay . Tuy nhiên để gây được xúc động lòng người , nó còn phải hội đủ nhiều điều kiện khác như , ý tưởng , ngôn ngữ , thi pháp , lý luận  .v.v. . . Nói chung , muốn làm được một bài thơ hay , thì người thi sĩ phải có năng khiếu , tài năng và nghiêm túc trong cách làm . Nghĩa là anh ta không được phép dễ dãi với chính mình . Không được theo đuôi hay bắt chước phong trào nhất thời của quần chúng .

Sự dễ dãi làm thơ ở đây là cái hời hợt , cái lười biếng trong suy nghĩ của một người làm nghệ thuật thiếu tài năng , một người nghệ sĩ không chịu học hỏi . Đã là người nghệ sĩ tài năng , thì người nghệ sĩ đó phải chịu khó học hỏi suốt đời . Có học hỏi thì mới có sáng tạo . Sáng tạo ở đây là sáng tạo nên cái mới , cái tự mình nghĩ ra , tự mình làm ra , không giống những cái đã có ,  của những người đi trước . Nói như thế , không phải là chúng ta gạt bỏ không biết trân quí , gìn giữ những kinh nghiệm quí giá mà người xưa để lại .

Cái nguồn cảm hứng của một người có tài năng , là họ biết học tập cái ý tưởng của những danh nhân bằng cách đọc sách hay nghiên cứu tìm tòi nghệ thuật trong thiên nhiên vũ trụ . Trong cái khuôn mẫu Thượng đế ưu ái dành cho con người , mà kinh nhà Phật gọi là Tứ diệu đế : Gió – Lửa – Nước – Đất  đã có sẵn , như đã nói ở trên . Có như thế thì ta mới hiểu được sự mầu nhiệm của nghệ thuật . Nó là phần cứu cánh của tâm linh con người . Đó cũng là ý nghĩa sống của người văn nghệ sĩ trong  các môn nghệ thuật .

Nghệ thuật còn là sự nhạy bén và chắt lọc những suy tưởng triết lý và văn học trong đó : nghệ thuật nghe , nghệ thuật nhìn và nghệ thuật ẩm thực . Tất cả đều là một thứ nghệ thuật sống . Đó là văn học , là linh hồn của loài người . Thứ tinh thần không thể thiếu , và tốt đẹp không gì sánh nổi .

Trong các loại hình nghệ thuật , thi ca là vị vua , là vương  giả của các loại hình nghệ thuật  . Vì  thi ca là linh hồn cái đẹp của những cái đẹp . Nó là tiếng nói của ngợi ca . Chỉ có con người mới  nhận thức được thi ca và biết dùng thi ca để ca ngợi sự vật  , ca ngợi con người . Sự thanh khiết đó làm chuyển hóa vũ trụ và nó cũng dùng để làm thăng hoa con người . Trong muôn vàn cái đẹp của sự thăng hoa , thì  Mỹ nhân là sự tột cùng trong hết thảy cái  đẹp đê thi ca ngợi khen .

Ở đây chúng ta đang thảo luận về nghệ thuật thi ca . Về một người làm thơ và cái khó hay dễ trong việc làm thơ . Cái đề tài về thơ thì thật là đa dạng , thú vị và được nhiều nhà phê bình nói đến . Vì ở nước ta rất nhiều người thích làm thơ , nhưng lại rất ít người am hiểu về thơ , họ coi thơ chỉ là thứ gì dễ tiêu khiển , là một nghệ thuật  dân gian tầm thường  . Những người  ít học những nông dân hay ngay cả đứa trẻ chăn trâu chăn bò , cũng có thể biết làm thơ , dù chỉ là vọc vạch vần vè . Nhưng để phân biệt được thơ hay vần vè thì họ lại không phân biệt được . Nghĩa là họ làm thơ theo một thứ quán tính nào đó đã có từ thủa ấu thơ .

Trong văn học Việt Nam , những nhà thơ có thực tài để chọn lọc ra được những bài thơ hay thì  không nhiều so với số lượng người làm thơ rất đông .

Làm được thơ hay để được công nhận là một nhà thơ , không phải người làm thơ nào cũng có thể đạt được . Trước hết vị đó phải là một người có năng khiếu bẩm sinh , phải là người có học vấn , có kiến thức  rộng  , là người có tâm cơ , có tấm lòng nhân ái đối với tha nhân và sau hết phải là người yêu thơ , đến sống chết với thơ trong mọi hoàn cảnh . Thì đó mới gọi được là một nhà thơ có thực tài . Xứng đáng được người đời tôn vinh là thi sĩ .

SÁNG   TẠO  VÀ  NGHỆ  THUẬT .

Sáng tạo là tự mình nghĩ ra , tự mình làm ra , như đã dẫn ở trên . Đó là những người làm nghệ  thuật .

Người sáng tạo thơ nhìn sự vật bằng trực giác , bằng sự đơn sơ tự nhiên như những bông hoa ,  đến độ thì nở ra , như khói sương u trầm đỉnh núi . Nó tự nhiên như nhiên , giống nụ cười của bé thơ .  Người sáng tạo không biết lý luận và giải thích bằng lý trí khi anh  ta , chị ta đang sáng tác . Lúc mà họ chỉ còn nỗi đam mê tột cùng , say đắm tột cùng . Nhà thơ lúc đó chỉ biết viết ra những gì vừa nảy sinh , trong phút giây linh diệu . Nỗi ngẫu hứng tuôn trào cuồn cuộn thác đổ , như một làn khói xanh , bềnh bồng như áng mây đang bay lượn vô tận trên trời . Những câu thơ  , chữ nghĩa tượng hình trong tâm hồn người thi sĩ lúc đó hầu như bất diệt . Nó hiện ra , tuôn ra , tuôn trào khí phách không sao kìm giữ được . Lúc đó không có luật tắc , không có lý luận , chỉ có nỗi cô đơn thăm thẳm trong phút giây linh hiện ở trạng thái ngây ngất , say mê , dồn dập và ngông cuồng . Bởi chàng đang được uống một thứ rượu hạnh phúc tuyệt vời  , không gì sánh được của trần gian

Người làm thơ trực nhận sự vật , nên thở ra cái vừa lĩnh hội đã trực nhận . Cái mơ hồ lãng đãng kết nên một chữ , một câu , một đoạn . Trong khoảng không trừu tượng , nhiều khi lại đầy ắp tất cả . Nó chỉ muốn trào ra , phọt ra , chỉ muốn ban phát thứ gì đẹp nhất , thơ mộng nhất cho người vừa thụ nhận  sự kết tụ , để họ viết ra cái nóng hổi từ con chữ được nâng nưu trân quí , mà thi sĩ gọi là thơ . Phút trừu tượng ấy hiện ra ở trong đầu  rồi tỏa ra bát ngát ở trước mặt , ở chung quanh . Nó là một thực tại để sống , để bay lượn hiện hình . Nó đã trở nên một hiện thực sự thật , không còn là những hiện tượng vô hình . Nó là nguyên nhân làm nên người thi sĩ lúc bấy giờ , chứ tuyệt nhiên con người không thể nào làm nên hay tạo dựng nên thi sĩ . Cái thơ mộng không thể nào làm nên bằng lý trí được . Mà thơ mộng lại là cái chất của thi sĩ . Bởi tâm hồn của hắn được nuôi dưỡng bằng mật ong tình yêu . Bằng cỏ cây hoa lá , núi rừng và biển hồ , bằng khung trời lồng lộng . Và hơn thế nữa bằng sự tự do tuyệt đối ! Tâm hồn ấy cũng được tạo thành bằng những âm thanh , bằng tiếng chim ca , tiếng suối reo , được hòa nhập vào cái đẹp của đất trời . Do vậy mà thi ca đã trở thành nghệ thuật làm đẹp cuộc đời . Chả thế mà nhà văn Dostoiepki của Liên Xô đã nói : “ Cái đẹp cứu chuộc thế giới “ .

Những câu thơ hay đã làm rung động lòng người , mà người thi sĩ là tác nhân làm cho thiên nhiên có nhiều sức sống hơn , sinh động hơn và đẹp đẽ hơn . Một đặc điểm nữa trong việc làm thơ là sự nhìn thấy . Nhìn thấy những gì ẩn náu trong sự vật , làm cho sự vật hiện hữu hơn , hiện thực hơn , bát ngát hơn trong cõi thường hằng của sự suy tưởng . Nó tạo nên sự rung động sự vật cả ngoài hiện thể . Những câu thơ do vậy mà người xưa thường xuất khẩu thành chương , trong lúc cao hứng ngâm vịnh . Cái nhìn xuyên suốt không phải lúc nào cũng được xuất hiện . Nó chỉ ban phát cho người có một  tâm hồn lớn lao , cho người có thực tài soi rọi những tâm lực yêu thương vào trong cuộc sống .

Làm thơ cũng giống như yêu . Trong lòng cảm thấy thiết tha mãi , bâng khuâng mãi . Lúc nào tứ thơ cũng hiện hình như nhìn thấy người mình yêu ở trong sâu thẳm nhất , mênh mông nhất , dù người yêu ở nơi chốn nào không hiện diện . Ngay cả khi nhà thơ đang ngủ , hình ảnh cũng hiện về mê say . Tình yêu có khác chăng chỉ là sự nhớ thương . Vậy thì . Tình yêu là sự nhớ thương . Bởi hai người yêu nhau lúc nào họ cũng chỉ muốn sống bên cạnh người mình yêu , cho bớt nhớ thương ! Nên xúc động của những người yêu nhau và thi sĩ thì cùng một tầng số .

LÀM  THƠ  VÀ  TÌM  HIỂU  THƠ .

Hiểu về thơ đã , rồi mới làm thơ , hay làm thơ rồi mới tìm hiểu về thơ ?

Thường thì người ta làm thơ rồi mới tìm hiểu về thơ , đó là phần đông ở Việt Nam chúng ta . Nó không giống những nước phương Tây khác là , họ tìm hiểu về thơ rồi , biết thơ là gì rồi , họ mới làm thơ . Nghĩa là họ phải được học thi ca ( poestry ) ở trường lớp trước khi họ cầm bút làm thơ . Do vậy thường những nhà thơ của họ là những người có học thức uyên bác , có năng khiếu , là những người có  tài năng thực sự . Ngay cả những vị vua chúa thời xa xưa cũng rất trọng vọng nhà thơ , thi sĩ tài năng được mời vào cung đình để đọc thơ cho vua chúa và các quan  chức nghe Thời nay nhà thơ ở phương Tây vẫn còn được mọi người kính trọng . Thơ được mọi thức giả xem ngang hàng với Kinh Thánh . Được đọc vào những ngày lễ trọng đại của Quốc gia .

Làm thơ rồi mới tìm hiểu về thơ . Chẳng là chúng ta  nghe ca dao từ hồi nằm nôi . Bà ru , mẹ ru , chị ru . Thứ âm nhạc vần điệu nhịp nhàng , êm như gió thoảng , “ ngọt như đường cát mát như đường phèn “ , thấm nhuần trong dòng nước thánh tuổi thơ . Chả thế mà nó làm dịu đi niềm đau ngay lúc đứa trẻ mới chào đời . Lúc mà mẹ đi chợ xa chưa về kịp , lúc mà mẹ còn đang nhọc nhằn tỉa bắp trồng khoai ngoài đồng ruộng chưa về , lúc mẹ còn phải tảo tần buôn bán ngoài chợ . Niềm đau bé thơ là đói khát , hay khi trái gió trở trời . Những trận ban nóng ngút trời mà mẹ không biết làm sao để dỗ dành cho con nín , con ngủ , lúc đó thì câu ca dao của mẹ , của chị cất lên theo tiếng à ơi , vỗ về tâm hồn non nớt của con , của em . Và thế là thơ đã đưa con , đưa em đi vào giấc ngủ , vào cõi mộng mơ đầu đời . Thơ ca dao lúc đó là một phép lạ nhiệm mầu đi vào tiềm thức tuổi thơ , vỗ về tinh thần con trẻ , dỗ cho con trẻ khỏi khóc , dỗ cho con cười . Ca dao thần tiên hòa vào dòng sữa ngọt từ lúc con người vừa lọt lòng mẹ .

Và như thế , ca dao , câu hò ở nông thôn đã là bản sắc cho con người Việt Nam ngay từ thủa sơ sinh cho đến khi khôn lớn . Lúc biết đọc biết viết thì cái hồn thơ nó đã nằm sẵn nơi tình cảm con người , nó mai phục một cách tự nhiên , một cách không có ý thức nơi con người . Vậy những câu ca dao đầu đời là gì ? Đó là những dòng thơ lục bát , những câu thơ lấy trong kinh nghiệm đời sống nghệ thuật dân gian thường ngày . Cái đời sống ấy thế mà nó có tác dụng giáo dục con người , bởi thời xa xưa hay cận đại , mấy gia đình nghèo có tiền cho con đến trường đi học . Phải là những gia đình giàu có hay con nhà khá giả mới có tiền cho con đến thày Đồ học lấy dăm ba chữ Thánh hiền . Đa số những con nhà dân giả chỉ biết dạy con học đạo làm người bằng lời khuyên , bằng gương sáng của người  xưa và bằng ca dao tục ngữ , bằng câu hát , câu hò

Những câu ca dao như : Công cha như núi Thái sơn – Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra . Hay , Có công mài sắt có ngày nên kim . Hay  , Không thày đố mày làm nên .v .v . . . không biết có từ  bao giờ . Có lẽ nó nó được lưu truyền từ lâu lắm . Nó có từ hàng ngàn năm rồi cũng nên . Cho nên người có học hay người không có học cũng biết thế nào là ca dao , tục ngữ và nôm na họ gọi đó là thơ . Đến khi có dịp ngẫu hứng , hay lúc “ tức cảnh sinh tình “ , thì người có năng khiếu , cứ theo vần bằng trắc mà làm thơ . Lúc đầu thì vò vẽ bằng trắc sao cho ăn khớp với nhau nhịp nhàng . Cứ câu trên bằng thì câu dưới trắc , theo mẫu ca dao đã có sẵn , chẳng cần biết thế nào là niêm luật . Còn hiểu thế nào là một bài thơ thất ngôn , ngũ ngôn hay lục bát thì rồi dần dà sẽ biết sau . Do vậy số  rất đông người Việt Nam  làm thơ vì đã được thấm nhuần ca dao mẹ từ trong máu thịt .

LÀM  THƠ  TÌNH .

Những người mới bắt đầu học làm thơ , thường thì họ hay làm thơ tình . Có phải làm thơ tình dễ làm không ? Có thể . Khi đến tuổi dậy thì , trai gái yêu nhau muốn tỏ tình , ai mà không e thẹn run rẩy khi gặp cái người mà mình để ý , cái người làm mình sợ hãi . Cái người lỡ làm mình thương trộm nhớ thầm .  Nhưng biết thố lộ cùng ai ? Thôi thì  ta làm ít câu thơ cho đỡ sầu “ vạn cổ “ rồi lén đem trao nàng vậy ! Nếu sợ quá không biết nhờ cậy ai hay không dám đưa trao  , thì đành bạo gan đánh liều chứ biết làm sao , thôi thì ta  lén  bỏ trộm bài thơ vào cặp của nàng lúc giờ nàng  ra chơi !

Tình yêu là mục đích và cứu cánh của con người đi vào đời sống . Vậy thì tình yêu là ý nghĩa của cuộc sống . Là nhu cầu cần thiết mà ai cũng phải khát khao . Một nhu cầu tâm linh cần được nuôi dưỡng để vượt thoát đớn đau tìm về cội nguồn hạnh phúc . Nó đương nhiên lớn lên theo sự phát triển thể chất và tinh thần , bởi nó muốn vượt thoát cô đơn , nó muốn được ve vuốt , mơn trớn không những của người thân  yêu cốt nhục của mình , mà của cả tha nhân đồng loại . Đến một lúc nào đó , một phút giây nào đó nó muốn yêu thương và muốn được yêu thương . Tình yêu đến với con người ngay trước khi con người ý thức được về tình yêu . Nó đương nhiên như một nhu cầu sinh lý của đời sống .

Cái sinh linh khi còn nằm trong bụng mẹ , lớn dần lên với tình mẫu tử cho đến khi nó ra đời , cái nhu cầu yêu thương ấy đã được ôm ấp nâng niu và được bảo vệ không ai có thể tách rời được tình yêu thương mẹ con . Cho đến tuổi thành niên , tình thương từ cha mẹ , anh em , chuyển sang một thứ tình yêu thương khác là tình yêu trai gái . Thế là những vần thơ khóc gió thương mây thành hình . Lúc đó đôi mắt của họ dõi theo một bóng hình nào mà họ thấy bâng khuâng , rung động rôi tương tư không phút nào nguôi . Những vần thơ tương tư đó bật ra , bởi một con tim đau khổ và sung sướng . Thơ bắt đầu đến với người muốn làm thơ từ đó .

THƠ  VÀ  ĐẠO .

Tiến trình diễn tiến theo thời gian , người làm thơ bắt đầu làm thơ tình , nay đã có nhiều suy tư hơn , nhiều niềm đau hơn và nhiều kinh nghiệm hơn , tự nó dần chuyển sang một trạng thái suy tư về cuộc sống , về kiếp nhân sinh . Cái đòi hỏi đương nhiên của con người , đi từ tình yêu trai gái , tình thương ruột thịt tới một đời sống trọn vẹn hơn đó là một nhu cầu . Và bên kia cái đời sống đang cần , đi tìm câu trả lời và lý giải là một mong muốn cấp bách , bao la như một bầu trời . Con người cứ thắc mắc , cứ ưu tư , cứ đòi hỏi , mà nhu cầu trả lời về kiếp nhân sinh , cái kiếp cụ thể mà mình đang sống , thì không sao thỏa mãn được . Rất giới hạn . Con người càng lý giải và càng tìm cách trả lời thì những thắc mắc , những vấn nạn càng gia tăng . Càng lúc câu hỏi càng hóc búa , cho đến ngày nhắm mắt xuôi tay cũng không thể trả lời thỏa đáng được . Vậy thì chỉ có thi ca chỉ có thơ , may ra mới giải quyết được phần nào cái vấn nạn , cái lý giải của sự tồn sinh của con người , mà mọi triết lý , mọi tư tưởng , văn chương , các loại hình nghệ thuật , hay khoa học trên trần gian này , xem ra bất lực ! Tựu trung chỉ còn lại là một nguồn rung động là Thơ và Đạo ( đạo lý làm người ) . Tiếng hát bâng khuâng của ngàn năm với thiên nhiên mưa nắng làm hạnh phúc cho đời sống tâm linh con người .

KẾT  LUẬN

Thơ bắt đầu tri kỷ với con người như thế và kết thúc với tri kỷcủa nó là như thế . Cái học của người làm thơ , hay cái học vấn của con người  nói chung . Cái cốt lõi không hẳn là tri thức , là kiến thức mà là cái đạo lý làm người .

Cái đạo lý làm người mới xem qua thì thấy dễ học hơn  là cái kiến thức chuyên môn về kỹ thuật của ngành học . Vì muốn nhận được sự  hiểu biết có tri thức  thì phải đến trường , đến lớp để học tập . Phải có điều kiện về tài chánh tiền bạc , sức khỏe .

Còn cái đạo lý học làm người thì ai cũng có thể học được , không cần phải đến trường lớp . Nhưng  để tiếp thu được cái đạo đức làm người đó . Thì lại rất là khó khăn . Nhiều người học hành đã thành đạt , làm ông nọ bà kia , tiền bạc dư giả , giầu có . Nhưng cái đạo lý làm người . Học không cần phải tốn tiền , thì chưa học được . Có khi đến hết đời , người đó vẫn trơ tráo làm một kẻ bất nhân !

Cái loại bất nhân có học thức lại còn gây nguy hiểm hơn loại bất nhân không có học . Suy cho cùng , cái đạo lý làm người cũng xuất phát từ lòng yêu thương con người mà ra . Nếu không có tình yêu thương thì sẽ không nẩy mầm ra được đạo lý , sẽ không hiểu được  cách làm một con người cho ra một con người , sẽ không hiểu được sự cao quí của con người hơn những sinh vật nào khác .

Cách thể hiện lương tri đành rằng là do sự giáo dục , là do được giáo dục . Nhưng cái đạo lý và kiến thức phải đi song hành thì mới trọn vẹn . Bằng không thì cách chọn lựa , làm một con người có đạo đức vẫn xứng đáng hơn , làm người hơn ,  là làm một người có bằng cấp , có học vấn mà không có đạo đức . Vì đạo đức làm người là một hành vi của một tinh thần cao thượng . Đời sống vật chất ta có , nó phải gắn liền với đời sống tinh thần cao cả , thì mới gọi được là một đời sống con người đầy đủ . Đời sống đầy đủ vật chất và tinh thần là một là như vậy .

Thơ và đạo bao gồm là nghệ thuật . Nghệ thuật hay cái đẹp CHUYỂN  HÓA  Thế Giới ./

QUỲNH  THI

Nhà thơ Nguyễn Hàn Chung và bản thảo “Nghịch Lưu Của Tuổi”

Hai Trầu

HT:

Mến chào nhà thơ Nguyễn Hàn Chung,

Như bìa sau thi phẩm “Nghịch Lưu Của Tuổi”, có ghi :

Nguyễn Hàn Chung

Sinh quán  Điện Bàn –Quảng Nam

Tác phẩm đã xuât bản :

Tim tôi trong bóng (thơ) 1999

Nói hộ phù du  (thơ ) 2002

Nghịch lưu của tuổi (thơ) 2011″

Anh bắt đầu mê thơ từ lúc nào ? và anh có thể kể cho nghe về hai thi phẩm “Tìm Tôi Trong Bóng” (1999) và “Nói Hộ Phù Du” (2002), nội dung cùng sự ra đời của nó, thưa anh ?

NHC:

Rất cám ơn sự quan hoài của anh Hai Trầu khi đọc “Nghịch lưu của tuổi”. Nguyễn Hàn Chung đến với cõi thơ từ khoảng đệ thất, đệ lục ( khoảng đầu thập niên sáu mươi) lúc bắt đầu trổ mòi ”Đứng ngẩn trông vời áo tiểu thư” .Bắt chước các bậc đàn anh xứ Quảng  như Hoàng Thị Bích Ni , Đynh Trầm Ca, Nguyễn Nho Sa Mạc,Nguyễn Nho Nhượn, NHC cũng vần vè đôi bài cỡ như “Thuở nhỏ ôm một cây hùng khí-Bây giờ nghĩ lại thấy ương ương-Đời loạn mà không mần tráng sĩ- Cũng chả xài đến gã văn chương -Thì thôi vỗ bung mà ca hát …Say khước nằm lăn…” Thế thôi , ca vung hào sảng cho vui có nghĩ cái nghiệp thơ nó ám  miết âm hồn bất tán vào mình cả đời đâu. Thôi kệ rứa mà vui mà có bạn bầu tứ xứ.

Tập thơ đầu tay “Tìm tôi trong bóng” (1999)  tập hợp những bài thơ viết sau 1975 chât chứa nhiều trăn trở tìm sâu bản lai chân diện mục của mình với những nghịch âm,nghịch cảm trong cuộc Đánh cờ một mình.Tập thơ thứ hai ‘’Nói hộ phù du’’ (2002)  lại mở ra một hướng khác : Nói hộ cho những nỗi đời bà mẹ núi,ông lão bị lũ con cướp đất,người phu xe thổ mộ ngơ ngác giữa phố,anh kép diễn hài trong lúc cha đang hấp hối …Nói chung nói về thơ mình thì hơi khó .Anh có thể đọc bài viết sau đây của Liêu Thái(*)

(*”Nói hộ phù du-Cảm thức tro bụi và ý thức bền bĩ về tính hữu hạn tồi sinh” của Liêu Thái, Phần Phụ lục trang 136-….)

HT:

Anh Nguyễn Hàn Chung,

Theo giới thiệu của anh về bài viết ” Nói hộ phù du – Cảm thức tro bụi và ý thức bền bĩ về tính hữu hạn tồn sinh” của Liêu Thái, tôi thấy tác giả lưu ý đến khía cạnh cách tân trong thơ anh, nguyên văn:“Dường như đến đây, ý thức cách tân về hình thức lẫn nội dung trong thơ Nguyễn Hàn Chung đã bắt đầu hé lộ – một sự hé lộ hàm ẩn nhiều hệ lụy cho kẻ trót đa man với con chữ, dự báo một nỗi cô đơn rình rập…” Và  tác giả kết:”Anh đã để lại cho bạn đọc quê nhà một hình ảnh đẹp về người nghệ sĩ – nhà giáo tóc muối tiêu có đôi mắt sâu thẳm, ánh nhìn tinh nghịch và nhân hậu luôn quắt quay thoát khỏi những ràng buộc của sáo mòn để tìm đến không gian mới của sáng tạo. ”

Điều đó có thật vậy không? Và nếu có, anh có thể chia sẻ một chút về việc “cách tân” trong thơ anh ?

NHC:

Có thật không hả anh Hai ? Thì nó cũng hàm hỗn như thơ vậy, thật mà hư ,hư mà thật,cũng chả có cách tân cách cổ gì ghê gớm đâu chỉ là đổi mới tư thế làm…thơ cho nó sướng lên thôi chứ  cứ bưởi bòng rạ rơm vần vần vè vè đàng điệu  nó có vẻ giả giả thế nào ấy . Chính bản thân người viết đã chán ngấy thơ mình huống hồ …Cũng phải nói thêm điều này một chút .Cách đây chừng hơn hai mươi năm lúc NHC còn chưa bỏ xứ viết cái gì cũng sợ bị quy chụp như cái đận bài thơ Đánh cờ một mình bị truy tung đến điêu đứng nên sau này phải ẩn điều muốn hiển lộ dười tầng tầng bóng chữ kiểu ai hiểu chết liền nếu có kêu lên gọi xuống  hạch hỏi còn có cái để đốp chát:Bây giờ các cây bút hậu hiện đại cách tân đên mút chỉ  làm NHC cảm thấy thơ mình còn quê một cục  chẳng qua Liêu Thái dùng lối nói  khoa trương  cho NHC uống đường ăn mật đó thôi…

HT:

Anh Nguyễn Hàn Chung,

Không có lửa làm sao có khói, phải không anh ? Và có “cách tân” hay không ở thơ anh như Liêu Thái nhận định chắc người đọc cũng đã thấy rồi, nhưng có điều này, anh còn nhớ những bài thơ cũ một thời của anh không ? Hy vọng anh cho bạn đọc nghe lại chút hương xưa một thời qua những vần thơ cũ ấy, anh Nguyễn Hàn Chung ? .

NHC:

Kính anh Hai Trầu!

Vâng ,thưa anh .Có bạn văn khi đọc  Nghịch lưu của tuổi có comment với tác giả là trong tập thơ hầu như không có thơ tình .Quả vậy NHC cũng không biết tại làm sao mình  không thể …Thôi thì nhân anh nhắc ,NHC chép lại một  vài đoạn  thơ tình tang tình  gửi tặng anh cùng bạn đọc gọi là bổ sung vào phần khiếm khuyết :

”Nhà vắng lục tìm sách cũ
Lạc vào một cõi em xưa
Những lá thư vàng ố chữ
Lời yêu khi tỏ khi mờ…

Cổng trường Văn khoa quá chật
Anh đi kiếm lá mỏi mòn
Mối tình đầu như đốm lửa
Mỗi khi lòng không củi nhen…

Và nhớ những ngày mưa Huế
Thu lu quán xếp bên trường
Sóng sóng trăm tà áo trắng
Anh vẫn nhìn ra mắt em…”’

Tiếng vợ nựng con bên cửa
Anh biết giấu em vào đâu
Nào bướm nào hoa nào tóc
Anh còn nâng níu trên tay…
(
Ký ức đầu)

“Nửa đi là mất nữa rồi
Nửa vể, câm, một nửa vùi trong đau
Nửa trời cho dễ nữa đâu
Nửa rưng rức sóng chân cầu nửa em

Nửa chiều nửa sáng nửa đêm
Nửa xanh biếc rụng nửa mềm môi khô
Anh còn có nửa chi mô
Nửa em giàn giụa tan bờ nửa anh

(Nửa)

‘Biết rồi sẽ chuốc đa đoan
Mà không ngăn nổi quáng quàng đường say
Lâu rồi cứ tưởng ,ô hay
Trái tim ta cũng bàn tay ai cầm
Mây bời bời cỏ rối câm
Thời gian vò sợi tóc xanh trắng mù
Hôn liều lên chúm chím thu
Bờ môi như sóng nhiễm từ xa xăm

Giá trời bỏ quách tháng năm
Tôi hao khuyết hết trăng rằm cho em

(Tuổi tình )

Những đoạn trích trên từ hai tập thơ ”Tìm tôi trong bóng” và ”Nói hộ phù du “. Anh thấy có ”mềm ”hơn thơ trong NLCT không anh ?

HT:

Anh Nguyễn Hàn Chung,

Giờ xin bắt đầu với “Nghịch Lưu Của Tuổi” của anh . Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, quyển 1, trang 172 :  ”Mùa đông, tháng 11, Lý Nguyên Gia thấy trước cửa thành có nước chảy ngược, sợ trong châu nhiều người sinh lòng làm phản, vì thế dời đóng ở thành ngày nay (Bấy giờ Nguyên Gia dời phủ trị đến sông Tô Lịch, mới đấp thành nhỏ thôi, có người thầy xem đất bảo rằng : Sức ông không đấp nổi thành lớn, độ năm mươi năm nữa về sau tất có người họ Cao đến đây  đóng đô dựng phủ …”(*) Như vậy “nước chảy ngược”, theo anh có phải là “nghịch lưu” không ? Và sao anh lại chọn bốn chữ  ”Nghịch Lưu Của Tuổi” làm cái tựa cho thi phẩm  lần này, thưa anh ?

————–

(*) Toàn Thư theo An Nam kỷ yếu . Lý Nguyên Gia sở dĩ xin dời phủ thành là vì thấy ở phía trước cửa thành có nước chảy ngược – tức là nước sông Tô Lịch, bấy giờ còn là phân lưu của sông Hồng, nên nước chảy từ sông Hồng ngược lên.

NHC:

Lương tiên sinh quả thật là đại hành gia trong lĩnh vực truy nguyên nhưng NHC không thể trả lời câu hỏi nầy của anh Hai được đâu .Trúng thì không sao chứ sai thì chết bỏ xừ .Có điều khi chon bốn chữ Nghịch lưu của tuổi làm tiêu đề cho tập thơ NHC cũng có chút hàm ý. Thông thường theo hành trạng xuất xử của người xưa ”Thiếu tiểu ly gia lão đại hồi-Hương âm vô cải mấn mao tồi -Tạm dịch : Lúc trẻ bỏ xứ ra đi lúc già mới trở về -Tóc râu đều bac cả  mà giọng quê không đổi (Hạ Tri Chương). NHC đi ngược với cái trình tự kinh điển ấy .Gần sáu mươi năm quẩn quanh đi học rồi làm nghề gõ đầu trẻ ở một xó xỉnh quê nhà Quảng Nam -Đà Nẵng bây giờ già khèn trí cùn lực đoản ”bách niên đa bệnh độc đăng đài” còn bán mạng ly gia  hành cu li đất khách  phải quên cái hương âm uốn môi , uốn lợi học tiếng nước người nên liều mạng đặt tên tập thơ để đánh dấu một chặng cuối đường lưu lạc . Thế thôi chẳng có ý tứ mới lạ gì đâu anh ạ!

HT:

Anh Nguyền Hàn Chung,

Cảm ơn anh . Vừa rồi anh có nhắc “hành cu li”, tôi tò mò tìm trong tập bản thảo

bài “hành cu li ca”nơi trang 10, làm tại Louisiana với tứ thơ mang nhiều chua xót, đắng cay ; mỗi chặng dừng chân của Nguyễn Hàn Chung là mỗi vết cắt dù qua lâu rồi nhưng vẫn còn ê ẩm, khó lành. Nhưng câu cuối “Mây nước trùng trùng  thề không trắng tay…”, lại là dấu hiệu của một quyết chí . Có phải Louisiana lại là một bến bờ nào nữa mà anh đã dừng lại trên dòng đời lưu lạc này ? Và nay, anh có thêm được gì trong tay sau bao năm mải miết trong dòng đời này hay chỉ mới là”Nghịch Lưu Của Tuổi” không thôi, thưa anh ?

NHC:

Anh Hai ơi!

Phải nói Ông Hai Trầu và gã ‘’trai già Quảng Nam’’nầy có mối ‘’đồng thị thiên nhai ‘’  sao đó nên trong cả tập hơn bảy chục bài mà anh lại tò mò đọc hơi bị kỹ bài hành cu li ca lại đặc biệt chú ý tới câu cuối cùng ‘’Mây nước trùng trùng thề không trắng tay’’ tiếp theo là địa danh  Louisiana không ngày tháng. Con mắt  ‘’thấu thị xuyên tầng’’ của anh Hai chiếu như muốn thấu tâm can tỳ phế  tác giả.Thật ra không có thề thốt gì lắm đâu anh  . Anh biết bài hành cu li ca  NHC sáng tác trong hoàn cảnh nào không?Trên chiếc tàu casino ở Louisiana đó. Nướng hết chút tiền còm dành dụm trong trò đen đỏ rồi ra đứng trước boong tàu nhìn mây trắng sóng xanh đất khách tự thề với mình hành cu li kiếm sống để viết cái gì đó cho mai hậu chứ không phải để lao vào cái trò bác thằng bần như bao bậc tiền nhân tán gia bại sản trên đất Mỹ nầy.Thế thôi anh ạ!

Còn anh hỏi ngoài NLCT, NHC còn có những gì sau bao năm mải miết không?Còn chứ anh, NHC còn viết một tập cảm , bình từ những ngày còn ở trong nước khoảng 40 bài thơ theo chủ quan tác giả là sướng ,là tới bởi có cái để mà ngẫm ngợi .Các tác giả bị NHC chọn là bất kỳ không nhất thiết phải là nhà thơ có tên tuổi.Chỉ khoái là chọn là bình thôi.Hy vọng trong năm 2012 NHC sẽ trình làng tập bình có cái tiêu đề ‘’Thầm thức cùng thơ ‘’ sau khi  khoái thêm vài mươi bài nửa .

HT:

Thưa anh Nguyễn Hàn Chung,

Bài thơ “Bí ẩn tháng giêng”(*) mở đầu thi tập “Nghịch Lưu Của Tuổi”, với đoạn thứ nhì:

“……

Tháng giêng tàng trữ mầm xanh lao lực trong

bụi bặm

ẩn nhẫn chờ đợi một ngày  ấm áp

giống như chu kỳ của người đàn bà hoài thai

cánh đồng

tháng giêng tạm trú vào đàn bướm tơ sắp đến

kỳ sinh nở

mặc những cơn gió ganh tị chỉ chực len vào cội hoa ức hiếp … “

(NLCT, trang 5 và 6)

Trong một bài viết của nhà thơ Quỳnh Thi về tập thơ này với tựa đề :”Một số suy nghĩ về thi tập Nghịch Lưu Của Tuổi đăng trên Talawas Blog, ngày 25 tháng 10 năm 2010, tác giả viết :

“Bài “Bí mật tháng Giêng” có những câu “Bí ẩn của tháng Giêng cũng là bí ẩn của những điều không thể nói ra”, “Mặc những cơn gió ganh tỵ chỉ chực len vào cội hoa ức hiếp”. Trong câu thơ trên, chúng ta thấy Nguyễn Hàn Chung dùng nhóm chữ “Những cơn gió ganh tỵ” một cách tài tình. Chẳng rõ “cơn gió ganh tỵ” là cơn gió gì; liệu đó có phải là một ám chỉ cho “Bí mật tháng Giêng” không? Rồi còn “Con bướm khấp khởi đôi cánh mỏng – nương nhờ chiếc lá khô chờ hơi xuân hé”. Chiếc lá khô là của mùa Đông. Con bướm nương nhờ mùa Đông lúc còn nằm trong cái kén! Thật thâm thúy. Đó cũng là phong cách dùng chữ để diễn tả ý tưởng riêng biệt của thơ Nguyễn Hàn Chung vậy.”

Là tác giả làm ra những câu thơ “bí ẩn” này, anh nghĩ sao về nhận định của tác giả Quỳnh Thi?

(*) Bài thơ này trong bài viết của nhà thơ Quỳnh Thi ghi tựa là “Bí mật tháng Giêng

NHC:

Thưa anh Hai !
Kim Thánh Thán trong lời đề tựa Tây sương ký của Vương Thực Phủ  đời Nguyên có viết “Chỗ mà lòng tới rồi bút bât tất phải nói nữa”.Anh Quỳnh Thi có những cảm nhận của riêng anh  ấy về bài thơ Bí ẩn tháng giêng , NHC không thể chuyển sự phản ánh cảm tính của mình  thành khái quát của tư duy được.Hơn nữa dù NHC là tác giả chăng nữa cũng chỉ là người đứng sau cánh gà sân khấu hình tượng .Và thưa anh NHC nghĩ rằng hình tượng ngôn từ thường  tạo ra ảo giác cho nên bất khả tạo ra độ sáng rõ ,độ phân giải như ở các loại hình nghệ thuật khác.Chính vì muốn phá vỡ những hình thức  khô cứng đã quen được thừa nhận về mùa xuân  và muốn đi sâu vào những vận động bí ẩn của tâm hồn mà NHC viết Bí ẩn tháng giêng .

HT:

Anh Nguyễn Hàn Chung,

Trong trả lời cho câu trước, anh có nói: “Còn chứ anh, NHC còn viết một tập cảm , bình từ những ngày còn ở trong nước khoảng 40 bài thơ theo chủ quan tác giả là sướng ,là tới bởi có cái để mà ngẫm ngợi .Các tác giả bị NHC chọn là bất kỳ không nhất thiết phải là nhà thơ có tên tuổi .Chỉ khoái là chọn là bình thôi.Hy vọng trong năm 2012 NHC sẽ trình làng tập bình có cái tiêu đề ‘’Thầm thức cùng thơ ‘’ sau khi  khoái thêm vài mươi bài nửa .”

Qua những điều anh vừa chia sẻ làm tôi tò mò tìm đọc trang nhà “sông thơ”, và đọc được bài bình thơ sau đây của anh :” “Bốn mươi năm mang mang hồi ức” với bài thơ “Xa Cách” của Châu Liêm mà anh dùng làm nền cho bài bình thơ này . Bài thơ theo anh ghi lại qua trí nhớ như dưới đây:

Xa cách

Hai dặm cát vàng duyên nối tiếp

Đôi bờ sông rộng mặc ai đưa

Tôi đâu dám bảo Trường giang hẹp

Chỉ hận nghìn năm với bến bờ

Đêm ấy người đi sương xuống lạnh

Trăng mùa tiễn biệt sáng mông lung

Tôi đâu dám hẹn ngày tương ngộ

Người khóc đêm nào người nhớ không?

Tuổi mới hai mươi đời xế nửa

Từ nay đâu dám hẹn tương phùng!

Ai tiễn ta qua vài bến nước

Với hai sào gió bốn sào trăng

Ai tiễn ta rơi vài giọt lệ

Lệ chảy đầy trong đôi mắt trong

Quấn bàn tay lạnh trong tà áo

Từ nay xa cách mấy con sông

Châu Liêm

Sau khi giới thiệu tác giả Châu Liêm ngày xa xưa ấy chính là nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp hôm nay hiện đang ở gần đâu đây và anh có lời bình như sau :

“Tôi nghĩ không ra làm sao một cậu bé học lớp đệ nhị mới mười sáu tuổi ( *l)ại có thể sử dụng từ ngữ điêu luyện dường ấy.Phải chăng  đó là của trời cho và tác giả với tư cách là người sáng tạo vẫn nằm ngoài hệ thống  với các mối liên hệ nghệ thuật : Người chủ xướng và người đọc cũng chỉ đóng vai trò tham dự mà thôi .

“Có những bài thơ tác giả là những nhà thơ lớn ,ngôn ngữ thơ hàm súc  đặc dị,chứng tỏ tác giả uyên bác và trí tuệ cao nhưng sao người đời lại không nhớ mà kỳ lạ bài thơ Xa cách của Châu Liêm tuy không có nhiều sáng tạo về mặt thi pháp nhưng chiều sâu của tiếp nhận thẩm mỹ được  vượt qua được một độ lùi của thời gian chiếm lĩnh và tái tạo hình tượng ngôn từ trở thành hình tượng tâm tư trong lòng người đọc gây hiệu ứng tiếp nhận  bền vững trong lòng tôi và bè bạn một thời, một đời…

Cái cực sướng nào rồi cũng nhanh chóng qua đi tại sao cái cực sướng văn chương cử đeo dai đeo dính chúng ta đến mỏn đời làm vậy.”

(Sông thơ, ngày 02 tháng 11 năm 2009)

Theo như anh vừa nhận định qua lời bình mà tôi vừa trích, vậy bài thơ Xa Cách này quả là một bài thơ hay hoặc rất hay, ít nữa đối với riêng anh, từ đó nên mới có “Bốn mươi năm mang mang hồi ức” . Do vậy, tôi mới nghĩ thơ cũ đâu phải bài nào cũng dở, phải không  anh ? Về phương diện thơ hay và thơ giá trị, là một người làm thơ rất lâu và với kinh nghiệm giảng dạy môn Việt văn hơn ba mươi lăm năm như anh cho biết cùng trong bài bình thơ này, xin anh chia sẻ thêm chi tiết nhỏ này mà tôi thắc mắc hoài nhưng không biết hỏi ai; đó là, theo anh thì khi nào bài thơ được gọi là hay và khi nào bài thơ được coi là có giá trị ? Giữa bài thơ hay và bài thơ giá trị nó là một hay là hai bài thơ đó hoàn toàn khác nhau, thưa anh?

NHC:

Anh Hai Trầu quý mến !
Cái chi tiết nhỏ  mà anh  muốn được kiến giải không nhỏ một chút nào nếu không nói là vượt quá tầm suy nghĩ của những người cầm bút làng nhàng  cỡ NHC.Nó đi vào định nghĩa  cõi thơ của các bậc hàn lâm về mỹ học,thi pháp học ,về thời gian,không gian nghệ thuật ,tính thời đại văn học, văn hóa một dân tộc các biện pháp nghệ thuật các trào lưu văn học,trường phái văn học khác nhau.Theo thiển ý của NHC thì thơ hay là thơ làm rung động lòng người bất kể nó được viết với phong cách nào.Có điều nó phụ thuộc vào từng  thế hệ đối tượng với các khuynh hướng thưởng thức chứ không thể cào bằng mọi đối tượng tiếp nhận được .Vì thế mỗi trào lưu văn học đều có những đối tượng tiếp nhận thẫm mỹ khác nhau.
HT:

Anh Nguyễn Hàn Chung,

Qua bài bình bài thơ Xa Cách của Châu Liêm, tôi thấy anh mê chữ “quấn” trong hai câu kếtcủa bài thơ này và anh viết:

và nhât là từ quấn trong hai câu thơ cuối cùng;
’Quấn bàn tay lạnh trong tà áo

Từ nay xa cách mấy con sông’’

Động từ quấn bình dị dân dã  mở đầu đoạn kết lại có độ hút mà trộm vía tác giả  tôi thiển nghĩ chính anh cũng đâu có ngờ trong suốt  hơn ba mươi lăm năm làm người thầy giáo dạy văn tôi đã dẫn dắt các em học sinh chuyên văn quê nhà bình  nhãn tự trong các câu thơ ấy. Tôi đã cho các em đưa  từ xế,quấn vào trong một trục với các từ đồng nghĩa hoặc gần nghĩa chẳng hạn để thay thế cho các từ ấy nhưng các em và cả người thầy đều bất lực”(Bốn mươi năm mang mang hồi ức)

Và rồi tôi lại lần dỡ những trang thơ của anh, tôi lại thấy anh có câu thơ nàyvới chữ quấn rất điệu nghệ :

“Quấn lòng anh trong tà áo em đi

Tay ram ráp bụi đường xa thiếu bạn

Anh rớt cuối bươn tràn qua vận hạn”

(À ơi điệu cũ, NLCT, trang 7)

Ngoài ra, qua 136 trang sách với 72 bài thơ , dù tập thơ rất mỏng như vậy nhưng theo thiển ý của tôi, thơ anh có mấy nét chính sau đây:

1/ Anh có cách cắt, ráp các chữ trong các điển tích làm thành nhóm chữ mới để anh diễn tả những suy nghĩ của anh qua các câu thơ mà anh muốn viết rất công phu. Do vậy, chữ dùng của anh lạ, khô , rất khó đọc nhưng nhờ nó hàm chứa nhiều trăn trở qua chính những bước chân lưu lạc, thăng trầm trong dòng đời của chính tác giả và nhờ tài pha chế đôi chút gia vị châm biếm nhẹ nhàng, dí dỏm, không ác ý, nên nếu ai chịu khó đọc được vài bài thơ đầu rồi thì sẽ thấy thích, và lần lần đọc tiếp cho tới hết dòng thơ cuối cùng sẽ nhận ra thơ Nguyễn Hàn Chung chan chứa biết bao trăn trở về thân phận con người giữa dòng đời với một người không còn trẻ trung gì mà rồi còn phải lo bươn chải trèo lên từng bước chân một trên những triền dốc ngược…

2/ Về ý thơ, phần lớn thơ anh là có chủ đích “nghịch”“phản”. Tất thảy những bài thơ của anh lấy cảm hứng từ đáy lòng anh đã đành mà nó còn khắc họa lại những ngang trái mà anh bắt gặp, trong văn giới cũng như ngoài đời. Những “nghịch lưu”, “nghịch âm”, những “phản ca”, “phản cảm”, “phản tuyên ngôn thơ”, những “biến dị”, “hành”, “hèn ta thơ”, “mé”, “cảm thức mé” và mỗi mỗi chữ anh dùng không đơn giản chỉ là chữ, là ý, là thơ, là thẩn một cách bình thường mà là những dòng máu trong anh cứ “chảy ngược” như “nước chảy ngược” của một dòng sông phải chảy qua nhiều tảng đá ngầm nằm sâu trong đáy sông của mình. Thành ra, nếu tôi không lầm, anh rất cô đơn dù anh có rất nhiều bạn cũ và mới như trong trả lời của anh ở câu đầu tiên:”Thôi kệ rứa mà vui, mà có bạn bầu tứ xư”; nếu không muốn nói là anh chưa tìm được người đồng điệu, tri âm, tri kỷ, ít nữa là đồng điệu trong cách suy nghĩ, trong cách diễn đạt, và cả trong cách giải trí giản dị nhất mỗi ngày là anh muốn làm cho thơ mình khác với cái cũ… Và nỗi cô đơn đó, nó còn để lại rất rõ trong câu thơ mà tôi vừa nhắc bên trên:

“Tay ram ráp bụi đường xa thiếu bạn

Anh rớt cuối bươn tràn qua vận hạn”

(à ơi điệu cũ, NLCT, trang 8)

hoặc trong một bài khác:

“Không đủ lực đợi những cái chớp mắt biến ảo

mặc những cơn gió  quậy phá

quẫy đạp đi tìm di chỉ cánh đồng

cánh đồng xanh mơ ở đâu?

anh mải mốt chạy  marathon tìm em mệt nhoài ký ức”

(Canh giấc cánh đồng, NLCT, trang10)

hoặc trong bài “tha phương không tám”có đoạn:

“Thì cứ tống cứ tan ngần ấy tuổi

Biết cùng ai chia sớt chuyện buông tuồng

Chiều tới sáng lục tìm mưa cắm cúi

Ngón với bàn ngong ngóng đến thê lương

Gần rất lạ xa tới tầm tay với

Sợi mong manh riết róng cột âm thầm

Lầu cây khế leo tấm thân chùm gửi

Nhướng lên mù thấy rõ  một xa xăm

Vẫn mụ mị lùng bùng  cơn cớ trước

Và ngơ ngơ ngác ngác những phương chiều

Mùa không hắt tia nắng vàng ,vô phước

Kẻ điêu nào còn léo hánh cô liêu”

(bài tha phương không tám, trang 12

Hoặc như “bước qua thì cũ mới”, anh viết :

“bơi trên sóng sợ sông dài khủng khiếp

thấy lăn tăn đã hú ba hồn bảy vía hà bá ma da

muốn tháo chạy lên bờ ngặt dưới thân toàn nước

cõi trăm năm hơi đâu đủ sức dài cút bắt khánh tận nỗi buồn

mặc cho gã niềm vui đê hèn thiêm thiếp

chắc chắn có kẻ  sẽ gõ cửa cho em lách váy vào thiên thu

dọn sẵn một chỗ tinh tươm chơi trò rơi ngược

nhưng bây giờ có lẽ chỉ một mình anh  đang bơi

các em còn bận lau bàn chân ướt”

(bước qua thì cũ mới, NLCT, trang 20)

Và còn nhiều lắm những vần thơ mang mang nỗi cô đơn hiu quạnh

một bóng hình ngược nước ấy mãi hoài , không kể xiết …

Là tác giả của những bài thơ “nghịch lưu” này, anh nghĩ sao

về mấy ghi nhận nông cạn, thô thiển của một người đọc già

lười suy nghĩ  như tôi, thưa anh ?

NHC:

Anh Hai Trầu ơi!
Anh đã  chịu khó trải lòng mà thẩm thấu thơ NHC nói chung và NLCT nói riêng đó là  sự mừng vui mong ước  rất lớn không dễ gì đạt được của người cầm bút nghịch lưu nầy . Nhất là thơ trong NLCT đúng như anh nhận xét:khô,nghịch nhiều ý còn  hàm hồ nữa.Vô cùng trân quý những nhận xét tinh tường của anh  giúp NHC bừng ngộ nhiều điều trong trò chơi con chữ gian nan  khổ ải nầy .Rất mong nghe được những lời bình sâu, chân xác hơn nữa của anh cũng như bạn đọc về tập thơ NLCT .Điều người làm thơ  hãi sợ nhất khi trình thơ  ra làng đã được NHC thắc thỏm  trong  mấy câu cuối bài làm thơ và múa dao . Xin được mạn phép lặp lại :

”làm thơ khác gì múa dao
nghề càng tinh
càng mệt nhoài số kiếp

cùn tóc râu
thương tích ngữ ngôn
hãi sợ rụng vào trăm năm mất biệt

NHC cả nghĩ :  thơ đừng mất biệt  trong cõi vô tăm  là hạnh phúc không tưởng của bất kể nhà thơ nào ? Có phải thế không anh ! . Nguyễn Hàn Chung xin kính gửi đến anh Hai Trầu lời cảm tạ tri âm nhất.


HT:

Anh Nguyễn Hàn Chung,

Tôi xin được nêu lên một ghi nhận thứ ba nữa trong cách viết tên người, tên nhân vật trong các bài thơ mà anh đề cập tới họ ; đó là anh không bao giờ viết chữ hoa dù anh có cố ý nhắc những tên người, những nhân vật ấy, nhưng anh cứ phớt lờ đi, coi như đó là những chữ bình thường không lấy gì làm quan trọng cho lắm với mục đích là anh muốn dẫn người đọc đi qua một hướng khác không có ai trong thơ anh ráo trọi .

Điều này, anh làm tôi nhớ hồi còn đi trọ học, tôi thường phụ với chủ nhà vô lò nấu heo thợ bạc. Xin kể anh nghe diễn tiến công việc này như sau. Dân chuyên nấu heo vàng họ đi gom mua khắp Sài-Gòn Chợ-Lớn những bụi vàng nơi các tiệm thợ bạc. Gom về như vậy mỗi ngày và trong vòng vài ba tháng, số lượng heo vàng này đủ vô một lò thi bắt đầu vô lò . Trước tiên người ta đem mấy heo thợ bạc này ra trộn với cát nhuyễn và bỏ vào mấy ống vót nắn bằng đất sét trắng đã phơi khô lâu ngày, hình dáng mấy ống vót này giống như hình dạng trái bầu cắt ngang trên mặt . Vô ống vót xong xuôi đâu đấy người ta mới sắp xếp những ống vót này thẳng đứng trong lò đúc bằng xi măng; giữa những ống vót người ta bỏ xen kẻ những cục than đá vừa giữ cho các ống vót thẳng đứng, vừa giúp khi đốt lò lửa than đá sẽ làm cho cát và vàng trong ống vót chảy ra . Sau khi lò đã vô đủ số lượng ống vót heo thợ bạc cho một kỳ nấu heo như vậy, người ta bít nắp lò lại và mồi lửa đốt lò . Khi lửa cháy thì than đá trong lò bắt đầu cháy theo và đốt như vậy trong vòng năm ba ngày, có khi một tuần và coi khói trong lò lên màu trắng là bắt đầu bịt miệng lò lại, vì khói trắng là dấu hiệu các chất tạp đã cháy s ạch hết rồi ; rồi chờ khi nào lò nguội, chủ lò mới khui nắp lò và lấy các ống vót ra . Khi lửa cháy cát và vàng cùng chảy . Vì cát nhẹ hơn vàng nên cát chảy thành thủy tinh, nằm bên trên và vàng nặng hơn cát nên vàng nằm dưới đáy ống vót . Lúc bấy giờ chủ lò mới lấy búa đập ống vót và lấy vàng dưới đáy . Xong đâu đấy, người ta mới dùng acid HCL hoặc acid H2SO4 phân kim số vàng này để lấy ra bạc và vàng nguyên chất.

Sở dĩ tôi kể dông dài với anh về việc nấu heo thợ bạc và phân kim vàng là tôi muốn ví công việc anh viết tên các nhân vật dù quen hay chưa quen đều viết ở dạng chữ thường, giống như anh muốn pha trộn giữa cát và vàng  rồi cho vào lò lửa và rồi vàng và cát sẽ nhờ lửa mà phân biệt được đâu là cát đâu là vàng. Phải chăng đó cũng là cách chơi chữ với nhiều dụng công của anh không, thưa anh Nguyễn Hàn Chung ?

NHC:

Kính anh Hai Trầu !
Anh có lối ví von sao mà thâm thúy rứa ! Chẳng qua là một thủ thuật để tránh những phiền phức có thể xảy ra thôi anh à . Động đến  tài thì không sao chứ đụng đến tật các ông nhà thơ ,nhà văn là lắm chuyện .Tôi  dụng cách viết như vậy để có đường mà biện bác sau nầy  nếu ai dó có chất vấn:tại sao  và tại sao ? Một số bài dạng nầy đã lên
damau.org Người đọc cũng comment lủ khủ đó anh.Hơn nữa mình chỉ cảm một mé chân dung sao dám chính danh, chứ có đãi cát đãi vàng chi mô mà anh nói quá lên rứa.Mà thật ra cũng vui thôi,nào có ác ý với ai đâu !

HT:

Thưa anh Nguyễn Hàn Chung,

Sao tôi cứ miên man nghĩ về cái tựa “Nghịch lưu…” của anh hoài. Như anh biết quê tôi vùng sông nước miền Tây, nên đi đâu cũng gặp sông, gặp rạch, gặp kinh, gặp mương , gặp cồn, gặp bãi, và dường như chỗ nào quanh quanh nơi mình ở cũng nước là nước, mát lạnh cả một vùng … Thành ra nhà nhà đều phải có ít nhứt là một chiếc xuồng để đi lại trong vùng, khi lên ruộng, lúc ra chợ, hoặc cần đi cánh đồng xa xa giăng câu giăng lưới cũng phải nhờ tới chiếc xuồng. Việc nào cần chuyên chở hơi nhiều nhiều một chút thì người ta còn phải có chiếc ghe . Ghe thì có chiếc chở năm ba chục gịa lúa, có chiếc chở cả mấy trăm giạ lúa trở lên . Còn chở đá, chở gạch, chở cát, chở cây, chở gỗ thì ghe lại càng lớn hơn nữa như ghe cui, ghe cà dom, ghe chài, ghe mui lón, chẹt, sà lan và nhiều thứ lắm … Vì đi theo sông, theo nước như vậy, nên dân quê tụi tôi phải lựa con nước mà đi . Khi nào nước xuôi thì  nhổ sào bơi theo nước cho đở tốn sức bơi chèo và khi nào nước ngược thì tấp xuồng ghe vô bờ nổi lửa nấu cơm ăn uống no bụng rồi nằm nghỉ chờ nuớc xuôi đi tiếp cho tới khi về tới bến, tới bờ mình định tới … Tôi còn nhớ hồi học các lớp Sơ Đẳng Tiểu Học, rồi Tiểu Học Bổ Túc những năm 1940, trong các lớp học vách lá nghèo nàn nơi các làng quê thường hay treo câu cách ngôn : ”Học như chèo thuyền ngược nước, không tiến ắt phải lùi”. Nay nhớ lại anh có hơn ba mươi lăm năm dạy học, có lần nào anh dạy học trò câu ngạn ngữ này không, thưa anh ?

Buổi trò chuyện với anh tới đây kể cũng đã dài dù tôi còn muốn hỏi anh thêm nhiều điều nữa về tập thơ “Nghịch Lưu Của Tuổi”, nhưng sợ anh không có nhiều thời giờ, nên đành hẹn lại với anh vào dịp khác vậy . Xin chân thành cảm ơn anh đã giải đáp cho các thắc mắc trong cuộc trò chuyện này rất tận tình . Kính chúc anh có nhiều hứng thú trong con đường ‘nghịch lưu” của mình và chúc anh cùng gia đình nhiều sức khoẻ, vạn an.

NHC:

Kính anhHai Trầu

Qua cuộc chuyện trò thật lý thú giữa ông Hai Trầu và gã Trai già Quảng Nam nầy NHC rút tỉa ra được nhiều điều cần phải hoàn chỉnh hơn khi đưa tập thơ Nghịch lưu của tuổi  tới nhà in. NHC rất trân quý tình cảm trọng thị văn chương của anh nên phải vắt hết tinh lực để trả lời những chất vấn sát sạt của anh về những vấn đề xung quanh đời thơ NHC cũng như NLCT. Có gì NHC trả lời còn hàm hồ ,chung chung mong anh thông cảm thứ lỗi vì không thể làm gì khác hơn . Nghịch lưu của tuổi để mong được hợp lưu của đời chứ chẳng ai muốn ”nghịch thiên giả vong ” đâu anh. Nhưng anh ơi lắm khi  phải chấp chịu mất để mà còn….NHC còn chờ anh vấn nữa nhưng  rất tiếc anh đã tuyên bố ngưng nghỉ rồi nên thôi chờ dịp khác vậy.Một lần nữa Nguyễn Hàn Chung thành thật tri ân anh đa quan tâm nhiều đến tập thơ đầu tiên trên đất Mỹ của NHC .
Kính gứi đến anh chị  lời chúc sức khỏe . Nhân biết anh say mê hoa trái .hằng ngày cặm cụi bên luống cỏ ,chùm hoa NHC quý tặng anh mấy câu cũng để tạm kết cuộc trò chuyên rất  thú vị và bổ ích nầy ;

Cầm trong tay
một chùm hoa
Sắc màu tươi
có phôi pha một vài…
ném tung
vào
cõi trần ai
Mầm xanh
từ cánh hoa phai
cứa mình
Thành thật cám ơn anh vì những trao đổi rất bổ ích chung quanh  bản thảo tập thơ  NLCT của NHC

HT:

Anh Nguyễn Hàn Chung,

Một lần nữa cảm ơn anh viết tặng cho mấy vần thơ mang chút triết lý về nhân sinh nhiều ý nghĩa và cầu chúc anh cùng “Nghịch lưu của tuổi” luôn có mặt giữa dòng đời luôn dời đổi này …

Kinh xáng Bốn Tổng, ngày 26 tháng 3 năm 2011

TẢN MẠN CUỐI NĂM

Lê Lộc

Mười lăm năm ở phố, của phố mà phố vẫn lạ; mười lăm năm trong phố mà phố vẫn xa!

Càng trôi về những ngày cuối, của năm cùng tháng tận, lòng càng ngu ngơ như người mộng du. Người ở đây mà hồn ở đâu tận ngoài nớ.

Mười lăm năm xa làng quê, trong giấc mơ, vẫn vọng vang tiếng tu hú da diết gọi mùa cá chuồng Cửa Đại.

Mười lăm năm xa làng quê, trong nỗi nhớ, vẫn đều đều vang tiếng sôi ùng ục của nồi bánh tét đêm ba mươi trước sân nhà; lửa củi cháy bập bùng, tí tách, lan toả hơi ấm cho cả nhà  quây quần ngồi trông bánh, nghe cha tôi kể đủ chuyện về người, về đời… Và cảm nhận điều thiêng liêng, kỳ diệu của thời khắc giao thừa trang trọng.

Mười lăm năm xa làng quê, trong tâm trí tôi, vẫn in đậm hình ảnh như vừa hôm qua, tôi và bạn, hai đứa đèo nhau trên chiếc xe đạp cà tàng vào sáng mồng một Tết, ngược lên quê bạn,  nơi có cha mẹ già đang thắc thỏm mong ngóng thằng con xa quê chưa kịp về chiều ba mươi.

Đường quê, ngày mới, nắng tinh khôi. Đường quê, hoa dại lung linh sắc màu. Đường quê, nụ cười nở hoa, tươi rói. Đường quê, áo mới tươi màu, phảng phất cả mùi thơm vải mới, tinh tươm.

Mười lăm năm ở phố, tôi cứ mãi nghe văng vẳng một thứ âm vọng rất thiết tha từ làng quê, trong những giấc ngủ chập chờn, mộng mị, hay từ thẳm sâu tiềm thức.

Mười lăm năm, vẫn đau đáu nỗi niềm làng quê. Những ngày khắc khoải, những đêm thao thức.

Phố! Phố rộng lớn mà tù túng. Phố đồ sộ mà chật hẹp. Phố ken dày nhà cửa, cộ xe mà hoang lạnh ốc đảo. Phố thừa nguy nga, thừa lộng lẫy… mà thiếu vẻ đẹp chân phương, hồn hậu.

Phố xa hoa, tung tẩy, đãi đưa…

Phố lạnh lùng, xa cách, khu biệt…

Phố, ngày tết, và ngày không tết, lập lờ, chưa bao giờ rõ nét.

Hèn chi, Mẹ vào phố ở với con trai, xa ngàn cây số, chưa quen nhà đã vội vã trở về làng quê.

Hèn chi, Mẹ ra phố ở với con gái, chỉ cách chưa đầy một giờ xe, rồi cũng quày quả trở lại làng quê.

Mười lăm năm ở phố mà sao lòng người chưa phố…?!

LÊ LỘC

 

Chùm thơ xuân của Nguyễn Đức Dũng- Phạm Tấn Dũng – Nguyễn Hàn Chung- Huỳnh Minh Tâm

Cuối năm Canh Dần rồi tới năm Tân Mão .Chào đón chu kỳ luân chuyển của đất trời từ khởi thỉ .Nguyễn Hàn Chung nhận được thơ xuân bè bạn gửi đến .Vội post vào đây cũng là để  mời bạn thưởng xuân .

Cố thổ

Nguyễn Đức Dũng

Bồi lắng đất đai này cơ man phù sa phổ hệ
sông khẳm mây trôi
người xốn mắt đò
gió bãi bờ rướn xanh tóc em xanh ngập ngừng dâu bắp
phiêu dạt phương trời neo đậu quẩn trong mơ

Còn neo đậu dấu hà thâm khoai sắn
hoa văn riêng,
Hòn Kẽm – Đá Dừng
còn neo đậu dáng cò sông nắng
đập cánh giang hồ
nhún lạnh dọc sống lưng

còn vướng ngọn tre bên nhà hàng xóm
đau như roi  hái trộm buổi cây người
ham hố chi đâu
vụng về danh phận
vẫn in hằn nếp trán đứa ham chơi

Có mải miết chừng mô rồi cũng mỏi
mộng đường bay đánh bẩy trái tim mình
nhắm mắt lại hồi đầu thị ngạn
sau hành trình nghí ngởn của điêu linh

25 – 12 – 2010

XUÂN THÁNG CHẠP

Phạm Tấn Dũng

Vừa thôi chứ

Cái rét miền Trung quên mặt trời đáy nước

Xuân đâu mà! Tháng chạp

Mắt nhìn xạnh tiếng nấc

Tôi  về

Hơi thở nép vào thị trấn lặng yên

Bên kia bức tường là mặt trời

Vạn thọ hắt lên khuôn mặt em

Làn gió chợt qua thôi miên

Cơn mưa buốt chiều

Chạm vào xanh xưa

Giọt nước buồn bay lên đám mây

Ai mà níu con đường trôi trong buổi chiều

Để cỏ mượt mây giăng

Hàng rào lối nhỏ

Xa khuất ngôi nhà

Bờ lan trí nhớ

Xuân đâu …tháng chạp

Vừa thôi chứ

Là lẫy nói vậy thôi

Chứ nghe tiếng lá khô trượt trên mái nhà

Như tiếng chim bay về

giọng hót tôi còn nghe rất rõ

Luôn mềm bàn tay ấy

Cho dù cái rét dính khăn ướt vắt qua hàng lan can

Tháng chạp

Rồi xuân đến

Anh bước lên vạt nắng

Mồ hôi lạ ban mai

Cuộn lại bóng mình

Xuân trào miệng hạt

Tháng chạp mây qua

Phồn sinh tụ phấn

Tạ ơn phố hẹp

Nhỏ xuống dòng sông

Sông xé thân đêm

Rêu xuân mở mắt   ./.

hai con xuân

nguyễn hàn chung

một con nhắm một con nhòe

con nhắm rõ rành như ban tối

con nhòe mơ hồ như ban khuya

hơi xuân ngọng nghiụ phồng  líu cả lưỡi

em váy tốc tan hoang không ngờ

bứng cả mùi hương xuân khờ năm xưa

quên bẳng câu sáo mòn cửa miệng

những ngôn âm tới thì dậy mẩy

ngứa nghề lẳng lơ em  sàng cho ai biết tay

một con nhắm một con nhòe

con nhắm mồn một rơm rạ gai quào tứ tán

con nhòe bèo bọt cũ xì thâm căn

mùa ở đâu mà xuân chẳng ràn rụa

chỉ  là cố lý  tha hương…

bồng em lên tay nhẹ sâu phiền muộn

đầu mày cuối mắt  thuyền quyên lúng liếc xưa rồi

anh mân mê bú mớm con trẻ ngày nào

chợt thấm niềm tin  nát nhàu cỏ rác

một con nhắm một con nhòe

xuân  biết có còn nhắn nhe đào mai  lá nõn

có  gã chăm bẳm đầu thai vào cơn mơ hái lộc

nhưng dẫu mệnh vận xúi quẩy thế  nào

cũng còn hơn  mấy gã đàn ông lụa là

khăn gói lên đàn vu quy

cuối năm Canh Dần


THẰN LẰN NHỚ NẮNG

Huỳnh Minh Tâm

Bốn bức tường xanh là của tôi

những dây điện chằng chịt của bầy nhện là

sân khấu thế vận hội

bầy ruồi nâu như máy bay phản lực

+

cuộc sống đôi khi nhộn nhịp

những cuộc rượt đuổi tốc độ, những trò đú đởn

ba hoa

của thế giới thằn lằn

dưới ánh sáng chói chang bóng đèn nê-ông hoặc

lấp lánh ánh sao ngọn đèn ngủ

+

tôi chọn cho mình một lối sống giản dị

đó là cái chết cây xanh trong chậu kiểng

đôi khi cô độc lạc loài

nhìn những lỗ đinh bảng lịch công tác quạt

điện và giấy khen thưởng

+

tôi nhớ những cơn nắng đâu mười năm trước

sao mà xanh lá nõn sao mà ấm áp miên man

những tàu chuối phất phơ cơn gió lùa nhồn nhột

đôi nách

bầy chuồn chuồn tung tăng trong đám cỏ dại

hoa trắng như mây

+

những cơn nắng tươi nguyên non nớt thổi hồn

tôi những giấc mơ

về cuộc sống không dự định-một diễn tiến kỳ

cùng bất tận

cái đẹp của sương lành lạnh trong kẽ răng

vẻ kỳ ảo của hoa từng cánh từng cánh rơi chậm dần

vào thời gian

+

tôi đã uống vài tách trà của ngôn từ

dịu dàng nhắm mắt.

XEM TRANH ĐÁM CUỚI CHUỘT

Tình cờ vào Blog Lê Trâm gặp bài thơ :Xem tranh đám cưới chuột của  cố nhân Nguyễn Đức Thắng . Nguyễn Hàn Chung mạn phép các  bạn post vào đây để bá quan thưởng thức…


(Tặng năm Mèo)

Nguyễn Đức Thắng

Tranh của ngày xưa, tranh vẽ tuơng lai

Tranh hát chuyện ngàn sau tranh vạn kiếp

Tranh triết l‎ý nhân sinh

Nép dưới bụi rậm gai

Mang hơi hám củ sắn củ khoai

Xăm xăm băng qua thế kỷ

Nhốt nụ cười cổ tích, vỡ òa đến tận mai sau

Không phải khúc quanh co khu nhà ổ chuột ,

lối mòn cống rảnh kênh mương…

Chuột Đông Hồ đến tận cung Hằng

cưới Trăng

bằng Ngựa Ô, Kiệu hồng… thang máy

Không cần cầu cạnh bóng đêm

Chuột của ban ngày

Trộm giọt tinh mai hiến dâng chiều khát

Đám cưới Chuột nghênh ngang băng qua giữa làng Mèo

Mặc nhiên ánh nhìn ngại ngần của nắng

Những tính toán thiệt hơn:

Chén đi lủ chuột này,

Liệu mai còn gì để chén?

Nên chăng đa vị hằng ngày:

Chuột dâng khúc nhạc cung đình,

Có vị tanh của cá,

Vị hoang dã của chim…!

(Sắc màu triều cống hôm nay

mai sau hóa kiếp Mèo)

Chuột Mickey hồn nhiên tinh nghịch với đời

Chuột Đông Hồ điều hành máy tính

Vũ trụ sấp ngữa trong tay

“ Thuần hóa” Mèo

Thành chuột

Đôi mắt tưởng chừng ngái ngủ lim dim

lại mọc ánh nhìn mang hồn Bạch tuộc

Thiên chức Mèo ngủ quên

Đông Hồ Tháng giêng 2011

CHIỀU CUỐI NĂM…

LÊ LỘC

Những năm trước, chậm nhất là hai  mươi sáu Tết, tôi đã vừa thong dong, vừa tươi tỉnh, vừa khoan khoái khi ngồi trên tàu về quê. Năm nay, đến ba mươi Tết rồi, mà tôi vẫn còn ở đây, với vợ con, trong căn nhà giữa phố ồn ào, lòng trống huơ, dửng dưng không hề gợn một chút cảm giác Tết. Vậy là không thể về được nữa rồi. Sao không bực bội! Tôi đi ra lơ ngơ, đi vào thờ thẫn. Ngồi bần thần, nằm rã rượi. Chốc chốc, ra đứng tựa cửa, mắt xa xăm, tay buông thõng. Dáng vẻ ủ rũ, có lẽ trông tôi y như cây chuối cụp lá, vàng nhợt sau mùa lụt trong vườn quê thuở nào. Cái cách phố lạnh lùng, thờ ơ với Tết, càng khiến tôi đờ đẫn nhớ Tết làng quê.

Hằng năm, từ rằm tháng chạp, khi nắng chớm xuân ấm áp trải khắp ruộng đồng, cha tôi đã hì hục đốn hạ những cây sầu đông trong vườn, rồi đẵn khúc và bửa nhỏ thành củi, phơi đầy sân, đầy ngõ. Củi cây sầu đông phơi được nắng thoang thoảng mùi thơm, pha chút hăng hăng, gây cảm giác dễ chịu, cùng với ý nghĩ mẹ và em gái sẽ có một cái Tết được nấu nướng thoải mái, nhàn nhã bằng củi. Chứ không phải chịu cảnh lui cui ngồi dính rịt trong bếp, không dám rời đi nửa bước, luôn tay cầm đũa bếp đùn đẩy rơm rạ, hoặc lá tre, lá mít, lá chuối khô… vào lửa. Khói bếp ùn tỏa cay xè, ràn rụa mắt mẹ, mắt em. Nhưng, dường như làn khói bếp lại ngần ngại bay lên cao, vào không trung. Như thể bay lên sẽ phai, sẽ loãng, sẽ tan đi hơi ấm. Là mất, là hết, là vô tâm, là đoạn tình đoạn nghĩa với bếp lửa, với tình người. Nên cứ là đà, quấn quít, vấn vương, bịn rịn trên mái tranh. Những sáng sớm trong lãng đãng mù sương, những chiều tà trong nhàn nhạt nắng, hình ảnh làn khói lam vật vờ uốn lượn quyến luyến mái tranh, hư ảo trên nền xanh thẫm của lũy tre làng, vẫn ngàn đời lắng đọng niềm yên ả, êm đềm trong lòng người xa quê.

Trong khi cha lo toan chuyện củi lửa, phần việc của tôi là quét váng nhện, bụi bặm khắp nhà trên, nhà dưới. Sau đó, lau dọn và trang trí bàn thờ. Sao cho đến trưa hai mươi ba phải xong đâu vào đó. Để kịp chiều tối hôm ấy lễ đưa ông táo về trời. Những giá ảnh và di ảnh ông bà trên bàn thờ được lau rất cẩn thận. Tấm vải điều phủ bên trên cũng được giặt sạch sẽ, thơm tho. Mấy bộ lư hương, chân đèn bằng đồng được đánh sáng bóng. Chân tàn hương, cha mẹ tôi bảo phải đặt vào thùng thiếc rồi đốt, không được vứt bừa bãi. Nếu làm thế là thất kính đối với người khuất mặt, là mang tội. Cát trong nồi hương, dứt khoát phải thay mới. Mẹ buộc tôi đi lấy cát tận dưới lòng sông, về phơi thật khô, rồi mới thay cát cũ.

Bình thường, cha mẹ tôi đã đặc biệt chú trọng việc cúng kính. “Cúng phải kính”, cha mẹ tôi thường căn dặn mỗi lần kỵ giỗ. Trước hết, trên bàn thờ phải có hoa và quả, theo vị trí nhất định: đông bình tây quả. Tiếp đến, ly nước trong (để ông bà súc miệng), đĩa trầu cau. Thức cúng phải bày biện cân đối, tề chỉnh. Khi thắp hương, phải cắm bằng hai tay, thẳng đứng, không đươc nghiêng xiêu. Hễ thờ tự phải thanh sạch, thành kính, cha mẹ tôi luôn khuyên răn con cái. Những điều có vẻ nghiêm ngặt như thế, tự bao giờ đã thấm trong tiềm thức tôi tình cảm quý trọng tổ tông, nguồn cội.

Chuẩn bị Tết, mẹ và em gái tôi có quá nhiều việc để làm. Đầu tiên, soạn tất cả chén bát, đũa muỗng, ly tách, ấm trà, bình rượu… trong chạn ra rửa kỹ, phơi phong khô ráo, rồi xếp trở vào. Những đồ đạc này chỉ dùng riêng cho dịp cúng giỗ, đám tiệc và tết nhứt mà thôi. Sang ngày mai, mẹ đi chợ mua kiệu, hành, ca-rốt, củ cải… về cùng em gọt, xắt, phơi… chuẩn bị cho món dưa kiệu truyền thống không thể thiếu. Mới nghĩ tới thẩu dưa kiệu tim tím, đo đỏ… bắt mắt là đã nghe thèm bánh tét, bánh rò rồi. Đến ngày kia, mẹ với em rang nếp, rang đậu, rồi xay thành bột thơm phức để chuẩn bị làm các thứ bánh: bánh in, bánh tổ, bánh dẻo, bánh nổ… Nhưng đến công đoạn cuối cùng, trộn, chà, in, nện… là phần việc của cha con tôi. Những chiếc bánh sắc cạnh,thơm nức, ngó phát thèm lần lượt ra khỏi khuôn chỉ chờ sấy nữa là cho vào thùng, vào hộp.  Cứ thế, cả nhà ngày nào cũng bận bịu đến khuya lơ khuya lắc. Nhưng niềm vui, tiếng cười tràn ngập, căn nhà càng thêm ấm cúng.

Sắm sanh, chuẩn bị ăn Tết, người dân quê vẫn quen tự tay mình  làm lấy các món ăn, bánh trái, bằng vật liệu cây nhà lá vườn, do chính công sức, mồ hôi của mình tạo ra. Hớp ngụm trà, nhâm nhi chiếc bánh, ta sẽ liên tưởng bột đậu, bột nếp mềm mịn, thơm lựng thế này là thành quả của bao ngày cày sâu cuốc chín, dầm mưa dãi nắng, thức khuya dậy sớm… Mồ hôi người từng gieo vào đất, thì đất sẽ lại trả ơn người bằng những mùa vụ ruộng đồng lúa nếp trĩu bông, bằng những chum lu ắp đầy đậu bắp. Để rồi, mỗi năm một lần, chỉ có dịp Tết, người dân quê mới thực sự  thong thả, xúm xít cùng nhau thưởng thức hương vị các món ăn Tết. Và, chỉ có dịp Tết, người dân quê mới khoan khoái, an nhàn tận hưởng hương vị cuộc sống. Cũng chính vì thế mà cái Tết ở làng quê là sự bừng lên rõ rệt nhất.

Cứ thế, không khí chộn rộn chuẩn bị Tết, khiến xóm làng vốn tĩnh lặng cả năm, bỗng bừng thức dậy từ giữa tháng chạp. Nhà nhà tất bật dọn dẹp sửa sang, cười nói rộn rã. Ngoài đường, hối hả kẻ đi bán, lật đật người đi mua. Rải rác từng nhóm đôi ba cô cậu đi làm ăn phương xa về nhà ăn Tết, tay xách vai mang, lỉnh kỉnh quà cáp, tinh tươm quần áo. Đường làng bỗng tươi tắn sắc màu, rộn ràng chào hỏi. Trẻ em hí hửng đùa nghịch, tung tăng chạy nhảy, hồn nhiên khoe nhau quần áo mới toanh, được cha mẹ, anh chị vừa sắm cho. Hàng xóm láng giềng í ới, lao xao hỏi mượn, trao đổi nhau ô nếp, lon đậu, bát đường… Hoặc nhờ chú, nhờ anh khéo tay gói giúp ang nếp bánh tét, bánh rò. Eng éc tiếng heo kêu làng trên xóm dưới, phía trong đầu ngoài. Người ta xôn xao mổ heo chia nhau cùng ăn Tết. “Có đói cũng ba ngày Tết, có hết cũng ba ngày mùa”, đó là cách người nông dân tự tưởng thưởng chính mình, sau thời gian nhọc nhằn làm lụng. Xong nhà ông Hai, đến nhà bà Ba, rồi nhà chú Lúa, nhà cô Nếp…, nhộn nhịp lễ cúng tất niên kể từ ngày hai mươi ba, liên tục tới chiều ba mươi. Nhà nào cũng sum họp, tề tựu đông đủ ông bà, con cháu, dâu rể… Ấm cúng, đề huề. Và chắc chắn không bao giờ thiếu hàng xóm láng giềng. Những người luôn sẵn lòng sẻ chia lúc tối lửa tắt đèn. “Bà con xa không bằng láng giềng gần”, chỉ có nơi làng quê, chỉ có người dân quê mới nghĩ, mới hiểu, mới nói, mới làm điều đó một cách vô tư nhất. Nghĩa xóm tình làng luôn sâu nặng, thắm thiết.

Rồi cũng đến chiều ba mươi Tết, mọi việc hầu như đã xong xuôi. Nhà cửa, đường làng khang trang hẳn lên. Nhịp Tết của xóm làng lắng xuống một chút. Khi đêm dần buông, mọi người chờ đón giao thừa. Ngoài sân, bàn cúng đã được trang trọng bày sẵn. Trong nhà, bàn thờ tổ tiên cũng đã đầy đủ bánh trái, hoa quả. Khi phút giây giao hòa của năm cũ và năm mới điểm, hương đèn được thắp lên. Cha tôi trịnh trọng áo dài, khăn đóng, quỳ lạy, khấn vái. Khoảnh sân rộng, trong đêm trừ tịch, giữa đất trời mông mênh, kỳ vĩ, tôi nghe như hồn thiêng quê cha đất tổ lung linh trong ánh nến, kỳ ảo trong nghi ngút khói hương, khói trầm. Vào nhà, chắp tay trước bàn thờ tổ tiên trang nghiêm, tôi cảm nhận mối gắn kết thiêng liêng về cội nguồn tộc họ, về tôn ti thứ bậc họ hàng.

Tất cả những điều rất bình thường, rất giản dị như thế ở làng quê, mà tôi chưa hề cảm nhận  suốt gần hai mươi năm nơi phố xá xa hoa này, thì lòng tôi sao khỏi trống huơ, vắng lạnh, hẫng hụt, khi mỗi độ Tết đến, người ta kéo nhau về quê sum vấy, đoàn tụ, bỏ mặc thị thành buồn thiu, ngơ ngác. Có tôi trong nó, thẫn thờ, khắc khoải,  chiều ba mươi nát ruột hát bài “Về quê”. Để rồi nghẹn giọng “…thiếu quê hương ta về ta về đâu???” . Và bật khóc ngon lành.

Nhiều khi, thả trôi cảm xúc dập dềnh theo dòng hồi ức miên man, bằng giọng trầm buồn, nửa như có chủ ý, nửa bâng quơ, mẹ kể:  “Hồi nớ, cha con đem cái núm rún của con chôn sau vườn, gần bờ tre, giữa bụi chuối và gốc mít…”. Cuống rốn ấy đã hóa đất từ lâu lắm rồi. Nó vẫn quẩn quanh, loay hoay trong lòng đất, chỗ gốc mít, bụi chuối, bờ tre xa xưa. Nó là một phần máu thịt của tôi, cũng là của mẹ, của cha tôi. Thử hỏi chiều cuối năm rồi, mà quê nhà vẫn mịt mờ, xa lắc xa lơ, làm sao mình khỏi nát lòng nát dạ, khỏi thắt ruột thắt gan?!


ĐỌC KÝ NHẬN GIAO MÙA

Huỳnh Minh Tâm
( Nhân đọc tập thơ Ký nhận giao mùaLa Trung, NXB Văn học, 2010)

Gặp gỡ La Trung vài lần, trò chuyện buâng quơ không ra chuyện, bởi tào
lao tùng phèo, nhưng qua đấy tôi có cảm nhận tính tình La Trung bỗ bã,
mộc mạc, hơi “ồn”. Rồi đọc tập thơ ký nhận giao mùa của anh, và thật
sự ngạc nhiên hớn hở, bởi thơ anh kiệm lời, kín đáo, đôi chỗ tinh tế
đến xao xuyến, ngỡ ngàng.

Gió tàn đông ngõ lời giã biệt
Cành biếc xôn xao
Vo ve ngôn ngữ bướm ong
Sợ mất hương trinh hoa vàng gọi nắng xuân về dâng hiến
Nhện cố giăng trận đồ bát quái
Côn trùng ăn đến vô tư
Mặc người sờ nắn âm dương
Mắt cửa vẫn mở thời gian hàng trăm thế kỷ
Hẻm nhỏ cựa mình trở giấc
Nghe đường xưa ký nhận giao mùa
(Ký nhận giao mùa)
Đó là những câu thơ hay, thể hiện tầm quan sát thiên nhiên của La
Trung sâu sắc, cách diễn đạt là lạ, xê dịch ý tưởng bất ngờ. Ký nhận
giao mùa  ở bài thơ trên là ký nhận, giao thoa, hòa quyện giữa thiên
nhiên với thiên nhiên, giữa cái đẹp vô tư ưu ái với cái đẹp ưu ái vô
tư, ở một thời khắc cụ thể đông tàn xuân đến của trời đất mênh mông.
Nhưng ký nhận giao mùa  ở cả tập thơ, theo thiển ý của tôi, là những
ký nhận sâu xa hơn về thời gian, rộng lớn hơn về vũ trụ. Ở một vài
nghiã nào đó, đó là  ký nhận giữa con người và  thiên nhiên, giữa con
người và con người, giữa những điều chưa biết và những điều đã biết,
là hòa quyện trộn trạo trong thức tâm không thời khắc. Và đôi lúc bản
ngã ta cũng không cần hỏi ai ký nhận, ký nhận về điều gì, ký nhận ở
thời khắc nào, ký nhận để làm gì. Bởi khi đặt điều hỏi đáp là ta đã bó
hẹp vào khuôn khổ của lý trí và cảm xúc. Đọc ký nhận giao mùa là đọc
cái hòa quyện khôn dò với hóa công.
Em có về hãy nhẹ bàn chân
Như ngày xưa
Cái thời dưa muối
Kẻo cha ông nửa mừng nửa tủi
Rằng ta lạc dấu cội nguôn!
( Phút thiêng)
Đọc ký nhận giao mùa , bạn đọc đễ dàng nhận ra, thơ La Trung không to
tiếng, ít lý sự thi phi với đời sống-xem như một đối tượng cần đối
đãi, dẫu cuộc đời không phải lúc nào cũng mật ngọt với hoa thơm, mà
dường như phần nhiều là đắng đót chua cay.
Chạm cốc tình say ngỡ bóng thiên đường
Loay hoay dỗ cơn phiền muộn
Cầm tháng năm lên bờ xuống ruộng
Phố xưa mấy bận đi, về
Giọt đắng trái mùa chạm phải nỗi đau
Ngẩn ngơ bên bờ tâm thức…
( Chín tới)

Hành trình đi tìm cốt tủy thơ ca, tình yêu và “ bản lai diện mục”
trong thơ La Trung, tựa những anh hùng tìm đạo thời xưa, đầy công gai,
trắc trở, cũng là những phản tỉnh và cô đơn. Nhưng ở La Trung có vẻ
nhẹ nhàng, điềm đạm hơn, thi ca hơn
Trở giấc cô đơn
Dấn thân theo từng con chữ
Nửa đời duyên với nợ
Lọt lòng mấy cuộc tri âm
Hồn thi nhân tỉnh thức nửa đêm
Tứ thơ đau ứa trên đầu bút
( Cáo trạng không lời)
Hoặc là:    thương nhánh sông quê uốn mình cầm hơi xứ sở
Sư cụ xả thiền vội vã rung chuông
Rớt câu thần chú
Vọng thấu năm căn
( Ngộ)
Thơ La Trung đa tình nhưng ít đa đoan, nhiều chuyện, rối rắm. Có lẽ
anh đã tìm ra chõ tựa vững chắc cuối cùng của cuộc sống ? hoặc là, anh
đã “ ngộ” ra cái bến bờ dừng chân của con thuyền kỳ hồ lang bạt. Bởi
vậy chăng mà giọng thơ anh nhỏ nhẹ, đầm ấm, chứ không cố ý lên gân cốt
dạy đời, thấm dần vào tâm hồn bạn đọc như sự lan tỏa của không khí và
hơi sương, như hương hoa và sắc nắng. Cái lý sự trong thơ anh là cái
lý sự khêu gợi, chủ yếu cho chính mình.

Thiếu nghĩ
Con ôm ghì hiện tại
Nụ cười cha gãy hai
Rơi bên tượng đài…
Giật mình!
Nghiêng tai hứng âm thanh nguồn cội
Tiếng cười ông và cha dội vào trí não
Nhận ra lối mòn
Con tất tả đi tìm…
Nụ cười gãy thiêng liêng
( Nụ cười gãy).
Là người con của đất Điện Bàn nhân kiệt, góp một giọng hót lạ cho quê
nhà,âu đó cũng là nguồn hạnh phúc vô biên. Cái riêng biệt của thơ La
Trung là, không có vẻ riết róng, nghịch ngợm, kỳ ảo ngôn từ như Nguyễn
Hàn Chung; không có chất liệu, ngữ điệu mới mẻ, kiêu sa, trí tuệ như
Nguyễn Minh Hùng; cũng không có vẻ “ tân kỳ hình thức”, những câu thơ
tài hoa như Phạm Tấn Dũng. Có lẽ thơ La Trung giao thoa, gặp gỡ nhiều
với thơ của Nguyễn Nho Khiêm thời trước.  Đó cũng là giọng thơ nhỏ
nhẹ, dịu dàng, đầy suy tư và chiêm nghiệm về lẽ sống, lẽ đời, thường
trực “ quẫy đạp” để “thoát thai’ những ý tưởng, những phát hiện mới,
và anh dần đến độc chín của sáng tạo. Tôi dám chắc rằng, anh tự biết
sức mình, tài mình và không tự huyễn hoặc là bao. Còn với mảnh đất Hội
An, nơi anh đang sinh sống và viết, dường như anh là “người trong
nhà”, đang thể hiện, để lại một dư âm ?

Lan man, dàn trải như thế là tôi muốn mở ra cái quê quán tôi xưa ngẫu
nhĩ đâu đó của tác giả còn tiềm ẩn. Biết đâu tôi lại bỏ sót những hình
ảnh kín đáo, kỳ vĩ nào đó của thơ La Trung. Chẳng hạn, tôi thích những
câu thơ sau mà chẳng biết vì sao:

Chút hương đời ra mắt cuộc trần ai
Mặc tháng năm thì thầm kén chọn
Thôi nhé !
Tình riêng
Riêng tình đã trọn
Khắc lời thương lên sắc màu lận đận
Hát ru người qua ngõ thị phi…
( Tự ru)

So với tập thơ đầu tay Gót quê, thì tập  ký nhận giao mùa  đã có những
bước tiến vượt bậc về cấu tứ, cách diễn đạt và độ chín của ý tưởng.
Tuy nhiên, mặt hạn chế của thơ La Trung là biên độ đề tài còn hạn hẹp
và quen thuộc quá, như : khúc tơ dâng mẹ,ngôi yêu, xưa sau, sóng mơ,
tấc lòng, hậu ca…Những cái đề như vậy dễ làm bạn đọc có cảm giác
“sáo” và “sến”.Ở đây cần phải nói thêm là,cũng với những đề tài ấy,
nhưng anh chưa có hướng nhìn mới hơn, thổi vào bài thơ một cảm xúc mới
hơn, làm độc giả ngỡ ngàng. Quả thật điều này cũng hết sức khó khăn,
hết sức sáng tạo. Ở thể thơ lục bát, thơ của La Trung cũng chưa tạo ấn
tượng cho lắm, ý tưởng còn nghèo, đơn điệu về nhịp điệu, không có
những bước đột phá, sắc sảo về ý đồ nghệ thuật

Có lẽ không thừa, trong các bài viết, nhận định của tôi tôi luôn “ ghi
chú” rằng, trên đây là những  nhận xét, những kiến giải của một cá
nhân cá thể, không đại diện cho một “chân lý”; bởi vậy, trong bài viết
có thể có rất nhiều sai lầm, hạn hẹp, rất ít tính chân thực, tính
khách quan, độ chính xác của biện chứng khoa học; hy vọng “ tài liệu
tham khảo” này đóng góp một phần rất nhỏ để soi rọi vào “ ký nhận giao
mùa” của La Trung. Nơi ấy chưa đựng một vẻ đẹp tâm hồn của một con
người, và một nhà thơ. Để kết thúc bài viết này, cho tôi  bộc bạch vài
lời như một tình yêu :

Vào một thời khắc nào đó của ngày trong năm
Nhưng tốt nhất đẹp nhất có lẽ
Vào một buổi sáng
Của mùa xuân
Anh gánh hoa ra chợ
Mọi người xúm xít vòng quanh rạng rỡ
Người thứ nhất bảo : rau anh thơm quá !
Người thứ hai bảo : rau anh sạch quá !
Người thứ ba bảo : rau anh xanh quá !
Người thứ tư bảo : rau anh non quá !
Người thứ năm bảo : rau anh mềm quá !
Người thứ sáu bảo : rau anh ngọt quá !
Người thứ bảy bảo : rau anh mập quá !
Người thứ tám bảo : rau anh dài quá !
Người thứ chín bảo : rau anh rẻ quá !
Rồi mọi người bỏ đi
Chỉ còn anh
Và gánh hoa
Có thể vào một thời khắc nào đó của ngày trong năm
Nhưng tốt nhất đẹp nhất có lẽ
Vào buổi trưa hoặc buổi chiều
Của mùa hè hoặc mùa thu
Anh gánh hoa ra chợ
Và mọi thứ sẽ khác.

BÓNG LÀNG-ĐẤT VÀ NGƯỜI


 

BÓNG LÀNG-ĐẤT VÀ NGƯỜI

(Nhân đọc tập thơ Bóng làng của Ngô Hà Phương, NXB Đà Nẵng 2010)

Những cảm nhận ban đầu của tôi khi đọc tập thơ Bóng làng của Ngô Hà phương-người con của  Đại Lộc-là gặp quê xứ đất đai Đại Thạnh của anh nói riêng, Đại Lộc Quảng Nam nói chung rất chi thân thiết; và xứ đất của “Cuộc đời bão thổi/ anh đã đi vạn dặm chân trời/ sao có điều rất lạ em ơi/ vẫn chưa đi khuất tiếng gà trưa xao xác/ tiếng mẹ la con tiếng sáo cưỡi diều/ tiếng con trẻ kéo ngày lên ngõ nhỏ/ tiếng gàu khua trăng tiếng lá động chiều/ tiếng nhái nhai đêm tiếng vườn mỏi quả/ tiếng võng vẽ vòng tiếng mọt mài trưa”(bóng làng) ấy lại đầm ấm tình người, tình đất, tình cây. Nơi ấy con người được sinh ra, sau nỗi đau, là tình yêu mơ mộng. “Vẫn chưa ra khỏi bãi bò nhẩn nha gặm cỏ/ chưa ra khỏi bờ tre quẫy gió/khu vườn tiếng chim xanh mãi mái hồn/giếng nước mái đình mắt níu tay ôm/chưa ra khỏi. không bao giờ ra khỏi/ và. Anh vẫn còn đi. Trời rộng. Năm dài…”

Trải lòng mình tươi mới với cỏ cây hoa lá, với suối mát trăng thanh, xuyên suốt tập thơ, Ngô Hà Phương không rời cảm xúc quê nhà chứa chan mật ngọt, mật đắng. Đất quê, hương quê, trời quê như một tiếng gọi cho thơ anh chếnh choáng men nồng. Như rượu hồng đào, để rạo rực từng dòng thơ ấm nóng. “Rớt xuống Khe Tân một chiều hồ say/ núi thả hồn thơ vào đáy thẳm/ mây thả bồng bềnh lên cõi mộng/ thuyền lắt lay một chấm ngang trời/ đồi núi chập chùng say đắm/ khe suối thì thầm bí ẩn/ tầng tầng cú sóng đập vào tim/ lưng ngã khe Mài ngủ quên trên thác đá/ duỗi cẳng vũng ruà ngấm mát vào xương/ Cụng trán dương thông khói sương mờ má lạnh/ vấp mắt vụcĐầm sóng soải những tiên nương.”( Nhấp chén Khe Tân)

Đọc thơ của Ngô Hà Phương, dường như tôi đang nghe, ngửi, nếm, nắm nhẹ nhàng, thoang thoảng đâu đây mùi “hương” của quê lúa và quê núi, của tuổi thơ và tuổi già, của giấc mộng và sự thật. Thơ anh cảm động, chất chứa một tình cảm đôn hậu, gần gũi, truyền thống. “Con đã leo lên gò ông An bước cao bước thấp/ hái trái sim tím bầm bao nỗi nhớ nhung/ gỡ mảnh liềm trăng mẹ đất để cuối trời leo lét/ nhặt ánh mắt tròn xoe trước khoảng rộng chân trời xưa con thả cheo leo/ khựng ánh bùi ngùi trước gò ông Đầu lành lạnh/ …con nhảy tung tăng trên con đường thơm mùi hoa ngõ” ( Con đã về đây )

Có người bảo “thơ là trái tim”, rồi, “thơ là giọt lệ”, hoặc “thơ là vầng trăng thu chênh chếch ngoài song cửa”. Dẫu nói thế nào, đọc Bóng làng, tôi cũng cảm nhận tác giả đã khúc xạ, hoặc là anh đã “trầm thơ” ở trong các nhận xét ấy

 

Vâng, nếu “thơ là trái tim”, thì Ngô Hà Phương đã có trái tim hồng mọng nước, đập đâu đó phập phồng dấu yêu. “Sớm nắng chiều mưa chia dòng trong đục/ mẹ vẫn bốn mùa nuôi một dòng xanh/ khi đứng vọng người bên bờ nỗi nhớ/ mắt dòng sông hay mắt mẹ mênh mông/ tôi bây giờ đã qua nhiều sông suối/ nỗi buồn nhớ quê rười rượu sông người/ sông hỡi sông, hoàng hôn lênh đênh khói sóng/ khiến lòng mình xanh một nét chơi vơi” (Vẫn chảy sông ơi)

Nếu “thơ là giọt lệ”, thì lệ của anh cũng đã lung linh tan vỡ sinh thành những giấc mơ  thổn thức, cho anh niềm hy vọng để sống và yêu . “Giấu tuổi thơ vào cánh ve mắt phượng/ tôi lao về phía không gian chật chội tiếng người/ cơm níu áo, ngày lấn đêm, cơn mơ đè giấc ngủ/ bước mải mê quên lối cỏ mời/ Tôi đã đến tận chân trời khát vọng/…giờ trở lại hè vẫn tươi sắc nắng/ lá vẫn hát đầu cành hoa gạo lắc lư/ biết lấy gì đền ơn người cất giữ/ ngoài hai mái đầu đã sớm hoang vu” ( Vẫn sáng mùa hè ấy)

Nếu “thơ là vầng trăng thu chênh chếch ngoài song cửa”, thì anh đã có bài thơ Thu Xa rất gợi, nhiều hình ảnh đẹp. “núi thờ thẫn đón chân mùa se sắt/ sông lặng lờ phả mát giọt trong veo/ đồng ngọt xớt những câu hò gặt hái/ đường thơm lừng bao trang vở nắng reo/ hang lá trẻ chơi biết thu về, sắc đổi/ cành lạnh vườn thưa bần bật cánh chim sà/ lặng lẽ ao chiều thuyền lá tre bất động/ ngõ nhỏ đi về vàng nhuộm lối phôi pha/ bến vắng chiều nghiêng cha ôm cần tựa mộng/ngút ngát chè đồi mẹ lúi húi hái mơ” ( Thu xa).

Trên một nền ngôn ngữ dân dã, giản dị, một giọng thơ se sẽ, khe khẽ, dịu dàng, “ý được gợi ra nhiều hơn văn tự, chữ xoá đi nhưng hồn chữ ở lại”( Trần Đồng Minh), không a dua theo một xu hướng thơ hiện đại trúc trắc, khó hiểu, khó đọc, cũng không ham hố mang tính triết học về thân phận, chỉ đất và người, cùng đôi lúc ngỡ rặt là tiếng nói phản tỉnh về nỗi buồn sâu xa ( cõi tiềm thức) ( Mỗi lần cầm khăn xoá bảng/ biết là thương trách bàn tay/ những điều mình vừa mới giảng/ lẽ nào thành hạt phấn bay (Phấn bay)), tập thơ đầu tay Bóng làng đã “giội” vào tâm hồn bạn đọc một “cốc chè xanh tươi ngọt ngào”, đáng quí đáng yêu. Thành thật chúc mừng anh thành công, “dày dặn, sâu sắc, cao tầm” như nhà thơ Trúc Thông đã tin cậy.

Thêm góp ý

Thêm góp ý
authimage

Powered by Vnweblogs
© 2007 - Design by Omar Romero (all rights reserved)

Sông thơ (http://songtho.net )

Nhà thơ Nguyễn Vân Thiên và các bạn hữu đã hình thành một trang Web rất đẹp lấy tên là Sông Thơ tập hợp rất nhiều sáng tác mới rất đáng đọc .Nguyễn Hàn Chung trân trọng giới thiệu cùng quý bạn .Liên lạc với Sông thơ tại D/C caunoisongtho@gmail.com.

Tìm kiếm trang web này

Trang Chủ

CHÚC MỪNG MỘT MÙA GIÁNG SINH AN LÀNH & TRÀN ĐẦY THIÊN PHƯỚC *
XIN CHỜ 1 PHÚT ĐỂ NGHE NHẠC MỪNG GIÁNG SINH !
& Mời vào mục Buồm Thơ, đọc trang thơ Vọng GIÁNG  SINH :
* NHÓM   LỬA ĐÊM ĐÔNG ! @ vào mục Dòng Đời Tìm hiểu Phong tục & Ẩm thực mùa GIÁNG SINH có gì lạ ?*** Đặc biệt  đọc GIÁNG SINH BUỒN - Ghi chép tản mạn của Tác giả GÃ SIÊU ! ! !

VỀ THĂM QUÊ

Lê Lộc


Về quê. Một chuyến đi vội vàng, gấp gáp. Nhưng về quê bao giờ cũng thế, lòng cứ rộn ràng, háo hức, thắc thỏm, hồi hộp… Mười lần như chục, hể hả niềm vui, tíu tít nỗi mừng. Như thể nơi đây là nặng nề, ngột ngạt, bụi bặm… Còn ngoài nớ mới nhẹ tênh, phóng khoáng, trong lành…

Về, là về tạ lỗi trước mộ cha kính yêu, nơi đầu làng quạnh hiu nhang khói. Đốt nén hương mà lòng con thổn thức, nước mắt đầm đìa. Một đời cha vất vả, cơ cực. Cha từng dầm mưa dãi nắng, làm lụng cật lực, ăn uống kham khổ, chắt bóp từng đồng nơi quê nghèo gởi ngược vào thành phố cho cháu nội ăn học, cùng nuôi giấc mơ đổi đời với con, với cháu. Thấm thoát mười lăm năm rồi còn gì. Giấc mơ đổi đời đã lụi tàn dần theo năm tháng nghiệt ngã, mà cuộc đời vẫn chưa đổi thay là mấy. Tóc con đã bạc tự bao giờ. Rồi con cũng hiểu ra triết lý sống giản đơn “tri túc” của người xưa, để tự an ủi, tự vỗ về. Vẫn còn sót lại những phút giây trầm ngâm, giằng xé. Nhưng lòng đã nghe thanh thản, nhẹ nhàng hơn.

Về, là về với mẹ già đang từng ngày thắc thỏm chờ con. Đâu ngờ mẹ đã ra đầu ngõ đón con từ lúc nào. Ánh mắt sáng lên niềm vui, nụ cười tươi tắn, bao dung, hiền từ. Nắm tay con, mẹ quở: “Họ đi Sài Gòn, ai cũng mập ù, còn con răng mà cứ ốm nhách, ốm nhom như ri con hè?!”. Con ái ngại, lúng ta lúng túng chẳng biết nên trả lời mẹ thế nào đây. Đâu phải hễ ai đi ra cũng… “mập” đâu mẹ, ngậm ngùi con nghĩ bụng. Mập, thường vẫn khiến người ta liên tưởng về một cuộc sống đủ đầy, ấm no, sung túc. Mà con của mẹ hãy còn… , trong khi đời mình đã gần xế chiều rồi. Nhìn con ra vẻ đăm chiêu, mẹ chột dạ: “Ý chết! Mẹ nói rứa làm con buồn phải không? Thôi, vô nhà tắm rửa rồi ăn cơm, mẹ nấu sẵn rồi”. Mâm cơm dọn ra, mẹ ăn qua quít, chỉ lo sớt cơm, gắp thức ăn cho con. Con chợt cảm nhận tình mẹ cao cả đến dường nào: “Mẹ chín mươi tuổi vẫn còn lo cho con bảy mươi” là vậy!

Về, là về thăm em gái mến thương. Em hiền lành, chân chất. Em chịu khó, tận tụy, hy sinh. Mà đời em mãi lao đao, lận đận. Suốt thời con gái, em ở cùng cha mẹ, để anh chị yên tâm dắt con ra đi với giấc mơ đổi đời làm hành trang. Khi cha ngã bệnh, nằm liệt giường, em vừa lo phụng dưỡng vừa lo cáng đáng mọi việc trong nhà ngoài đồng. Lần lữa mãi rồi em cũng phải có chồng. Phải có một đứa con để nương tựa lúc tuổi già bóng xế chứ! Phận gái mười hai bến nước, số phận đẩy đưa em trôi dạt tới bến “có chồng cũng như không”. Nhưng, em vẫn thế, lặng thầm chịu đựng. Nhìn em gầy gò, quắt héo, lòng anh lại rưng rưng buồn!

Về, là về nhìn lại mảnh vườn cũ, mái nhà xưa. Mà lòng chết lặng. Nhà mình đấy ư!? Vườn không, nhà trống. Hoang lạnh, tiêu điều. Thoáng chốc, một quãng đời yên ả, ấm êm bỗng xa hút, mất tăm… Cứ như là chưa hề có. Nhớ, nhớ quặn lòng cái thuở trên nền đất này, cha mẹ, anh em quây quần, xúm xít dưới mái nhà đơn sơ, nhưng vô cùng ấm cúng. Kể từ khi  vợ chồng con khăn gói vào thành phố mưu sinh, các em lần lượt rời mái ấm theo chồng. Rồi đến lượt cha ra đi vĩnh viễn về cõi khác. Mẹ già yếu, mong manh như đèn trước gió. Mà mưa bão, lũ lụt miền Trung bao giờ cũng dữ dội, tàn khốc. Cuối cùng, mẹ phải bỏ nhà tạm lánh sang bên ngoại. Đành đoạn mỗi người một nơi, đau thắt ruột gan. Chiều nay, dưới mái hiên nhà quạnh vắng, liêu xiêu dáng đứng, chơi vơi nỗi niềm, nước mắt con lại rơi, và mất hút giữa cơ man là cỏ dại!

Về, là về dạo thăm ruộng đồng. Cởi bỏ giày dép, xắn quần đi chân trần, lội khắp triền kênh, bờ ruộng. Để tìm lại chút giao cảm giữa bàn chân ta, là da thịt, là xương máu của người với đất. Đất và người đã từng là của nhau, trong nhau. Những sáng sớm tinh mơ, ruộng đồng đã thức dậy đón bước chân trần. Lưỡi cuốc, đường cày lật đất lên, trưa hè bỏng rát lòng bàn chân. Nước và đất quyện vào nhau, cái lạnh cuối đông cắt da cắt thịt, chân người vẫn lấm lem bùn đất. Mồ hôi và nước mắt rơi thấm vào đất. Tinh lực của người cùng ân tình của đất hoà quyện và chuyển hoá thành  dưỡng chất để bật ra mầm sống cho hạt lúa, củ khoai, trái bắp… Tình người và đất qua từng ngày, từng tháng, từng năm đã gắn kết, bền chặt. Thế mà hôm nay, bỗng ngậm ngùi nhận ra, bàn chân trần của ta, đã từ lâu không chạm đến, không được tiếp xúc với đất, dường như đã lạ lẫm, đã nguội lạnh cảm xúc về đất!

Vài ba ngày ở quê trôi qua thật nhanh. Lại phải quay vào thành phố. Ở phố dường như khó mà nhìn thấy đất, để gần gũi, thân cận với đất. Gạch đá, bê-tông, đường nhựa… giành giật từng tí một, để lấp che, phủ kín, ngăn cách đất. Thế rồi, bàn chân trần lại thèm, lại nhớ quắt quay cảm giác êm ái, đằm thắm khi dẫm lên cỏ dại của những nẻo đường làng quê!

LÊ LỘC

Gió đèo Le

Lê Thị Điểm

Nếu được làm ngọn gió đèo Le

Em sẽ đi tìm đôi dép lạc mang vào chân mẹ

Nâng nhẹ gánh vai cha

Và ru anh

những khi anh mỏi phố về nguồn

Có thể

Chỉ là bóng chim, tăm cá

Gió đèo Le vẫn dịu dàng, cần mẫn

Thổi qua thung nắng

Sẽ rất hạnh phúc

khi đươc làm ngọn gió đèo Le

Dẫu mây chiều xa giăng mờ bóng núi

Tiếng vạc kêu hun hút cuối chân trời

Biết chẳng là gì so với gió đèo Le

Nhưng em vẫn ước !

RIMBAUD. TÂM HỒN NÀO KHÔNG LẦM LẪN

Vũ Trọng Quang

(Rimbaud Toàn Tập, Huỳnh Phan Anh dịch thuật, Nxb Văn hoá Sài Gòn)

Một câu hỏi về Arthur Rimbaud ? Là ai ? Làm gì ? Ở đâu ?

Có người biết đó là thi sĩ – thi sĩ Pháp; có người đã xem phim tái hiện cuộc đời Rimbaud; có người khi còn ngồi ghế nhà trường học hoặc nghe về câu thơ của nhà thơ Xuân Diệu trong bài Tình Trai đề cập đến mối tình đồng giới tính trong thi ca:

“ Tôi nhớ Rimbaud với Verlaine

Hai chàng thi sĩ choáng hơi men”

Và biết thêm bi kịch giữa lứa đôi thi sĩ xuất sắc ấy, Verlaine trong khi “choáng hơi men” đã bắn vào Rimbaud, “ Hoàng tử cuả các thi sĩ ” Verlaine lãnh án tù hai năm, “ Nhà thấu thị ” Rimbaud phải vào điều trị tại bịnh viện.

Xa hơn nữa có người yêu thơ biết đến hai bài thơ nổi tiếng cuả Rimbaud, đó là Nguyên Âm (được xem như bài thơ sắp đặt với ý nghĩ khác thường về nguyên âm) và bài Con Tàu Say. Người chú tâm hơn thì tìm đọc lại hai tập thơ Một Muà Địa Ngục và Hoa Đăng.

Có  nghĩa cái tên Rimbaud và thơ Rimbaud ít nhiều đã được biết đến.

Bây giờ Rimbaud Toàn Tập, một tập hợp khá đầy đủ về Rimbaud.

Cuốn sách mở đầu lời tựa tràn bờ dài gần 100 trang như một cuốn sách trong cuốn sách, dưới mỗi bài thơ đều có chú giải / giải mã, mới thấy nhà văn kiêm dịch giả Huỳnh Phan Anh “yêu” Rimbaud đến dường nào, vì yêu nên đã dồn hết sức dồn hết tâm cho ước mơ toàn cảnh của mình, như lời bộc bạch của tác giả chuyển ngữ: “Rimbaud Toàn Tập là ước mơ từ lâu, dầu biết công trình không đơn giản khi mà lẽ ra nó phải là công trình tập thể, càng không đơn giản khi bịnh ập đến giữa ngổn ngang những trang bản thảo, tưởng chừng là một kết thúc sớm, không riêng gì cho số phận cuốn sách…”. Đó là sự hết lòng của nhà văn Huỳnh Phan Anh với mong muốn hướng dẫn người đọc đi đến tường tận hành trình phiêu lưu của Rimbaud: Phiêu lưu trong đời thơ, từ thơ khi còn học sinh đến thơ trong hai tập Một Mùa Điạ Ngục và Hoa Đăng cùng rất nhiều những bài thơ khác; và phiêu lưu trong đời thật, từ trong gia đình trốn nhà nhiều lần, đi gặp nhiều người, đến nhiều nơi, đến hầu hết các nước ở Châu Âu qua các nước ở Châu Phi (còn mong muốn gia nhập hải quân Mỹ); từ nhiều công việc như đi lính đi buôn (buôn cả vũ khí, có tin đồn là buôn cả nô lệ) đi làm việc công trường… Nghiã là đời thơ và đời thật là bước chân luôn luôn đi tới, dầu bị ung thư đầu gối phải cưa chân, thi sĩ vẫn gửi thư hứa hẹn trở lại Châu Phi.

Sau phần thơ là phần tiểu sử, phụ lục ảnh, tư liệu thư từ gửi gia đình, gửi những người thân thiết và quen biết; phần này gần 200 trang không phải để làm dày cộm cuốn sách mà để mở rộng biên độ cho tầm nhìn người đọc.

Bút pháp của Huỳnh Phan Anh được xem như “tỉnh” trước cái “động”/”cuồng”* của Rimbaud; tỉnh táo trước cái sai trái “Tâm hồn nào không lầm lẫn?”. Nói như vậy có phải đòi hỏi nên viết xáo trộn trước chủ thể xáo trộn chăng? Nên giận dữ trước giận dữ chăng? Có cần thiết trả lời phải bình tâm, chín chắn trước bản mệnh một con người luôn biến động? Câu trả lời nằm chính trong lời tra vấn.

Authur Rimbaud: Tổng hợp của cay đắng – hùng hồn – gai góc – mê sảng – phản kháng – trần trụi – rối loạn – cuồng nộ – tuyệt vọng – tha hoá. Nhưng trên hết Rimbaud là thi sĩ cách tân “Phải tuyệt đối hiện đại” và táo bạo “Hãy kính trọng kẻ bị nguyền rủa tột bực,

tôi đã thét điều đó trên trái đất” “Phải chăng đây là sự man rợ được tha thứ”. Để làm gì? Để đạt “tới cái chưa biết” bằng sự “rối loạn lập luận mọi giác quan”. Cách tân và táo bạo nhất không chỉ từ hai thế kỷ trước mà hiện diện cho tới hôm nay viễn tưởng đến thế kỷ sau.

Liên tưởng về nơi chốn này nhìn lại mặt phẳng hình ảnh thi ca hiện hữu, những hình thức biện chứng cách tân chưa vượt qua giới hạn con đường Rimbaud (giả định R là trục toạ độ), loay hoay tại vị trí nhúc nhích ở một điểm trị số.

Giật mình bàng hoàng trước sứ mệnh “Nhà thơ là kẻ trộm lửa”, đóng lại cánh cửa “ Lúc ba giờ khuya, thời khắc của nhà thơ và kẻ cướp “, bóng tối khép lại Toàn Tập mở ra vùng chóa mắt khác, có cảm giác chơi vơi chới với, hoang mang giữa cõi thực phi thực không gian phi không gian thời gian phi thời gian, vô thức bừng vỡ sản sinh từ áp lực ý thức dồn nén.

VŨ TRỌNG QUANG

* Những dòng nghiêng là thơ Rimbaud

- Trong tập Một Mùa Địa Ngục (do Nxb Văn học năm 1997) nhà văn Huỳnh Phan Anh dịch “Tâm hồn nào không sai sót”, trong Rimbaud Toàn tập ông lại dịch “Ai người không sai trái?”. Riêng người viết bài này lại thích câu “Tâm hồn nào không lầm lẫn?”

Dịch không phải phản lại nội dung, nhưng đôi khi phản bội hình thức.

chùm thơ Lê Lộc ( Sài Gòn )

MỎI

Khi bước mỏi, ngày nghiêng, hồn lệ đẫm

Đường chông chênh mờ mịt dấu chân đời

Chiếc bóng đổ liêu xiêu chiều thăm thẳm

Vệt nắng phai theo mây nhạt cuối trời.

CHIỀU

Loài ngựa chứng một chiều hoang mỏi vó

Bờ suối khô ngã quỵ thở  hơi tàn

Miền đất hứa đã cháy thiêu đồng cỏ

Níu chiều tà, em khóc lịm tro than.

VỠ

Người nghệ sĩ già ôm đàn nghiệp lụy

Vắt kiệt tim mình máu rỉ từng ngón tay

Em thảng thốt nhìn đời tàn hủy

Mảnh gương rơi, ta cười vỡ đọa đày.

TÌNH

Ta chim lạ chiều mưa bay thất đảm

Đậu nhánh đời em run rẩy khốn cùng

Cuộc thiên di trăm năm còn mò mẫm

Chút tình em, riêng ấm cõi mịt mùng.
10.10

Chùm thơ của Huỳnh Minh Tâm

Quê xứ Điện Bàn

Bạn văn bắc Thu bồn  viêt khác xưa nhiêu .Đỗ Thượng Thế vùng thoát chặt chém  mật ngôn túi bụi , Nguyễn Đức Dũng bươn trải dịu mà thăt , Phạm Tấn Dũng lâm lũi đi tìm mối tương quan chìm khuât trong ngôn ca ,Nguyễn Hải Triều miên man lá cỏ mà vẫn thủ thế    ,Ngô Hà Phương cố chăt lọc  đên cõi như nhiên . Nhìn chung các bạn đều có những sáng tác mới sâu và buồn hơn .Riêng Huỳnh Minh Tâm dường như đã thưc ngộ điên ngôn  đảo ngữ  nào đây nên câu chữ  lung lay  se thăt  vô cùng .Nguyễn Hàn Chung  trân trọng giơi thiệu với bạn đọc chùm bài mới của anh.

CÂU CHUYỆN ĐỜI CON NGƯỜI TA

Câu chuyện đời người

Thấp thỏm

Ngày chuyện tháng chuyện năm chuyện

Ma mị

Mộng mị

Chuyện tình như cây xanh

Chuyện tình như lá úa

Chuyện tình như cỏ dại

Chuyện chữ nghĩa ngẫu cảm độc dược

Nước chảy hoa trôi

Chim kêu vang đầu ngõ, trăng lửng lơ đỉnh núi

Chó tru đêm tàn cô độc

Chuyện tiền như gió tháng sáu

Rát dạ

Viên sạn trong chiếc giày

Gương mặt người mất ngủ

Chuyện đâu mà lắm thế !?

Hoa có chuyện không mà thơm thảo

Mây có chuyện không mà trắng mấy phương

Đường có chuyện không mà dài thăm thẳm

Thăm thẳm đời người

Xanh biếc đời người

Chuyện như sông

Chảy

Chảy

Chuyện như núi

Cao

Cao

Chuyện như biển

Sóng

Sóng

CHỖ QUAY VỀ

chỗ quay về

cố xứ

láng lai

Con đi quê nhà hoa rụng

chợt ngẩn ngơ có chỗ quay về

tháng giêng nắng ngát hàng cau

tháng chín mưa giăng giăng bờ cỏ

cố xứ lốt lưng lặng lặng

lách lau sông sóng vỗ mạn thuyền

hương đâu mà nồng tình đâu mà sâu

gió đâu mà bát ngát sông đâu mà rạo rực

con đi quê nhà đường cày tháng ba con

dế ri ri con dế lang thang

có chỗ quay về đìu hiu miên man

cố xứ con đứng đó thôi

sao mà gần gũi sao mà xa xôi!

con đi quê nhà hoa rụng tơi bời

bèo dạt mây trôi

chợt ngẩn ngơ tơi bời hoa rụng

bèo dạt mây trôi.

QUÊ QUÁN

“Hỏi tên rằng biển xanh dâu

Hỏi quê rằng mộng ban đầu đã xa”

Bùi Giáng

Rằng quê quán tôi đâu cây xanh ngày mới lớn

Rằng giờ tôi núi non trơ tróc mùa gió thổi xa em

Con suối ngày xưa đàn cá bống hoa rừng thơm mí mắt

Mẹ đi qua vườn cà hái trái non cho con chấm muối

Mẹ đã hoá trăng, những đốm sao là những quả cà non nõn

Con nhìn đêm đêm

Mưa một trời trong ngực

Quê quán tôi đâu hoa phượng ngày em tết tóc

Đỏ một dòng sông

Những giấc ngủ bị đánh thức sầu đông rụng lá

Quê quán tôi đâu

Những con chim sẻ mổ vào ký ức ngoài sân một nong thóc

Cha cô đơn cút rượu hoa khế rụng tím thềm

Tuổi mười ba long lanh đáy chén

Tiếng trâu sau hè gọi nắng xuống đồng sâu.

VAI DIỄN

Thế giới mở ra một ngày bình thường

những vở kịch lớn, những vở kịch vừa, những vở kịch nhỏ

Cho chúng ta thấy gì ?

hỡi vai hề bất chợt khóc bất chợt cười

nước mắt đong bằng sông

thầm lặng chảy trên lưng mẹ

Mẹ không biết, mẹ vẫn cấy trồng trên cánh đồng

giá lạnh tháng mười

anh hề thức dậy muộn vài xu dính túi

màn đã hạ thật sao ?

trời xanh thế sao ?

Những kẻ a dua, xu nịnh

thiếp hiền từ, vài nàng đỏng đảnh

đôi ba chàng đẹp trai

vài ông mặt to

Các vai diễn đã chuẩn bị, lớp lang và định mệnh

diễn từ đêm này sang đêm khác

ngày mẹ mất, một nửa vườn hoa hồng nở, một nửa lụi tàn

anh hề bỏ vai, chạy ba ngày khắp cánh đồng

Giờ về quê tìm anh hề năm cũ

ngưòi đâu ? chiều chuông đổ chậm.

Chùm tản văn của Nguyễn Điện Nam

NỖI LO MÙA GẶT

NGUYỄN ĐIỆN NAM

Lúa đã chín vàng. Những cánh đồng lớn từ Điện Bàn vào Duy Xuyên, Thăng Bình… rậm rịch vào đợt gặt rộ trong tuần này. Ngặt thay, trời thu cứ sáng nắng chiều mưa, bà con nông dân lại thêm một mùa gánh nỗi lo trĩu nặng.

Ngoài lo chuyện…ông trời, nông dân còn vất vả bao chuyện khác nữa. Vụ mùa nào cũng canh cánh, hết lo chống hạn, sâu rầy, thì đến mưa gió lụt lội, đặc biệt là nhân công. Năm nay, có khác mọi năm là đã thấy xuất hiện thêm nhiều điểm bán máy cắt lúa. Cũng đã xuất hiện nhiều nhóm “thợ gặt chuyên nghiệp” được trang bị các nông cụ để gặt thuê, từ máy cắt đến tuốt lúa. Cơ khí hóa dẫn thay thế lao động thủ công, đó là xu hướng đáng mừng. Nhưng bài toán về lời lãi trên đám ruộng thì tính rợ cũng thấy trằn trọc. Bởi có quá nhiều chi phí. Làm ruộng, chủ yếu lấy công làm lời, nhưng nhân công thì ngày càng cao giá vì thuê mướn khó. Ngay đã thuê cắt, tuốt ra lúa hạt, vô bao sẵn nhưng nhờ người vác lên bờ cũng đã hết 10 ngàn đồng/bao. Nếu cái gì cũng thuê, từ cày bừa đến sạ, bơm thuốc, gặt, chở lúa về nhà thì cầm chắc không lời mấy đồng. Gặt trúng khi mưa lụt thì càng lỗ gấp bội.

Có người nói “làm ruộng bây giờ sướng thiệt”, ấy là chỉ thấy phần cơ giới, thấy cả đống lúa trên sân, nhưng không ai có thể đo đếm những nỗi lo, bồn chồn, phập phồng của nông dân trên ruộng đồng để làm ra hạt lúa. Một số nhà thiếu nhân công đành phải tìm kiếm người khác cho không ruộng để họ làm, nhưng cũng không mấy ai mặn mà. Công nghệ thu hoạch và sau thu hoạch đang là chướng ngại cho không ít nông dân, nhất là những vùng đồng ruộng còn manh mún, dân cư thưa thớt lại ở xa đồng.

Đã đến lúc cần xem việc đồn điền đổi thửa ở các vùng trồng lúa tập trung là hướng tháo gỡ quyết liệt. Khi dồn điền, sẽ tạo điều kiện để quy hoạch lại đồng ruộng, đầu tư giao thông nội đồng và gia tăng sản xuất, thu hoạch bằng phương tiện cơ giới. Một số vùng không có hoặc chưa hội đủ điều kiện thuận lợi thì nên hướng dẫn bà con nông dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp để tăng giá trị trên một đơn vị diện tích. Cần bao nhiêu diện tích lúa là đủ để ổn định, giữ an toàn lương thực tại chỗ? Và bao nhiêu diện tích cần chuyển đổi, trồng loại cây gì cho giá trị kinh tế cao hơn? Những câu hỏi đó tiếp tục đặt ra cho các ngành chức năng, cho các nhà quy hoạch sản xuất nông nghiệp. Có trả lời được thì mới nói chuyện hỗ trợ cho nông dân một cách hiệu quả, thiết thực.

VẮNG ĐÀN ÔNG

NGUYỄN ĐIỆN NAM

Chị đã ngoài năm mươi tuổi, ở vậy, nuôi mẹ già. Chiều đầu thu, về thăm, vừa gặp chị đã nói: Làng vắng đàn ông. Nghe, tưởng chuyện tình duyên đã lỡ, buồn. Nhưng không hẳn vậy, đâu phải vậy.

Số là, từ ngày quê tôi – Điện Bàn, có Khu công nghiệp Điện Nam – Điện Ngọc, đàn ông của làng dần đi vắng. Chính xác hơn là chỉ có mấy ông già, hoặc những người đàn ông mất sức lao động mới ở nhà, ở làng. Hầu hết thanh niên tìm cách  ra đi. Xa thì xuôi Nam ngược Bắc. Gần thì bám các khu công nghiệp làm “thợ đụng” (đụng chi làm nấy). Thợ hồ xây nhà máy. Thợ mộc làm đồ trang trí nội thất. Cũng có những gã thợ gặt không biết làm chi cũng đi phụ trộn bê tông đúc bi cống, đúc tấm lát vỉa cho cá khu tái định cư, khu đô thị… Lớp trẻ hơn, vừa học xong trung học vào làm gạch Đồng Tâm, giày Ricker, các nhà máy chế biến…

Vậy nên, chỉ có những người đàn bà ở lại giữ làng, bám mấy mảnh ruộng vườn. Chị là người trong số đó. Một mảnh vườn, hai con heo nái, sáu sào ruộng, một tay chị cáng đáng. Nhưng sức yếu rồi, không ai đổi công cho đàn bà, nên thảy mọi việc đồng áng phải thuê người làm. Một sào ruộng, thuê từ người bơm thuốc, cày, bừa, người gặt, thuê máy nổ tuốt lúa, rốt cuộc chỉ còn công không để kiếm gạo ăn. Không lời, nhưng không thể bỏ ruộng vì câu chuyện lỡ thì. Quá trình chuyển dịch lao động, từ nông nghiệp qua phi nông nghiệp, không đơn giản như mấy con tính của nhà kinh tế. Cũng có vùng, ruộng bỏ cho cỏ mọc. Vì điều đơn giản, chỉ mỗi khi làng có người chết, người ta mới dành vài tiếng đồng hồ đi đưa đám, khiêng ma. Ngày thường, làng vắng tanh, rất ít thấy bóng đàn ông, mấy ai mặn mà với sào ruộng lúa.

Nhân câu chuyện của chị, của những người đàn bà ở làng, lại nghĩ đến điều khác nữa. Như huyện Núi Thành, vấn đề sẽ lại xới lên mối quan tâm về thành tựu trong thời gian qua và sắp đến là chuyện giải tỏa để nhường đất xây dựng những nhà máy. Núi Thành đã từng cố gắng kêu gọi các nhà máy, xí nghiệp giải quyết lao động địa phương. Song soát xét, có lẽ cơ hội dành nhiều hơn cho thanh niên, đàn ông, còn những người già, những người đàn bà đã qua tuối trung niên, phải tự tìm kiếm những việc vặt. Đây không chỉ là câu chuyện kinh tế, là chuyện phân công lao động, mà sẽ nảy ra vấn đề xã hội. Có cái gì đó, gợi lên như một niềm cô đơn. Người có ruộng thì làm cho đỡ buồn. Người không có ruộng thì làm chi hè?

Vắng đàn ông trên những cánh đồng là chuyện nên mừng trong chuyển dịch lao động.

Nhưng có sự chuyển dịch nào mà không để lại một bờ đã ra đi trống vắng đến nao lòng? Bởi ở đó, chỉ còn những người đàn bà, chỉ còn chị tôi, tự làm nên ngọn khói lam chiều bên mái rạ!

MẸ Ở ĐÂY HỒN QUÊ NHÀ

QUỲNH  THI

(  Kính tặng mẹ ngày Vu Lan  2010  )

Ngày con  mới sang thảnh phố Houston

Thấy khu vườn xinh xinh của mẹ

Lúc nào rau cũng xanh tươi

Hoa trổ bông

Thách thức  mùa hè nóng nực

Nhìn mẹ già da đã nhăn nheo

Tóc bạc phơ  luôn cười nói

Vạt nắng khổ cực chiếu rọi

Suốt chặng đường dài mẹ đi

Chắt chiu  nuôi một đàn con khôn lớn

Không một lời thở  than trách móc

Con sóng ưu phiền hằn nét suy tư

Mẹ đau xót  thấy đàn con nhiều khi

Long đong  thiếu thốn

Tiếng thở dài vò võ canh thâu

*

Chắc mẹ  hiểu trầm tư của con

Hồn reo vui thấy mẹ hạnh phúc

Lòng  mừng sao nhìn trái bí trái bầu

Đã to dần to dần lớn khôn

Những bông hoa nở rộ ngát hương

Mẹ nâng niu quí báu

Như khi xưa mẹ đã nuôi con

Như khi xưa sữa mẹ

Con bú rát trời đau

*

Mẹ có hiểu trầm tư của con

Lúc nhìn mẹ tưới nước cho vườn

Đó cũng là lúc một trời ấu thơ

Ở  trong con xao xuyến  hiện về

Con đã thấy vườn mẹ ở đây

Mà hồn lưu luyến  quê nhà

Ơi  rau xanh quá  !

Chạnh lòng mẹ đau ./

Quỳnh  Thi

CON CHỮ TRÔN ỐC

“..nhặt tiếng khóc thôi nôi

giữa bốn bề sóng vỗ…”

- PHẠM TẤN DŨNG -

Con nắng lệch sớm mai

Xô dạt đôi cánh

Ta đang sãi những bước sãi của sò của ốc

Hít đầy lồng ngực chứa chan những mùi tanh từ xác chết san hô

Ta bỗng cất giọng nói khôn

( khái niệm khác thường )

Cù lao…

Cù lao cù lao

Cơn giông chiều như những con chữ

Sóng xoắn trào lên trôn ốc dậy thì

Hít đầy lồng ngực cơn gió ngược chiều

Hoàng hôn lạnh lẽo bàn chân

Ta sãi đôi cánh khắc khoải nhưng đầy kiêu hãnh

Ta – cái bóng đi qua đời mình

Cù lao  cù lao

Đêm

Biển lặng

Lặng đến trào

Bạn bè tôi chuốc nhau

Một thứ nước khôn ngoan êm ả dậy men

Ai đó làm rơi câu hát trên bãi cát đêm

Ô hay sao không thoát khỏi câu dân ca Biển

Cù lao cù lao

Biển chạm ta

Ta chạm Biển

Biển chạm vào đâu chân trời  ./.

MONG MANH

LÊ LỘC

Nhập nhòa em cõi thực hư

Mong manh ta giạt bến bờ phù sinh

Sắc không hư ảo phận mình

Từ nguyên sơ đã vô minh cuộc người

Bể dâu tung hứng khóc cười

Tử sinh sấp ngửa cuộc chơi vô thường

Là em lãng đãng khói sương

Là ta hun hút cuối đường hư vô…

Đêm uống rượu nghe Biên cương hành

Cái Trọng Ty
gửi Phạm ngọc Lư
Biên cương hành
chí ngươi hồ thỉ
ngôn ngữ trong Thơ di lụy một đời
ngươi về một cõi nhà tan nát
tâm tư ưu uất tháng năm trôi
ngồi đây mời bạn chung rượu đắng
kẻ sĩ Biên cương giày cỏ qua sông
đã bao năm một ngày thoáng gặp
gío phi trường Bình Định cát bay bay
vội vàng tay vẫy không hẹn lại
thưở ấy bụi đường lấm tai ương
tôi theo trận mạc về An Phú
thời Xuân Thu
sớm biển chiều rừng
bước đi lửa tình như muốn cạn
nhìn lại bóng mình rách rưới tang thương
Bạn tôi chí lớn như gươm bén
chảy máu đời Thơ buổi chợ tàn
ai hiểu cho ngươi đời thất chí
chén rượu này đối ẩm cùng ai
đêm xưa gác trọ vài ba đứa
vui một phùa sảng khoái tan hàng
nay hong bếp cũ lò than lạnh
nhìn đăm đăm vách lá chơ vơ
chỉ thấy tháng ngày trôi lớp lớp
thấy đời mình quạnh quẽ vào ra
thấy bóng mình đen
đêm không sao mọc
nhớ bạn đêm về đau như cắt
vết thương xưa dao nhọn cứa vào tim
ta qua cầu nhìn lại sông khập khiểng
máu theo sông chảy nhịp luân hồi
đêm nay ngâm lại giòng Biên trấn
ngôn ngữ trong Thơ mọc ở Phương Đông
Thơ tràn trên những đồng hoang hóa
hoa Qùy cô đơn nở giữa núi ngàn
mây thành kìn kịt từ đất khổ
vó ngựa Biên cương bốc bụi mù
cung đàn xưa ai người tri kỷ
trên chiếu bạc đời
nổi đắng cay
buồn bã đêm xuân đành rơi bút bạc
giông bão đời xoay
tâm muốn sụm
trang Thơ khép vội
khúc oan tình
hình như gío thổi qua liếp cửa
vi vu nghe tiếng gọi trùng khơi
gọi ai nơi tận cùng sơn thủy
ai người khách lạ gío muôn phương
ta về bạn hỏi từ đâu lại
thấy khói tàn tro phủ tượng đài
thấy rơi giọt lệ sôi trên bếp
dấu giày thô đời ở trọ quê nhà

tháng Bảy,2010

BỖNG NHIÊN CAO HỨNG MÁCH ĐỜI THƯỞNG THƠ (3)

phù hư dật sĩ

VÕ THẠNH VĂN

Một nghệ sĩ lớn

phải lả một người hữu thần

trên có trời, dưới có đất

ba bên bốn phía là cỏ cây hoa lá

và cả nhân loại bằng hữu anh em

Người nghệ sĩ như 1 hạt cát mong manh

nếu hạt cát lương thiện sẽ tự thấy mình bé nhỏ

những hạt cát chứa đầy kiêu mạn

sẽ chẳng thấy mình nằm sát biển mênh mông

Ngôn ngữ của nghệ sĩ là ngôn ngữ cảm thông

làm giàu cho kho tàng yêu thương

qua mọi không gian và thời gian

để trước tiên ca tụng đức hiếu sinh của Tạo Hóa

[hiếu sinh là tình yêu của Thượng Đế]

Độc giả không cần những nhà phê bình thơ để hiểu thơ

có những người chính họ tự thú không biết gì về thơ

nhưng lại lên giọng thầy đới phê bình ba hoa xích thố

khen, chê, đề nghị… chẳng qua để tránh mặc cảm

và để trả thu về một mối nhục nào đó

Thơ là thơ

thơ có ngôn ngữ riêng của nó

thơ đi thẳng vào lòng người

qua những ngõ ngách âm thầm riêng tư

không cần trung gian chuyển tải

Chùm thơ của Võ Thạnh Văn

Võ Thạnh Văn gốc người Quảng Ngãi còn có ngoại hiệu Phù Hư Dật sĩ  . Anh hiện sống ở California .Những bài thơ lục bát của anh ẩn chứa chiều sâu nội tại,những vận động bí ẩn trong  tình yêu của  một con người  lưu mà không lạc . Ngôn ngữ trong thơ anh  chưa hẳn đã vượt thoát những  quy phạm thông thường  tuy nhiên  ngữ  ngôn ngỡ như mòn sáo lại hàm hỗn những yếu tố bất ngờ ,chuyển tải một ý niệm nào đó hiện diện như một loại mã hóa  siêu hình nhưng vẫn tràn đầy chất thơ .Nguyễn Hàn Chung  xin trân trọng giới thiệu bạn đọc một chùm thơ thuần lục bát của anh

KHƯƠNG 1

MÔI MÁ LONG ĐONG

Duyên do hơi thở ấm nồng

Mắt môi sóng dậy long đong nửa  đời

Tình thăm thẳm. Tứ diệu vời

Trong nghi hoặc thốt vạn lời thủy chung

Từ em khao khát khôn cùng

Mắt môi ngày nọ, sương chùng buổi kia

Từ huyễn hợp, nẩy chia lìa

Từ đêm mưa rớt nước khuya chảy tràn

Bởi em môi má hỗn mang

Tóc râm biếc núi. Mật tràn xanh đêm

Lời rót ngọt. Ý tô thêm

Đắng, cay, bùi, ngọt, ngoan, mềm, dối, gian

Và em rừng rợp thông ngàn

Ngực phên che gió. Da làn ngăn mưa

Mắt môi nước lửa đương vừa

Tình mùa úng thủy lòng chưa kịp ngờ

KHƯƠNG 5

TÌNH THAO THỨC GẦY

Vuốt ve từng lóng tay gầy

Từng đêm thức muộn, từng ngày ngủ trưa

Từng cử xế, từng giấc khuya

Từng cơn trăn trở xa lìa nghiệp thân

Xót xa từng ngón chân trần

Ngón đong đưa mộng, ngón tần ngần mơ

Ngón đi, lạc nẻo sương mờ

Ngón về, thảng thốt lòng ngờ  chiêm bao

Ru người bấc lụn dầu hao

Sách nghiêng chữ múa, bút chao mực nhòa

Từng dòng rỉ mật tinh hoa

Rớt rơi tài tứ, chan hòa từ  tâm

Dỗ em mộng mị ươm mầm

Má ngăm trầm quế, môi thâm linh phù

Tay tình võng, ngón tình mù

Mày chau trăng khuyết, miệng cười trăng non

Lời thề nước chảy  đá mòn

Câu thề sóng vỗ bờ  hờn nghiêng nghe

Bia thề khắc dấu mạn ghe

Hương thề mây cuộn bóng che tình gầy

LIÊN KHÚC

RU NGƯỜI

KHÚC RU NGƯỜI #1

Ru em tự thủy chí chung

Từ nôi lòng mẹ đến cung lòng đời

Đầu rừng cấm. Cuối biển khơi

Tóc trườn suối hiểm. Mắt ngời hố thiêng

KHÚC RU NGƯỜI #2

Ru em đẫy giấc ngoan hiền

Giục trăng về đậu khắp miền da thơm

Cho hoa chớm. Cho nụ đơm

Khai thiên tình sử ngát thơm phấn nồng

KHÚC RU NGƯỜI #3

Ru em nguyên tuổi phiêu bồng

Mắt xanh lục bát. Môi hồng ca dao

Lầu trăng thơ chảy dạt dào

Giấy bay lượn chữ. Mực ngào ngạt kinh

KHÚC RU NGƯỜI #4

Ru em mưa nắng thâm tình

Lời thiêng khấn hứa. Câu linh nguyện thề

Mai sau mộng mị đi về

Còn bùi ngùi nhớ. Vẫn mê mẩn chờ

KHÚC RU NGƯỜI #5

Ru em đầy ắp trang thơ

Ngát thanh phong lạp. Thắm tờ hồng tiên

Ý sâu thẳm. Tứ diệu huyền

Đạm nhiên rượu quế. Uyên nhiên nhạc tùng

KHÚC RU NGƯỜI #6

Ru em diệu vợi mông lung

Nhánh quằn trĩu đợi. Cành chùng rũ mong

Xưa sau sông nhánh chia dòng

Nhấp nhô bến nước. Long đong cau trầu

VÕ THẠNH VĂN

phuhudatsi@yahoo.com

(408) 504-7273

đêm trăng hoang dại

Sông  chiều Phan Rí

Cái Trọng Ty

về sông Mao

về chợ lầu Phan Rí

phòng tuyến dài từ dạo ấy sang xuân

sân ga vắng phố Chàm trăng hoang dại

tháp Hời khuya chìm vô vọng trăm năm

đồi sương đọng dấu giày mờ lau lách

trảng lưa thưa mưa xóa bãi mìn chông

mùi máu tươi oi nồng bên lộ vắng

tai kiếp rình mò

chẳng khước từ ai

đêm hôm ấy trăng khuya đồi bát ngát

tôi theo trăng về muộn trước sân ga

nghe xa vắng còi tàu qua phố chợ

thân thế bọt bèo sống chết theo mây

dòng sông tím nước trôi mù mịt sóng

cuồn cuộn tai ương

đời bạc đến vô cùng

tôi đứng trên đồi

lau sậy đôi bờ đêm trắng xóa

soi bóng mình chìm nổi lênh đênh

người ngợm dở hơi

một thời qúa tải

tiếng ai hú rừng chồi

vọng về lớp lớp

sóng từ trừờng trời đất giao thoa

khoảnh khắc mong manh vỡ tràn huyết sử

cô em Chăm mắt đẹp thiên thu

buồn não nuột

ngàn dặm sao hôm

đêm sông Mao về trong cô quạnh

còn nghe điêu hát hồn câm

kinh thành đỗ tượng Chàm u tịch

phía biển trời phát tán

lửa ưu trầm trăm năm


Nguyễn Du và Long Thành Cầm Giả Ca


Tô Thẩm Huy

Không rõ Nguyễn Du có sinh ra (1765) ở đấy không, nhưng chắc chắn ông đã lớn lên ở Hà Nội, hay đúng ra phải gọi là Thăng Long, vì cái tên Hà Nội ngày ấy chưa có.  Ông hẳn rất mực yêu mến cái kinh đô cổ kính không rõ lúc bấy giờ đã mấy phố, bao phường.  Cậu ấm chiêu, con quan Tể Tướng Xuân Quận Công Nguyễn Nghiễm, em quan Tham Tụng Toản Quận Công Nguyễn Khản, lớn lên giữa lòng đô hội, lòng tràn đầy bao mộng đẹp, tâm tư nuôi bao hoài bão vung kiếm giúp đời.  Rồi đất nước ly loạn, hết nổi trôi nơi Quỳnh Côi, Thái Bình quê vợ, lại ẩn thân về nguyên quán ở Tiên Điền, Hà Tĩnh, ông ngày ngày ngao du trên rặng Hồng Lĩnh, nhìn tóc mình ngày mỗi bạc mà ngậm ngùi thế sự.  Khi Gia Long lên ngôi, ông được vời ra Phú Xuân làm quan, nhưng lòng những chán chường, chỉ muốn lui về ẩn dật.

Năm 1813, Gia Long cử ông làm chánh sứ, đại diện nước Nam sang Trung Hoa.  Trên đường từ Huế sang Bắc Kinh, lần đầu tiên sau mấy mươi năm xa cách mới có dịp về lại Thăng Long, lòng ông hẳn dạt dào bao nỗi niềm xao xuyến.  Từ xa, ta đã nghe tiếng ông reo mừng:  Kìa là rặng Tản Viên, nọ là giòng Lô Giang, ta sắp gặp lại Thăng Long rồi. Nhưng bước chân vào đến năm cửa ô thì than ôi, cảnh đấy người đây luống đoạn trường. Đọc lại hai bài Thăng Long ông viết vào thời kỳ này lại càng thấy nỗi lòng chua xót của ông:

Tản Lĩnh Lô Giang tuế tuế đồng

Bạch đầu do đắc kiến Thăng Long

Thiên niên cự thất thành quan đạo

Nhất phiến tân thành một cố cung

Tương thức mỹ nhân khan bão tử

Đồng du hiệp thiếu tẫn thành ông

Quan tâm nhất dạ khổ vô thuỵ

Đoản địch thanh thanh minh nguyệt trung

Cổ thời minh nguyệt chiếu tân thành

Do thị Thăng Long cựu đế kinh

Cù hạng tứ khai mê cựu tích

Quản huyền nhất biến tạp tân thanh

Thiên niên phú quý cung tranh đoạt

Tảo tuế thân bằng bán tử sinh

Thế sự phù trầm hưu than tức

Tư gia đầu bạch diệc tinh tinh

Vị vua Thế Tổ triều Nguyễn muốn xoá hết dấu tích nhà Lê, đã san bằng thành xưa quách cũ.  Đâu là điện Trung Hoà Đại Nội ?  Đâu là ngõ cũ nơi ông vẫn chơi đùa cùng bè bạn hiệp thiếu, mỹ nhân ?  Đâu là dinh cơ, nhà cửa xây từ nghìn năm trước?  Những thiên niên cự thất nay đã thành quan đạo, những cố cung, cựu tích nay đã bị vùi mất dưới bức tân thành. Cả âm nhạc ngày xưa nay cũng biến đâu mất.  Nằm thao thức giữa lòng kinh đô cũ, ông trằn trọc không sao ngủ, đã khổ vô thuỵ, lại nghe tiếng sáo, nhạc điệu gì xa lạ, trõi cả tai.  Quản huyền nhất biến tạp tân thanh.  Sáo đâu, giây đâu mà tiếng nghe nhốn nháo thế này ?  Chả trách sao lúc ngồi trên chiếu tiệc giữa Thăng Long, nghe lại tiếng đàn người ca kỹ năm xưa, nghe lại giòng nhạc vàng của cung điện Đại Nội Nhà Lê, ông đã xúc động viết “Long Thành Cầm Giả Ca”, Bài Cho Người Gẩy Đàn Thành Thăng Long, mà ngậm ngùi thương xót cho thân phận người ca kỹ lạc loài giữa ba đào, dâu bể.  Hay thật ra ông chỉ mượn hình ảnh người gảy đàn để khóc thương cho bóng ma của một trời hội cũ ?  Nhiều người đã thêu dệt nên mối tình lãng mạn thời trai trẻ giữa Nguyễn Du và người cầm giả ấy.  Thậm chí lại còn trách ông sao lại vì muốn giữ thể diện chánh sứ mà tránh không nhìn mặt người xưa.  Song nhãn trừng trừng không tưởng tượng, Khả liên đối diện bất tương tri.  Tôi không tin là thế.  Tôi không tin là đã có gì giữa họ.  Ai đời nào lại nói về người tình xưa của mình là trán dô, mặt gẫy. Nàng không phải là người tình cũ, cũng không phải chỉ là một người cầm giả đơn thuần, mà chính là biểu tượng của Hà Thành đài các, của mày thanh má thắm, lụa biếc xiêm hồng, của cả một nếp sống thanh lịch ngàn năm xưa nay đã bị dập vùi, tan biến.  Tâm sự Nguyễn Du lúc bấy giờ  ngổn ngang trăm mối, đâu riêng gì chỉ một hồng nhan, mà là cả mùa hội cũ của một thời hùng tâm tráng chí nay đã tàn lụn: Tằng Lăng trường kiếm ỷ thiên thanh tự bao giờ đã thành Liêu lạc tráng tâm hư đoản kiếm. Cây kiếm dài ngày xưa ngạo nghễ tựa lưng vào trời xanh, tự bao giờ đã biến thành cây kiếm cụt vô tích sự ?  Văn tự hà tằng vi ngã dụng ? Chữ nghĩa ích gì cho buổi ấy, hay càng làm mộng thêm đau xót, làm bể dâu thêm thắt ruột chia bào ?  Song nhãn trừng trừng không tưởng tượng, Khả liên đối diện bất tương tri.  Mở trừng hai mắt mà chỉ thấy trống không những mông lung mộng tưởng.  Ngồi đây giữa Thăng Long mà nào có thấy Thăng Long !  Ngồi đây giữa Thăng Long mà nào Thăng Long có thấu cho lòng ta !  Chao ôi, làm người thật chẳng khó lắm sao !

Houston, tháng 2, 2009

Tô Thẩm Huy

NGÕ TRÁI TIM

QUỲNH THI

Em ở đâu về

Thu viễn xứ

nghe kiếp xưa gặp lại

ánh hoàng hôn  đuổi dấu chim bay

ở  đuôi mắt tháng giêng tuổi dại

vọng rất gần từ cửa ngõ trái tim

Em như  giải xanh mây về báo nắng

gục vai anh thở ấm run mê

cõi dương gian

xưa nay đâu có gì bất diệt

để ai hờn ai giận vì yêu

Đêm xuống thấp

ngõ  nhà anh hương dạ lan thoang thoảng

thơm ngọt ngào

gió  cứ vội bay xa

vừa lúc nãy hôn em

nghe đất trời thiệt lạ

tình nồng nàn vườn xanh mãi kiêu sa

đừng bay vội

tóc rủ  thơm ngây ngất

đừng nhắc chi

cho mắt  đỡ u phiền

này em ạ

đừng để đau

như  dòng sông đứt khúc

mặc kệ  đời

đời mãi vậy mà thôi

*

Em ở đâu về

Thu viễn xứ

dựa vai anh thầm thì yêu dấu

miệng ngọt ngào

dâu bể  cũng phôi pha

cửa thiên  đàng lộng gió chẳng còn xa

đường thánh giá khổ đau thành hạnh phúc

Không là  nữ tu

tay chấp dài khổ hạnh

tội một  đời hệ lụy ai đong

Hỡi em yêu

anh là ai

làm sao em hiểu  được

cái gã  khờ trước tu không trọn kiếp

đẩy xuống trần làm thi sĩ của em

lúc trái  đất  em

nguội lạnh như  ngày cùng tận

Anh có  gì hay ho đâu

mà  yêu anh hả nhỏ

chảy nỗi buồn man dại khổ vì yêu

sao trời mưa

ướt dầm đêm tàn bạo

để tơ vương gieo rắc giáo đường

Anh gục xuống

những vần thơ  tức tưởi

trách muộn màng

nghiệp chướng trần gian

*

Em ở đâu về

Thu viễn xứ

như  kiếp xưa gặp lại

Ngày xưa em là  hoa

trong vườn buồn cổ tích

hoa bây giờ

xin kết trái cho anh ./

QUỲNH THI

Chùm thơ Phạm Tấn Dũng

NỖI NIỀM CÂU NHÍ  (*)

Lạnh buốt những cơn mưa đông phả vào da thịt em

tóc tre che không đủ sưởi

mà lòng em thì ấm

người ta đào được em

từ thủơ lấm lem bùn đất

Dịu mát từ em phả vào anh

những ngày xưa xa

lưng quần anh còn cột bằng dây chuối

dịu mát hồn anh

từ những cơn say

đi

về

trăng khuya

tiếng ghe máy sập sình

đêm thấy mình trôi trên em

như thác đổ

Nóng rực từ anh rọi vào em

em ngập tràn anh

ngày cơ thể em nhiễm mặn

ngày anh vắng em đau nhói

Nắng đã chiếu vào em

hoàng hôn nào vây phủ em

cát lấp tràn mắt môi em

đâu đây

dường nghe

tiếng

thuỷ tinh vỡ.

P.T.D

——————————————————-

(*) Sông đào thời Nguyễn c (nay là sông Vĩnh Điện)

Nghịch sông

Nhiều năm sau

Nhưng chỉ một chiều

Trên đôi cánh tay hiện rõ những dòng từ sông lớn

Căng phồng và chảy ngược

Những dòng sông nóng

Chở theo tóc râu sương sớm trên dốc nắng

Chở niềm xanh thả rớt dọc đường

Chở tiếng hát thôi nôi buổi sáng

Thả vào

Gương sen buổi chiều

Những dòng sông rần rật hát giữa lời câm

Rần rật khóc khuya

Rần rật những mạch ngầm âm ỉ đi trong mình

Nhưng không thấy mình

Những dòng sông bây giờ quấn chặt hơi thở

Phả vào mưa!

Chiều nay…

Đôi cánh tay ghì ôm

Những dòng sông chảy ngược

Du du

dẫn dẫn

trong anh!…

P.T.D

CẢM GIÁC   (tặng nhà văn Lê Trâm)

Có con chim mùa xuân bay trên làng bản

Đang nghĩ xem nên ngơi nghỉ ở đâu

Dù so sánh với khoảng trời nào đi nữa

Cũng chỉ là mãnh đất xới lại cày đi

Và đôi cánh

Đậu trên những căn nhà đất đen màu trắng .

Có con chim trên mỗi bước đi

Đều gặp lại mình

Gặp thời thơ ấu ,gặp những mùa xuân

Gặp những cơn mưa,đường mòn ,đá sỏi;bông hoa và lá rụng

Cởi áo quần ngâm mình dưới dòng thác trắng

Dòng nước nhảy nhót từ vách đá

Tung bọt rồi tụ lại thành dòng

Đập vào vai ,vào tay ,vào đầu ,vào ngực

Con chim hót thiên trường ca

Về tình yêu chưa viết xong

Về những bài hát ru

Cho những đứa trẻ thiếp dần trong tiếng hát vụng về

Cho những người già tóc xanh

Cho những gã đàn ông tóc râu

Bỗng dưng thành đạo mạo

Cho những thiếu phụ tóc tơ thành mây trắng

Có con chim săn đuổi các dự định

Có cảm giác của một người thợ săn,người đi câu,người kỵ sĩ

Có cảm giác là con hươu,con cá hồi ,con ngựa

Và ngược lại những dự định

Cảm xúc đi tìm mình,túm lấy mình,cưỡi lên , điều khiển

Ể oải lấy cây đàn treo trên tường

Thử xem dây còn đúng không

Bỗng hát bài hát vang lên trong đầu

Từ tiếng đàn rời rạc

Nghe thấy âm điệu dịu dàng,du dương

Và chính mình cất lên tiếng hát

Khi chợt nhớ

Đêm qua

Bình minh đã tới  ./.

PHÍA LỤC BÁT XUÂN

Bỏ nghiêng

Phố Thị

chiều nay

Bên hiên Chùa cũ

gỡ trầy

nắng  Xuân

lưng trời chỉ rối

bâng  khuâng

Sợi đan phía núi

sợi rưng rưng

chiều

Em ngang

Lót gót

nhiễu điều

Nghiêng vai

Tôi

Cõng nắng chiều

Xuân xưa

Dường như

Còn

Xót

giọt mưa

Bóng tôi

vừa

động

nhành thưa

mai vàng .

Hai bài thơ mới của Huỳnh Minh Tâm ( Đại Lộc- Quảng Nam )

SƯƠNG BAY Ô CỬA

đã quá lâu rồi
những chuyến tàu vội vã rời ga
ánh mắt sương bay qua ô cửa

hoa còn nở trong đôi bàn tay em ?
nước còn thơm trên mái tóc em ?

đã quá lâu rồi
người với bóng trăng đầu sóng
trăng tăm tối ngủ quên hiên hẹp
nhạc reo dêm khuya thức giấc

thư không còn xanh trong màu mực
tuổi mười ba
em chạy trên đường leng keng chuông cỏ
tiếng dế đầu bờ

bỗng chốc thương về thơ dị dị
ông bị cười trăng mẹ ấm
viên kẹo nõn trời cao.

GIÓ SƯƠNG MẤY CHỐC

thuở tôi mười bốn tuổi
lai láng máu giang hồ
sống đầu đường xó chợ
cuộc đời như cát bụi cỏ cây

năm tư tuổi gốc tre già
cuộc đời trông thật nực cười

máu giang hồ đổ ao đổ biển
đâu rần rần đêm mắc lưới
dưới gầm cầu đầu bến bãi

cuộc đời trông thật nực cười
mà tiếng cười như ngậm rượu

mười năm nữa gió sương mấy chốc
nhờ trời sức khoẻ dồi dào
sáng ngắm mây chiều ngắm núi
thật nực cười lắm lắm hay sao ?
Huỳnh Minh Tâm

Men Da của Huỳnh Lê Nhật Tấn

Men Da
Tác phẩm thơ Huỳnh Lê Nhật Tấn
Da Vàng xuất bản lần thứ nhất 49 bản tại Đà Nẵng,
photocopy khổ 13 x 20 cm. In xong lưu nộp cho gia
đình & gửi tặng thân hữu 05/2009.
nhà xuất bản Da Vàng
liên lạc: huynhlenhattan@gmail.com
Chịu trách nhiệm xuất bản: Huỳnh Lê Nhật Tấn
Trình bày: Bùi Bố
Bìa: Tom Ager
© 2009, Huỳnh Lê Nhật Tấn

Điệu rơi

Những chiếc mặt hóa trang lộng lẫy

Rụng vờn

Mắt mơ hương hoa

Nghĩa là thân nét tôi đang trôi

Rong rã đến một ngày phải dừng

Thở hấp vào lòng mẹ

Úp mặt vào bào thai

Tôi khóc thuộc phía chân trời mơ mộng

Xanh mùa vội tan

Ô hò tiếng đổ bóng khuôn mặt già nua

In lại bóng thân hình mình

Im-nằm lắng và bỗng chót lao vút về vùng

nắng

ngời

Tung tăng điệu kinh cầu mặt trời sẽ thức

Phiêu du buồn chen vào tường khói ám

Những gương mặt tôi yêu

Nhập hồn vào lá thuyền

Trôi…

Trôi nét mặt quay vòng

Rơi cả tôi dạo vào những khoảng không gian

Yêu đương

Trong sắc thái mắt say vô hình

Tôi yêu những vàng vọt hong khô

Và vạn mặt đang hiện hữu trần đời

Khỏa dáng

Múa khúc nhạc

Đổi mùa

Mọc lên phố cây mưa

Tôi muốn nói vạn vật đều rơi

Mặt trời

M…

Mọc từ bàn tay in vệt đất

Màu nói đã khoáy động ly rượu

Đỏ vờ vẫn trên môi em

Má hông ứng điều gì che dấu

Em?

Khước từ em

Mọc sau mái tóc và bên hông em

Sợi dây điện mạch chữ

Chạm vào nhau hôn mê

Khước từ chút men này

Mọc trong tôi con đường màu xanh lam

Cô tịch hàng cây cổ thấp dáng cơn mê

Tôi đi thẳng theo tia chói lòa

Khước từ chiếc ghế mây

Mọc bên em thiếu nữ tôi nhìn

Say sưa

Riêng thời gian là nỗi lo tiếng vỗ về

Của chân cao mọc từ bể trong

Mọc mọi bề không toan tính

Những nỗi sầu em sâu ta bằng sợi chỉ trắng

Khát vọng bên mặt trời

Em thêu thuần trong lời

Nói rang

Mọc trong vào

Quả nảo có khe hở hang đọng

Đập vỡ khuôn mặt em.

Tôi xin được mọc từ khoảng trống vùng lên

Thôi chữ xin

Khước từ đêm gặp gỡ.

Vọng đèo

Ngôi yên vị nghe tiếng khóc từ phía xa

Gẩy khúc nhạc rừng núi nghiêng cao chót vót

Leo đeo cuống quầy lối đi

Liếm mặt đường dài quanh co.

Tôi leo lên

Thấp xuống

Vận tốc làm tôi tái tê âm hồn của chiếc bóng

Buột lộ trình ngã người không ai trở về

Cua, núp bóng chiếc đen kinh hoàng

Lượn đổ cơn dốc tròn tia chớp của hơi thở cuối

Hấp nhả nỗi buồn

Đèo đeo lời phát cháy phía chân đèo cao

Dò đôi cánh tay ê chề

Trong cơn vang sâu rơi cỏi thiên

Hồn bay vịn hãi hùng ra Hải Vân ngàn hơi thở

ngưng

A…a

Đỉnh núi cao kia?

Những nẻo cao rú lên tiếng còi xe cúi mặt

Định mệnh kết cuộc im

Tôi giác cảm lòng người với bao đôi mắt trắng

phờ phạc

Hát đi tiếng khóc cuối cùng

Biển xanh mặn mà cát trắng vòng hội ngộ

Những âm hôn người dần chảy tan dưới chân

đèo

Tâm hương vỗ lìa bóng khuất

Thời gian vô định bên tiếng vọng đèo cao

Đèo mây phủ bay bão bùng lo sợ

Khẩn cầu cho yên phận đỏ đen

Một con đường xuyên qua vách núi

Vạt về dòng nước trần gian

Còi xe tan

Đêm ánh lung linh sắc màu va chạm

Bay qua tâm tịnh đi qua.

THÁNH ĐỊA MỸ SƠN

LÊ THU THÙY


Có được một đêm ngắm trăng ở Mỹ Sơn, du khách sẽ cảm nhận được cái hơi lạnh của lũng sâu, khói núi, ngàn cây. Ngay đến du khách cũng trở nên huyền ảo khi chiêm bái tượng thần Siva, nữ thần Bhavagati cùng tượng các thần linh, những ngọn tháp lộng lẫy, uy nghi nhưng đầy kì bí cứ nhấp nhô, lung linh. Đó cũng là dịp để du khách thưởng thức tiếng kèn saranai do các nghệ nhân dân gian biểu diễn, hòa cùng tiếng kèn là tiếng trống baranưng âm vang lay động từng vách đá, khe núi. Ngọn núi Hòn Đền âm u càng trầm mặc hơn dưới bóng thời gian.

Khu đền tháp Mỹ Sơn nằm trong một thung lũng kín đáo, giữa những khu rừng
thuộc xã Duy Phú – huyện Duy Xuyên, cách thành phố Hội An 45km về phía Tây, cách thành phố Đà Nẵng 70km về phía Tây Nam, cách Thị trấn Nam Phước (quốc lộ 1A) khoảng 30km về phía tây.

Từ thời xưa, Mỹ Sơn là Thánh địa của vương quốc Champà, đây cũng là nơi đạo Bà La môn được du nhập và truyền bá rộng rãi, là địa điểm hành hương thiêng liêng của hàng chục triều đại và hàng triệu con người. Champà là vương quốc cổ, ngày nay còn sót lại nhiều di tích nằm rải rác dọc miền Trung. Đây là đất mẹ của nhiều vị vua hùng cường trong lịch sử Champà như Khu Liên, Phạm Dật, Chế Mân,… Champà cũng như một số quốc gia ở Đông Nam Á thơi cổ và trung đại đều bị Ấn Độ hóa. Bà La môn là tôn giáo của hòang gia, và tầng lớp quý tộc là những người có trọng trách xây dựng và bảo vệ đền tháp thờ cúng thần linh. Tín ngưỡng chính của vương triều Champà là thờ tự thần – vua và các thần linh bảo hộ vương quốc cũng như vương quyền. Vương quốc Champà kéo dài suốt dải đất miền Trung, từ Quảng Bình đến Bình Thuận. Trong đó, vùng đất Quảng Nam với tên gọi xưa là Amaravati, được các văn bia cổ nhắc đến như là trung tâm của vương quốc Champà trong một giai đoạn khá dài. Do ảnh hưởng của nền văn minh Ấn Độ rất sớm, vương quốc Champà sử dụng thể chế hành chính giống như Ấn độ, nghĩa là trong một vương quốc có nhiều tiểu vương quốc gọi là manđala. Các tu sĩ Bà La Môn từng đi khắp đó đây giảng đạo, cầu nguyện, tham thiền. Họ đã để lại những dấu vết đã tàn phai ở các đền tháp và những tác phẩm điêu khắc, được tìm thấy từ các nơi thờ phụng vua chúa, đền đài, thành quách và nhất là kinh đô của các tiểu vương quốc. Những địa điểm quan trọng nhất liên quan đến tín ngưỡng Champà ấy là Thánh đia Mỹ Sơn (Quảng Nam) và Thánh đô Pô-Nagar (Khánh Hòa). Hai nơi này một là nơi thờ phụng Bhadravarman, vị vua đã sáng lập dòng vua đầu tiên của vùng Amaravati vào cuối thế kỷ  kết hợp với thờ phụng thần Siva, trở thành tín ngưỡng chính thờ thần – vua và tổ tiên hoàng tộc và nơi khác thờ Thần – Mẹ chính là nữ thần Bhavagati (Thiên Y-A-Na) người tạo dựng vương quốc Chapà Pô-Nagar Nha Trang.

Theo các thư tịch cổ thì Mỹ Sơn được xây dựng từ cuối thế kỉ thứ IV, dưới triều vua Bhadravarman. Những dòng chữ ghi trên tấm bia sớm nhất ở Mỹ Sơn, cho biết vua Bhadresvara đã xây dựng một ngôi đền để dâng cúng vua thần Siva- Bhadravarman. Hơn hai thế kỷ sau đó, ngôi đền đầu tiên được xây dựng bằng gỗ đã bị thiêu huỷ trong một trận hỏa hoạn lớn.
Vào đầu thế kỷ thứ 7, vua Sambhuvarman đã xây dựng lại ngôi đền bằng những vật liệu bền vững hơn, còn tồn tại đến ngày nay. Các triều vua sau đó đều tu sửa các đền tháp cũ và xây dựng đền tháp mới để dâng lên các vị thần của họ. Đức vua Pramesvaraman cuối thế XIII là người cuối cùng trùng tu và xây dựng Mỹ Sơn. Ngòai ra hai vị vua: Harivarman (1074) và Jaya Harivarman (1157) cũng có công trùng tu và xây dựng lại thánh địa Mỹ Sơn, các vị vua này đều được thờ cúng tại đây. Với hơn 70 công trình kiến trúc bằng gạch đá, được xây dựng từ thế kỷ thứ 4 đến thế kỷ 13, Mỹ Sơn trở thành trung tâm kiến trúc quan trọng nhất của Vương quốc Champà.

Mỗi thời kỳ lịch sử, các công trình kiến trúc mang phong cách riêng, cũng như mỗi đền tháp thờ những vị thần, những triều vua khác nhau tạo nên đường nét kiến trúc đầy dấu ấn, nhưng nhìn chung hầu hết các tháp Chàm đều được xây dựng trên một mặt bằng tứ giác, chia làm 3 phần: Ðế tháp biểu hiện thế giới trần gian, vững chắc. Thân tháp tượng hình của thế giới thần linh, kỳ bí mê hoặc. Phần trên cùng là hình người dâng hoa trái theo nghi lễ hoặc hình cây lá, chim muông, voi, sư tử… động vật gần gũi với tôn giáo và cuộc sống con người. Thánh địa Mỹ Sơn tiêu biểu cho nền văn minh Champà thời phát triển rực rỡ tồn tại trên hàng chục thế kỉ. Mặc dù thời gian cùng chiến tranh đã biến nhiều khu tháp thành phế tích nhưng những hiện vật điêu khắc, các công trình kiến trúc còn sót lại cho đến ngày nay vẫn còn để lại những phong cách thể hiện từng giai đoạn lịch sử của nền mỹ thuật dân tộc Champà, những kiệt tác đánh dấu một thời huy hoàng của văn hoá Chàmpa.

Vào năm 1898, di tích Mỹ Sơn được phát hiện bởi một học giả người Pháp tên là M.C Paris. Vào những năm đầu thế kỷ 20 này, 2 nhà nghiên cứu của Viễn Đông người Pháp là L.Finot và L.de Lajonquière và nhà kiến trúc sư kiêm khảo cổ học H. Parmentier đã đến Mỹ Sơn để nghiên cứu văn bia và nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc Chăm. Cho đến những năm 1903-1904 những tài liệu cơ bản nhất về bia ký và nghệ thuật kiến trúc Mỹ Sơn đã được L.Finot chính thức công bố. Từ năm 1981 đến 1991, Mỹ Sơn được bảo quản và tu sửa từng phần với sự giúp đỡ về chuyên môn của công ty P.K.Z (Ba Lan).

Đặc biệt ngày nay kỹ thuật kết dính vật liệu không có mạch hồ trong việc xây dựng đền tháp ở Mỹ Sơn vốn là một bí ẩn luôn kích thích sự tìm tòi, nghiên cứu đã bước đầu được khám phá. Các nhà khoa học đã áp dụng kỹ thuật này trong quá trình trùng tu, tôn tạo các khu đền tháp.

Tháng 12 năm 1999 khu đền tháp Mỹ Sơn đã được UNESCO tôn vinh di sản văn hóa thế giới. Cũng từ ngày ấy nó được trả về tên tuổi buổi hòang kim THÁNH ĐỊA MỸ SƠN. Mỗi ngày, Mỹ Sơn đón hàng trăm du khách, hơn 90% trong số ấy là người nước ngòai đến tham quan du lịch, nghiên cứu và khám phá.

Hạc Vàng Khuất Bóng

Tô Thẩm Huy

Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy.  Tôi học với Giáo Sư Nguyễn Đức Hiển cách đây đã mấy mươi năm.  Không học dưới mái trường mà học trên sân nhà ông.  Không học ở Sài Gòn mà học ở Houston.  Không học văn chương mà học võ thuật.  Trong hơn hai mươi năm quen ông tôi cũng không biết là ông đã từng dậy Việt văn tại ngôi trường mà mình đã chạy nhẩy suốt bẩy năm trung học.  Cho đến ngày ông mất.

Tôi quen ông qua người anh cả trong gia đình.  Dạo mới sang Mỹ, ông và người anh tôi định cư tại Pine Bluff, một tỉnh nhỏ kế cận thủ đô Little Rock của Arkansas, rồi rủ nhau  dọn về Houston đầu thập niên 80.  Tôi bắt đầu quen ông từ đấy.  Ông dáng người quắc thước, không vạm vỡ nhưng rắn rỏi.  Cái rắn rỏi của một võ sĩ Đại Hàn.  Cằm vuông, vầng trán cao, đôi mắt sáng, nửa như khiêu khích soi mói, nửa như ân cần thăm hỏi.  Ở ông toát ra cái vẻ vừa nhanh nhẹn lại vừa ung dung, cái ung dung từ tốn của một con cọp đang nằm phơi nắng, vừa rêu phong như những nhân vật xa xưa của Vũ Khắc Khoan, của Nguyễn Tuân, lại vừa quen thuộc như người hàng xóm thân tình kế bên.  Những nét trái ngược ấy đã tìm được cách hài hoà chung sống nơi con người ông.  Và nơi tranh vẽ của ông.  Tranh ông đầy những mầu sắc thuỷ mặc, mềm mại của hội hoạ Trung Hoa, pha trộn với những đường nét mạnh mẽ, góc cạnh của hội hoạ Nhật Bản.  Dạo ấy, hai mươi mấy năm trước, tôi nhìn ông như một người tài hoa, đởm lược, đã từng lang bạt kỳ hồ sang Lào, sang Tân Gia Ba, làm việc cho Sứ quán Viêt Nam, thu nhặt những nét đẹp tinh hoa của Đông Á.  Yêu cây kiểng, say mê đồ cổ, tinh thông chữ Hán, giỏi thập bát ban võ nghệ.  Nhưng tôi đã không nhìn thấy ở ông một tâm hồn thi sĩ.  Người ta quả có thể đối diện mà không tương phùng.  Tôi vốn say mê Đường thi từ những ngày còn trẻ.  Ông lại là người yêu mến cổ văn, từng học Văn Khoa ở Hà Nội.  Thế mà trong bao lần gặp gỡ, chẳng bao giờ ông và tôi nói chuyện văn chương với nhau.  Gặp nhau, chúng tôi nói chuyện về cách thức nấu phở, ông nấu phở cho tôi ăn, phở ông ngon lắm, đậm đà mà thanh tao, nói chuyện về nghệ thuật ăn uống, về hội hoạ, về võ thuật, nhưng không một lần đả động đến văn chương.  Thế mới lạ.  Nhưng không phải vì thế mà không có chuyện.

Số là bẵng đi một thời gian khá lâu không liên lạc, thì cách đây vài năm tôi được một người bạn tặng một tập sách do ông biên soạn, tập Vang Bóng Hạc Vàng, viết về bài thơ Hoàng Hạc Lâu nổi tiếng của Thôi Hiệu và những giai thoại, những bản dịch khác nhau, của ông và của nhiều người khác.  Riêng của ông thì đến những mười mấy bản.  Bài thơ này thì không ai đọc Đường thi mà không biết.  Và cũng không biết bao nhiêu người đã say mê dịch nó sang tiếng Việt.  Trong số những người ấy có Vũ Hoàng Chương.  Đầu năm 1970, trên tờ Văn Học ở Sài Gòn ngày trước, nhân dịp giỗ thi sĩ Tản Đà lần thứ 31, Vũ Hoàng Chương đã nhắc đến và lên tiếng ca ngợi bản dịch của hai người (1).  Một của nhà nho Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục, một của Tản Đà.  Mỗi người một vẻ.  Bản dịch của Tùng Vân thì ít được phổ biến, dù đã đăng trên Nam Phong tạp chí vào thập niên 20.  Có lẽ vì nó đọc lên nghe trúc trắc, không xuôi tai.  Nhưng, như Vũ Hoàng Chương đã chỉ ra cho chúng ta thấy, bản dịch ấy rất công phu, rất già tay.  Công phu ở chỗ nó đã theo sát nhạc điệu của nguyên tác.  Sát cả ở những chỗ sai niêm thất luật.  Bản dịch của Tản Đà thì trái lại, rất bay bướm nhẹ nhàng.  Nó du dương trầm bổng trong cung điệu lục bát.  Bản dịch ấy ắt phải hay lắm, vì đến nay, 70 năm sau, vẫn còn rất nhiều người biết đến và ưa thích.  Nó đã vượt qua được sự thử thách của thời gian.  Nhưng theo tôi, cái hay ấy nó ’Tản Đà’ quá, nó ngọt ngào, hiền lành quá.  Cái không khí mang mang day dứt, nỗi bơ vơ hiu quạnh của thân phận con người lạc lõng giữa trần gian trong một chiều nắng tắt,  mà thiên đường thì đã mù mịt lối về, cái không khí ấy đã bị dịch giả thuần hoá, trở nên nhu mì mềm mại, nhẹ nhàng trôi chẩy trong giòng ca dao.  Cái hay của Tản Đà là ở chỗ ấy.  Nó dễ đến với người Việt vì lẽ ấy.  Nhưng đó, theo cái thiên kiến lệch lạc của riêng tôi, cũng là chỗ hụt hẫng của ông khi dịch Hoàng Hạc Lâu.

Ít lâu sau biến cố 1975, giới yêu thơ ở hải ngoại bỗng nhận được từ trong nước bản dịch Hoàng Hạc Lâu của Vũ Hoàng Chương.  Nghe nói là những dòng chữ cuối cùng của một đời tận tuỵ với chữ nghĩa, gọt dũa nhiều năm đến lúc lìa trần mới hoàn tất.  Tôi đã đọc bản dịch của Vũ Hoàng Chương một cách say đắm.  Nó còn hay hơn cả nguyên tác.  Mà nguyên tác thì đã hay tót vời.  Cái mà Thôi Hiệu phải vận dụng hết mười thành công lực, phá vỡ luật thơ thất ngôn, sử dụng 6 thanh trắc liên tiếp mới nói được:

Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản

Bạch vân thiên tải không du du

đến độ hùng tâm dũng khí như Lý Bạch, đọc xong, tay vung quyền, chân tung cước, vẫn phải gác bút chịu thua, cúi đầu ra đi (2), thì Vũ Hoàng Chương vẫn ung dung rút kiếm giữa trời thơ, phóng con mắt nghìn đời dõi theo đôi cánh hạc đã mù khơi bay mất mà thong thả dẫn dắt nó quay về trong cung bậc thất ngôn niêm luật.  Hai câu thực trong bản dịch của Vũ Quân bay bổng giữa trời thơ ảo diệu:

Vàng tung cánh hạc đi đi mất

Trắng một mầu mây vạn vạn đời

Bạn thấy gì không?  Một mầu vàng loé lên giữa trời rồi vụt tắt, một mầu vàng tung lên rồi vĩnh viễn ra đi không bao giờ trở lại, nhưng mãi mãi lấp lánh trong tâm tưởng và trên thân phận con người.  Còn lại gì chăng, ngoài một cõi thiên thu vàng ngợp đến bất tận!  Đọc đến câu cuối:  Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi, cả một trời Đường thi bỗng lay động.  Thôi Hiệu giá có đọc được câu ấy, nội chỉ một câu ấy thôi, cũng phải ngả nón cúi đầu khâm phục.  Nó nói được điều Thôi Hiệu muốn nói, bằng một cách khác hẳn, một cách rất tài hoa riêng biệt, như một lời ngậm ngùi năn nỉ với hư không:  Sóng ơi, sầu đã chín, xin người thôi giục.  Sóng gì ? Sóng nước ? Hay những lớp sóng của bể dâu hưng phế ?  Ai muốn thấy sự khác biệt tinh tế giữa hai dòng ngôn ngữ Hán, Việt xin cứ thư thả đọc lại hai câu:  Yên ba giang thượng sử nhân sầu … Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi, ắt sẽ rõ. Hoặc giả muốn biết nội công thượng thừa của Vũ Quân thâm hậu đến đâu, xin nhẩn nha ngoảnh lại, thử bầy một cuộc đổi dời di dịch, đọc lại một lần nữa câu vàng tung cánh hạc đi đi mất, nhưng lần này hoán đổi chữ hạc lên đầu câu, hạc vàng tung cánh đi đi mất. Bạn thấy gì không? Cũng bẩy chữ ấy, nhưng lần này, khi chỉ đem chữ hạc lên đầu câu, thì cả một trời thơ đang lung linh sáng bỗng tối sầm lại.  Tô mì Hải Ký đang bốc hương ngào ngạt bỗng lặng lẽ trở thành tô mì gói.  Mì gói một tô cũng thú vị lắm, nhưng chao ôi, tô mì Hải Ký …  Và tôi đã tự nhủ: không ai sau Vũ Hoàng Chương nên ‘dại dột’ dịch Hoàng Hạc Lâu nữa.  Đến Vũ Hoàng Chương thì Hoàng Hạc Lâu đã dịch xong rồi.  Tôi vẫn nghĩ thế.  Cho nên lúc đọc tập Vang Bóng Hạc Vàng của GS Nguyễn Đức Hiển với mười mấy bản dịch khác nhau của ông, tôi đã thầm có ý ‘chống đối’.  Tôi đã đọc mười tám bản dịch của ông bằng con mắt không ‘hạnh phúc’.  Và tôi đã thầm ‘trách’ ông:  Sao lại đi dịch Hoàng Hạc Lâu!

Sau đó ít lâu tôi được anh tôi báo tin ông đã mất.  Rồi các cựu học sinh Võ Trường Toản liên lạc rủ nhau đi dự đám tang GS Nguyễn Đức Hiển.  Lúc ấy tôi mới biết là ông đã từng dậy Việt văn tại trường trung học của mình ngày xưa.  Hôm đưa đám ông tôi lại có việc phải đi xa.  Lại không được nhìn mặt ông lần cuối.  Sau đó, tôi tìm đọc các tác phẩm khác của ông, tập Cổ Thi Nhàn Dịch và tập Trời Sau Nhật Thực.  Lúc ấy tôi mới khám phá ra rằng không những ở cái thú ăn uống, nấu nướng, mà còn ở thi ca, ông và tôi có nhiều say mê giống nhau.  Nhiều bài trong tập Nhàn Dịch của ông tôi cũng đã dịch.  Tôi đã đọc và dịch Đường thi như một niềm hạnh phúc cô độc.  Một mình.  Một mình với người xưa.  Rồi một hôm nọ, tôi bỗng lại bắt gặp chính mình đang ‘dại dột’ ngồi dịch Hoàng Hạc Lâu, như là một ai khác chứ không phải tôi, đang lịch kịch gõ tới gõ lui hình ảnh một cánh hạc rực vàng trong nắng chiều chực tắt, tung cánh bay mất về phương trời vô hạn.  Ngay lúc ấy, tôi thấy khuôn mặt ông hiện ra từ đằng xa nhìn tôi mỉm cười.  Vẫn đôi mắt ấy, nửa như ân cần thăm hỏi, nửa như dịu dàng khiêu khích:  Sao, có còn thầm trách nữa không ? Tôi lên giường nằm, tắt đèn nhắm mắt.  Khuôn mặt ông thấp thoáng chập chờn trong giấc ngủ.  Những câu chuyện trong tập Vang Bóng Hạc Vàng của ông bay lượn trong giấc mộng.  Đêm hôm đó tôi hiểu hơn bao giờ, rằng người ta đôi khi viết như để trò chuyện với một nỗi ám ảnh, như để đùa dỡn với chính mình, như để chẳng làm gì hết.  Viết để viết ra.  Thế thôi.  Hay hay dở cũng chẳng để làm gì hết.  Cứ chịu chơi hết mình một cuộc rồi thì đâu sẽ ra đấy.  Hay hay dở là ở chỗ chịu chơi hết mình hay không hết.  Mọi điều còn lại đều vô nghĩa.  Giữa những người chung một cuộc chơi có một sự cảm thông kỳ bí không nói ra được bằng lời.  Liền cả tháng sau đó, đêm nào tôi cũng dịch tới dịch lui bài Hoàng Hạc Lâu, như là một cách trò chuyện với ông, với một nỗi ám ảnh.  Dịch đến mấy mươi bản khác nhau mà vẫn cứ loay hoay dịch.  Hoàng hạc Lâu chỉ là một cái cớ.  Hoàng hạc Lâu có thể là bài thơ hay nhất Đường thi nhưng điều ấy không quan trọng.  Dịch hay không dịch, hay dịch mấy mươi bản, không quan trọng.  Điều ly kỳ gay cấn là cái sự vụ dịch.  Nó biến khoảnh khắc trở thành vĩnh cửu.  Và vì thế, với người dịch, ngay trước và trong lúc cầm bút dịch, nó đã là sáng tạo, là làm hồi sinh trong hồn cái mầu xanh ban sơ bất tuyệt.  Những lúc ấy tôi không còn một mình, không còn cô độc.  Cũng người một hội một thuyền đâu xa.

Nhiều người lý luận rằng bản dịch thì không thể nào hay hơn nguyên tác, nó chỉ diễn lại cái ‘‘ ý ’’ đã có sẵn.  Những người ấy thực không hiểu gì về thơ.  Họ làm như thơ là cái gì rõ ràng minh bạch lắm, làm như trong thơ ‘‘ ý ’’ là cái gì quan trọng lắm.  Họ không hiểu được rằng cái điều được nói ra và cái điều nói ra được lại là cái điều không đáng nói.  Cách nói mới là điều làm ngậm ngùi tái tê hồn phách.  Vậy là sao?  Xin thưa ngôn ngữ vốn bất lực, cái điều nói ra được chỉ là cơn cuộc bầy ra để tìm cách nói cái điều không nói ra được.  Nói như vậy cũng không hẳn là nghe được.  Chỉ là nói vậy vậy thôi.  Chứ ngôn ngữ, cả chữ lẫn nghĩa, cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, chỉ là cái ngón tay.  Và vầng trăng cổ độ thì mãi mãi chiếu sáng trên thân phận con người.  Trước cái bờ vực thẳm mà ngôn ngữ đã phải cúi đầu hàng phục, phải đứng lại, thì thơ đã chắp cánh, đã nhắc một nhịp cầu để đáo bỉ ngạn, để có thể bước sang cảnh giới bên kia.  Muốn biết cái cảnh giới ấy thế nào thì phải dấn liều một bước mà bước bước qua thì mới có thể chết từ sơ ngộ mầu hoa trên ngàn. Còn cứ đứng tại chỗ vỗ tay khen ngợi, hay lên tiếng đổ lỗi cho nhịp cầu, thì làm sao thấy được những đoá hồng dại đang run rẩy đón chờ buổi tương phùng của một ngày đoàn viên xum họp.  Làm mới ngón tay, trau chuốt nó, là điều cần thiết.  Nhưng chao ôi, cái cách trỏ . . .

Kể ra ông đã thọ, chỉ kém vài năm thì đầy bát tuần.  Ông ra đi đột ngột, để lại bao thương tiếc cho người thân, và những bức hoạ, những vần thơ mê ảo.  Ông vừa dịch cổ thi, vừa sáng tác, bằng Việt ngữ, và bằng cả Hán ngữ.  Thơ ông vừa mới, lại vừa cổ.  Cổ như tiếng nói của con người.  Mới hơn thơ của những người đang đòi làm mới thơ.  Thơ thì bao giờ chẳng mới, thứ thơ tinh khôi đến từ đáy lòng, làm sao mà nó cũ được.  Sao người ta cứ thích tô son thoa phấn cho thơ, mà không chịu làm mới lòng mình, không chịu đưa mảnh hồn mình ra mà dấn liều tang thương một cuộc.  Thử chép ra đây mấy câu thơ của ông:

…Những vụn vặt ảnh hình

Những đê mê hồi tưởng

Ánh tóc ấy xưa dài như con suối

Dẫn lối Đào Nguyên

Huyễn tượng

Ánh mắt ấy chứa chan thần mật

Sáu nẻo mê đồ

Sắc tướng

Làn môi ấy căng lên cánh buồm phơ phất

Lưu thuỷ hành vân

Ngũ âm

Tuyệt xướng

Chữ nghĩa ông thật là say đắm mê đồ.  Ánh tóc ấy, Ánh mắt ấy…thần mật… sắc tướng.  Làn môi ấy căng lên cánh buồm…tuyệt xướng.  Hay tuyệt sướng ?  Nào ai biết…

Một chữ cũng là thầy, nửa thế võ cũng là thầy.  Lúc ông còn ở hồng trần, tôi đã được cái duyên cùng ông đối diện nhiều lần, nhưng lại chẳng được một lần tương phùng.  Nay ông như cánh hạc đã vụt bay bất phục phản, tôi lại gần gụi, thân thiết với ông hơn bao giờ.  Ngày giỗ nhì cũng sắp đến.  Xin thắp nén hương chắp tay lạy ông mấy lạy.  Một lạy để tạ lỗi đã thầm trách ông.  Một lạy nữa để cảm ơn ông đã dậy tôi đôi điều, dăm thế, lúc đương còn ở quán trọ trần gian, cũng như sau lúc đã bay về cõi trời xa tắp.

Như đôi điều tâm sự cùng người đã khuất, xin chép ra đây hai bản dịch của ông và hai bản dịch của tôi, một bản giả vờ tuân theo niêm luật, một bản noi gương cụ Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục, đi theo nguyên tác mà bước ra ngoài luật thơ.

Tô Thẩm Huy

Houston, tháng 9, 2004

Lầu Hoàng Hạc


Bài một

Hạc vàng người cưỡi biết đâu nơi

Gác hạc vàng đây đứng ngóng trời

Một phới hạc vàng không trở lại

Nghìn trùng mây trắng mãi rong chơi

Ngàn cây bến Hán còn ngơ ngác

Lớp cỏ châu Anh vẫn ngậm ngùi

Chiều xuống có quê mà chẳng ở

Để sầu khói phủ với sông trôi

Bài hai

Chuyện xưa người cưỡi lưng hoàng hạc

Bỏ mặc bên đường gác Hạc không

Một chuyến vàng bay chìm bóng hạc

Nghìn đời trắng xoá gợn mây bông

Hán Dương rờ rỡ hàng cây bến

Anh Vũ lê thê lớp cỏ đồng

Chiều xuống nơi nào quê quán nhỉ

Nhớ thương thương nhớ khói đầy sông

Nguyễn Đức Hiển

Bài một

Cưỡi hạc người xưa đã khuất vời

Trơ lầu Hoàng Hạc đứng chơi vơi

Mù tăm cánh vút, vàng bay mãi

Lờ lững mây trôi, trắng ngập trời

Xanh bóng Hán Dương sông loáng nắng

Quạnh bờ Anh Vũ cỏ im hơi

Chiều nay sương khói dâng trên sóng

Sầu thẫm hoàng hôn lạnh xứ người

Bài hai

Người xưa cưỡi hạc bay đi mất

Đây lầu Hoàng Hạc lạnh tầng không

Một đi bóng hạc vàng hun hút

Muôn thuở mầu mây trắng chập chùng

Cây bến Hán Dương in trong nắng

Cỏ bờ Anh Vũ trĩu bên sông

Chiều rơi thoi thóp đâu quê quán

Khói sóng dâng khơi giục não lòng.

Tô Thẩm Huy

Ghi chú:

(1)    Vũ Hoàng Chương, Hoàng Hạc Lâu, in lại trong ‘Tản Đà, Về Tác Giả và Tác Phẩm’, NhiềuTác Giả,

NXB Giáo Dục, 2000, trang 330, 331.

(2)  Nhất quyền đả đảo Hoàng hạc lâu,  Lưỡng cước thích phiên Anh Vũ châu,

Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc,  Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu. (Lý Bạch)

Một quyền đấm lệch Hoàng Hạc lâu,  Hai cước đá phăng Anh Vũ châu.

Cảnh đẹp lọ là xin gác bút,  Kìa thơ Thôi Hiệu ngửng ngang đầu. (TTH)


(3) Nguyên tác và một số các bản dịch khác:

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ

Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu

Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản

Bạch vân thiên tảikhông du du

Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ

Phương thảo thê thê Anh Vũ châu

Nhật mộ hương quan hà xứ thị

Yên ba giang thượng sử nhân sầu

Người xưa đã cưỡi hoàng hạc đi mất

Chốn này luống còn riêng lầu Hoàng Hạc

Hoàng hạc một đi là đi mãi không trở lại

Mây trắng nghìn năm thì cứ lững lờ bay

Sông trong vắt, hàng cây Hán Dương hiện rõ

Cỏ ngun ngút , bờ bãi Anh Vũ ngậm ngùi

Ngày đang tắt, quê hương biết ở phương nào

Khói sóng trên sông giục lòng ta nỗi muộn phiền




Người xưa cưỡi hạc đã lên mây

Lầu hạc còn suông với chốn này

Một vắng hạc vàng xa lánh hẳn

Nghìn năm mây bạc vẩn vơ bay

Vàng gieo bến Hán ngàn cây hửng

Xanh ngút châu Anh lớp cỏ dầy

Trời tối quê nhà đâu tá nhỉ

Đầy sông khói sóng gợi niềm tây

Ngô Tất Tố

Người xưa cưỡi hạc đi đâu

Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ

Hạc vàng đi mất từ xưa

Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay

Hán Dương sông tạnh cây bày

Bãi xa Anh Vũ xanh dầy cỏ non

Quê hương khuất bóng hoàng hôn

Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai

Tản Đà

Người tiên xưa cưỡi hạc vàng tếch

Ở đây còn có lầu hạc trơ

Hạc vàng một tếch chẳng về nữa

Mây trắng nghìn năm còn phất phơ

Sông tạnh Hán Dương cây sát sát

Cỏ liền Anh Vũ bãi xa xa

Trời chiều quê quán đâu chăng nhỉ

Khói sóng trên sông giục nhớ nhà

Tùng Vân

Người đi cưỡi hạc từ xưa

Đất này Hoàng Hạc còn lưa một lầu

Hạc vàng đi mất đã lâu

Ngàn năm mây trắng một mầu mênh mông

Hán Dương cây bóng lòng sông

Bãi kia Anh Vũ cỏ trông xanh rì

Chiều hôm lai láng lòng quê

Khói bay sóng vỗ ủ ê nỗi sầu

Trần Trọng Kim

Bản dịch thơ của Tô Thẩm Huy

Nguyên Tác : Hoàng Hạc Lâu -Thôi Hiệu

Bài thơ Hoàng Hạc Lâu đã được nhiều thi sĩ tiền bối  lừng danh từng dịch như :Tản Đà,Trần Trọng Kim Trần Trọng San Ngô TấtTố ,Nhật Chiêu ,Vũ Hoàng Chương …..Một  Tiến sĩ toán học mê văn chương  ở Houston Texas  cũng phỏng dịch. Nguyễn Hàn Chung xin được giới thiệu cùng các bạn .

Bài 1

Cưỡi hạc người xưa đã khuất vời

Đây lầu Hoàng Hạc đứng chơi vơi

Mù tăm cánh vút, vàng muôn thuở

Lờ lững mây trôi, trắng ngập trời

Xanh bóng Hán Dương sông loáng nắng

Quạnh bờ Anh Vũ cỏ im hơi

Chiều nay sương  khói dâng trên sóng

Sầu thẫm hoàng  hôn lạnh xứ người


Bài 2

Người xưa cưỡi hạc bay đi mất

Trơ lầu Hoàng Hạc lạnh tầng không

Một đi bóng hạc vàng hun hút

Muôn thuở trời mây trắng chập chùng

Cây bến Hán Dương in trong nắng

Cỏ bờ Anh Vũ lặng bên sông

Chiều rơi thoi thóp đâu quê quán

Khói sóng dâng khơi giục não lòng

2/21/10

TẾT NHỨT VỀ QUÊ

Huỳnh Minh Tâm

I-Tết nhứt là hội tụ, là quay về, là mở ra cái quê quán tôi xưa đã phôi pha trong kí ức. Chột dạ nhớ quê huơng. “Chẳng làm gì được cho quê/chỉ xin làm cỏ chân đê giữ làng”(Nguyễn Hàn Chung). Quê hương có bao xa mà quê hương xa xa lắm. Mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm tính toán so đo mê mải rồi lần dò trở về quê lúc tết nhứt bề bộn gió mưa rét giá cuối đông.Đường về quê xa lắc/độ tóc bạc độ tình phai/đất khách đứng ngồi chân mỏi/đêm nằm hoa rụng trắng giường/đâu dáng mẹ ngồi bậu cửa/tay đưa giấc ngủ trưa hè/câu ca dao chơi ngoài gốc rạ/chưa về thổi lửa nấu cơm/tí tách mưa đêm vườn ổi/đâu con sâu róm lá non/đường về quê sao xa lắc/bò ngang bò dọc cụt cành.Đọc thơ đến đó, thằng bạn thân của tôi ba mươi năm mới quay về  thăm quê ôm mặt khóc não nề tan nát. Tất thảy một dòng chớp thời gian. dời người mộng tưởng. “Thảo sắc thanh thanh liễu sắc hoàng/ đào hoa lịch loạn lí hoa hương/ đông phong bất vị xuy sầu khứ/ xuân nhật thiên năng nhạ hận trường”(Sắc cỏ xanh xanh sắc liễu vàng/hoa đào hoa lí lẫn mùi hương/gió đông chẳng thổi sầu đi hết/mối hận ngày xuân để vấn vương,Xuân tứ-Giả Chí).

II-Tết nhứt là thời khắc gì gì hoa nở trời xanh? mùa xuân là mùa màng sum họp gì gì mà nắng thơm thơ mộng?ngoài sân hoa cải đã vàng/mùa như đã muốn nắng sang Giêng rồi/bến chiều vẫn một mình tôi/chìm trong vang động lở bồi đời sông”(Ngoài xuân, Phan Chín). Phố xá, siêu thị, chợ búa tấp nập, nghìn nghịt người là thế, mà sao anh Phan Chín của tôi lại cô đơn cô độc sầu thảm thế, tội nghiệp thế !?. Thi sĩ là kẻ mơ mộng viễn vông cổ quái, không chịu khép vào khuôn sáo vui vẻ của cuộc đời, cứ ngu ngơ muốn bung ra cái tâm tưởng xa lạ tịch tĩnh. “Phố hôm nay phủ xiêm người/em về đầy đủ môi cười bên răng/ngày vui xê xích hai hàng/tháng so le đếm bờ ngăn bến rào/thưa em từ bữa xa nào/ nhìn nhau mộng đã bước vào trong mơ/ những nhành mai sớm sương bên lá/những nhành liễu chiều gió bên cây/ cũng lay lắt bởi đời xuân em ạ/thế nên chi anh cũng viết dòng này/ hồng vàng tụ bữa kia em có thấy/nước xuôi dòng là cổ độ nhìn theo/ tuổi mười sáu bây giờ lên gấp gãy/mộng miên man là mây phủ lưng đèo” (Bùi Giáng). cảm thấy lênh loang lếnh loáng ở đâu đó cái tôi phiêu dạt của những cánh hoa vô thường trôi nổi. Cảm thấy khăn gói của người bồng bế tôi qua nhiều cánh cửa thời gian, qua các cuộc rượu đắng mứt ngọt.

III-Đầu tháng giêng mà mưa lạnh. cái sum vầy của lòng người có ấm lại những kỷ niệm thành quách xa xưa ? Chợt hé cánh cửa và người ra đi, đi mãi.Đếm lại, ôn lần những gương mặt thân quen tưởng chừng lẫn quất ở đâu đó . Về, về đây đi. Tay em đâu trèo nhành bưởi/ tóc em đâu mắc nhánh tre xanh/ tuổi em đâu mai vàng đón tết/ tình em đâu nắng ấm Giêng Hai/ nào bát tiên nào cúc trắng/ nào vạn thọ mộc mạc tình đời/ nào giếng nước mát lành chảy rưng cuống họng/ nào trầu cau ai buộc tình ai/đường về quê sao mà xa lắc/xa như giấc mộng tuổi thơ/có con dế chiều kia ra trận/gãy đôi chân nằm khóc tỉ tê. tỉ tê tê tỉ với cái tôi trước ngưỡng mùa xuân xanh mơn mởn như thế tưởng cũng là quá chén. Bởi hồn xuân vẫn mang mang niềm hạnh phúc đầu ngõ cuối sân. Bởi vũ trụ rộng lớn hồ hởi biến dịch biến di lá rụng cây lại đâm chồi. “nơi vết sẹo thân cây/ bật lên chiếc chồi non biếc/như đôi cánh thiên thần/lộng lẫy niềm tin/toả vầng xuân bát ngát”(Đỗ Thượng Thế). Chào anh thi sĩ.Anh vẫn còn tỉnh táo thế sao ? “ Còn ở lại lột ngày còn yêu mãi/còn một đêm còn thở dưới trăng sao/thì cánh mông còn tung lên không ngại/Níu trời xanh tay vói kiễng chân cao” (Bùi Giáng).


MÙA XUÂN LANG BẠT KỲ HỒ

Nói theo kiểu Từ điển Việt Nam, Viện Ngôn ngữ hoc, NXB Đà Nẵng 2005, lang bạt : “sống nay đây mai đó, ở những nơi xa lạ. Cuộc đời lang bạt, đi lang bạt để kiếm ăn; còn lang bạt kỳ hồ như lang bạt, nhưng nghĩa mạnh hơn”. Vậy là, suy diễn rộng dài ra, hoặc là tưởng tượng mông lung miên viễn , thì cố xứ của ta lúc bấy giờ, hiện trạng lúc đua chen là viễn vông, viễn tượng, viễn ảnh, không nơi chốn của tâm thức vượn người; cái tự ngã của ta biến mất ?

Nói theo kiểu cố thi sĩ, trung niên thi sĩ kì dị, đa đoan Bùi Giáng (thì tôi cứ tưởng vậy, xem như vậy, vơ vào vậy ! ) là: “ cỏ hoa hồn du mục/ nghe trời đổ lộn nguyên khê/tiếng vang rụng rớt gieo về động xanh/ gót chân khơi rộng bóng cành/ nhịp vang dầu núi vọng thành luỹ xiêu/ thời gian chắn bước bên chiều/ khóc sông bến lạ mưa nhiều sớm xuân/ cỏ hoa từ bỏ ruộng đồng/ hồndu mục cũ xa gần hử em”. Tức là nghe trong trời dất một sự đổ vỡ liên miên,liên tục, vắt dòng, xuống nhịp trèo non. Tất thảy nói lên rằng, tất thảy dường như vô thường trường cửu biến dịch, không chịu nổi cái cũ kỹ buồn thỉu buồn thiu, mà phải, ắt phải dấn thân vào chốn mơn mởn đìu hiu, xanh biếc cô liêu ?. Ngủ yên bến lá cỏ chiều/ quên cây bóng xế quên triều biển ru/ duỗi thân thể muối sương mù/ dung nhan sầu khổ bây giờ bỏ đi/ niềm chung với nỗi riêng gì/ linh hồn xiêm mỏng không vì mây bay (ngủ yên- Bùi Giáng).

Nói theo kiểu cố Nhạc sĩ thiên tài bất định Trịnh Công Sơn là: “ngày mai em đi/ biển nhớ tên em gọi về/ gọi hồn liễu rũ lê thê/ gọi bờ cát trắng đêm khuya/ ngày mai em đi/ đồi núi nghiêng nghiêng đợi chờ/  sởi đá trông em từng giờ/ nghe buồn nhịp chân bơ vơ/ ngày mai em đi/ biển nhớ em quay về nguồn/ gọi trùng dương gió ngập hồn/ bàn tay chắn gió mưa sang/ ngày mai em đi/ thành phố mắt đêm đèn mờ/ hồn lẻ nghiêng vai gọi buồn/ nghe ngoài biển động buồn hơn”. Thấy gì thấy gì một cuộc ra đi đơn thương độc mã .Ra đi đi xa những cũ mềm luyến nhớ để trở về tao phùng với dằn vặt quằn quại tử biệt sinh ly. Tiếng nhạc não nùng chăng ? thê thiết chăng ? tin yêu chăng ? hy vọng chăng ? để hồi âm ngơ ngẩn ngẩn ngơ. Tiếng nhạc buông chùng lơi lả lả lơi để đôi chân rắn rỏi theo tiếng vọng của tâm tưởng mơ hồ phiêu hốt ?

Nói theo kiểu điên dại của tôi, dại khờ ngu ngơ ngớ ngẩn, đó là : Kỳ hồ lang lạt, thưa em/ lại thêm lang bạt lại thêm kỳ hồ/ năm này tết nhứt rồi sao ?/ năm nào tết đến năm nào tết đi ?/ tuổi mình tính rỉ tính ri/ tuổi rồng tuổi rắn tuổi dì tuổi cô/ hỏi ra lang bạt kỳ hồ/ lại thêm lang bạt kỳ hồ lại thêm/ chân dài tóc bụi hoa niên/ ngó ra xuân đã kề bên chân tường/ cánh cò dõi bóng quê hương/ trời xanh ai nhắn mùa màng thắm sâu/ hỏi sương ;bạn cũ năm nào ?/ chỉ nghe nước chảy giá cầu tương tư. căn bệnh trầm kha của họ “Thi” với những mảnh vụn của kí ức, thời gian và bất chợt tương tư thức muộn. Trường sinh ly còn lẫn quất đó đây trong lục bát lang bạt tái tê. Rồi có hạnh ngộ được chăng với biển đời mà trăm sông dòm ngó. mặc kệ đi chăng ? u sầu thế ? yếu đuối thê ? hãy nhìn xem, hãy nghe ra : “ Xuân khứ bách hoa lạc/ xuân đáo bách hoa khai/ sư trục nhãn tiền quá/ lão tùng đầu thượng lai/ mạc vị xuân tàn hoa lạc tận/ đình tiền tạc dạ nhất chi mai” (Mãn Giác Thiền sư) (Xuân đi trăm hoa rụng/ xuân đến trăm hoa cười/ trước mắt việc đi mãi/ trên đầu già đến rồi/ chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết/ đêm qua sân trước một cành mai).

Ba bài Bình của Huỳnh Minh Tâm

Huỳnh Minh Tâm – Một cây bút chững chạc và sung sức của Quảng Nam .Anh sử dụng thuần thục chiêu song thức hỗ bác tay phải ra thơ tay trái múa tản mạn , phê bình  món bảo bối  Lão Ngoan Đồng Châu Bá Thông của Kim Dung  thường sử dụng  Là Kỹ sư ,thầy giáo dạy  môn Vật lý lại say thơ như điếu đổ ,mê bạn văn như mê tình nhân .bây giờ lại đa mang  thêm cái nghiệp phê bình ngậm ngùi nầy nữa. Nguyễn Hàn Chung trân trọng giới thiệu với ban đọc ba bài điểm ,bình có phần đặc dị  về  ba cây bút  dất Quảng của anh .

TIÊU ĐÌNH VÀ TẬP TRUYỆN MỘNG DU GIỮA NGÀY

( nhân đọc tập truyện ngắn Mộng du giữa ngày của Nhà Văn Tiêu Đình, NXB Đà Nẵng, 2009)

Tôi không ngờ nhà văn Tiêu Đình lại viết sung lực sung mãn như vậy. Chỉ gần 10 năm anh cho ra mắt độc giả 6 tập sách đầy đặn. Năm 1997 là tập truyện ngắn phiên toà trên cát, năm 1999 là Quế Sơn-văn hoá và thăng trầm, năm 2001 là truyện thiếu nhi Đội bóng nhí xóm mới, năm 2003 là Vùng giao thoa, năm 2006 là Đảo Robot, và cuối năm 2009 này là tập truyện ngắn Mộng du giữa ngày.

Có dịp đọc các tập truyện ngắn của nhà văn Tiêu Đình, xuyên suốt hành trình  lao động vất vả và nghiêm túc trên các con chữ, tôi có cảm nhận ngôn ngữ  quê hương,các hình ảnh, tập tục tập quán xứ Quảng thấm đẫm trong từng trang viết của anh. Và có lẽ chính cái gốc rễ máu thịt mê ly ấy đã nuôi nấng nâng đỡ tâm hồn nhà văn bay bổng, có sức viết, sức lan toả. Văn chương của Tiêu Đình đậm đặc chất truyền thống về cơ sở văn hoá, kết cấu truyện khá bền vững , nhuần nhị và giản dị.

Các câu chuyện mà nhà văn Tiêu Đình kể với bạn đọc chúng ta là những sự kiện, đề tài mới có, cũ có, đan xen nhau trong nhịp thời gian vật lý và tâm lý của các nhân vật. Nhưng dẫu câu chuyện có xãy ra ở những giai đoạn nào của lịch sử dân tộc nói chung, hoặc là lịch sử một vùng đất nói riêng, thì tự bản thân nó vẫn mang hơi ấm phập phù của cuộc sống hiện thực, hiện đại, vẫn là những dấu tích bao nỗi lo toan trằn trọc của một con người cụ thể, nhân vật cụ thể đứng trước thời buổi kinh tế thị trường nhiều biến động và dường như rập rình  sự bất ổn. Các câu truyện tập trung  vấn đề sự dao động, mất cân bằng, sự phá vỡ các quan niệm đạo đức đôi khi chưa được sự đồng tình ủng hộ của nhiều tầng lớp xã hội, cả mặt trái lẫn mặt phải, sự xuống cấp nhân phẩm đạo đức của một số “nhân vật có quyền” trong xã hội.

Tập truyện ngắn mới mẻ Mộng du giữa ngày của anh vẫn không nằm ngoài những vấn đề nóng hổi trên, có tính thời sự hiện đại, tính cập nhật internet . 19 câu truyện trong tập là sự bố trí đan xen các câu chuyện về tình yêu, cái đẹp đứng trước những thách thức nghiệt ngã của thời gian và các quan niệm nhân sinh. Mở đầu tập là truyện ngắn  Hoa dủ dẻ. Đó là cây chuyện đôi người cô dơn chia sẻ nhau về những kỷ niệm tình yêu ngang trái. Nhân vật chính “tôi” và anh bạn cùng gặp nhau triâm, cùng cung bậc là gĩư trong ký ức những hình ảnh tình yêu đơn độc và buồn. Nhưng dường như cái phần tốt đẹp nhất trong mỗi con người vẫn còn lung linh đâu đó với hình tượng thơm lừng của hoa dủ dẻ,lảng vảng đâu đó giữa mùi hương dủ dẻ lừng lựng cả hoàng hôn,và,còn nhớ, buổi chiều hôm đó bầu trời xanh hơn mọi lần xanh. và hương dủ dẻ tha hồ bay. Tác phẩm là một bài thơ đẹp và buồn. Truyện ngắn Giờ chót mang nỗi nhớ nhung da diết của những người con tha hương trong những ngày tết nhứt. Bạn đọc còn tìm thấy ở đây nhiều lý do của sự nghèo khổ, sự xô bồ của cuộc sống hiện đại đã đè nặng tâm trí của hai cô gái -nhân vật chính câu chuyện. Truyện file ẩn có giọng văn hóm hỉnh , một chút hài về sự ngốn ngang, bao trái khoáy của cuộc sống thời văn minh náo nhiệt. Buồn thật buồn, cô đơn thật cô đơn. Nhưng cái đẹp vẫn tồn tại, hiện diện, lẫn khuất ở đâu đó đẫu rất mong manh và bí nhiệm. Hai câu truyện cuối của tập là những câu truyện hay. Truyện Quà tặng của trời là khúc ru buồn bã của tình yêu với những hệ luỵ, phiền toái, chán chường.Dẫu vậy truyện ca ngợi phụ nữ như một hấp lực, là một phần huyền nhiệm không thể thiếu của cuộc sống, mà đôi khi ai đó đã chối từ thì tác giả xem như là một sai lầm to lớn vậy.. Chất giọng truyện này thoáng, bay bổng, tuy có phần nặng triết lý, giảng giải. Sóng xao bến Rì kể về chuyện một người con gái bao năm biền biệt quê xú, bất chợt những năm tháng mùa thu cuộc đời lại quay về quê hương, về bến rì sóng xao nhắc nhở bao kỷ niệm yêu dấu, tình yêu, tuổi thơ, cái đẹp. Mô típ truyện quen thuộc, nhưng tác phẩm hay ở chỗ tác giả đã dẫn dắt bạn đọc vào thăm một vùng đất rất đẹp, rất văn hoá và nhiều tâm tình. “không thấy loại rì cây lá nhỏ, dưới nắng chỉ bám mấy chiếc rễ vào cát nóng vẫn cứ sống, cứ xanh. Cũng không thấy loại rìđuổi đan nhau dày đặc trên cát nóng, ngọn giống cái đuôi con cá đuối mẫn cán sống cùng cát  mà không bao giờ chụi để cho cát vùi lấp…” Phải chăng đó là hình tượng sức sông mãnh liệt của con người ?. Ở truyện này tình yêu chân thật, gần gũi của con gười với đất đai, cỏ cây, kỷ niệm được nuôi nấng, bồi bổ. Văn giàu hình ảnh, nhân văn và cảm động.

Còn truyện tôi chú ý là Mộng du giữa ngày-được lấy tựa đề cho tập-rất hiện thực đau đớn xác xao trong cái hiện thực của cuộc sống đang diễn bày. Cuộc sống, nghề nghiệp, tư tưởng túng quẩn của nhân vật trung tâm câu chuyện không nơi nương tựa trông thật tội nghiệp. Con người có lý tưởng, có lòng tự trọng nhưng thật mơ hồ.Có mơ ước nhưng thật viễn vông. đó là chứng hoang tưởng, căn bệnh street cuả thời đại chúng ta. Cốt truyện không rõ ràng, nhoè nhoẹt.Tình huống truyện không có éo le, gay cấn nhưng một số đoạn đội thoại nội tâm gây ấn tượng cho bạn đọc về một cách viết phóng túng, linh họat so với các truyện khác trong tập.

Trong tập mộng du giữa ngày còn nhiều truyện khá thành công, cách viết hóm, đề tài tương đối mới, mang hơi thở của cuộc ssống hiện đại, như sống chung với vỉut, Lương sư, nâng chuẩn 2, nắng lạnh…Qua các truyện của nhà văn Tiêu Đình, ta dễ dàng bắt gặp vẻ đẹp rất chân thực và cảm động của vùng đất Quảng Nam sau chiến tranh, trong công cuộc xây dựng đất nước. Vẻ đẹp tâm hồn và thân thể của các cô gái xứ Quảng tác giả có đề cập đồng đều, rộng khắp, nhưng chưa đặc biệt chú trọng miêu tả một cách đậm đặc, gây ấn tượng mãnh liệt. Bù lại, tính cách các nhân vật nữ không chua ngoa, dị hợm quá trớn, không ê hề chán chường, mà có gì đó cục mịch, chân chất, giản dị. Dường như ở đây ngoài bút  của anh không sa đà mê mẫn mà biết dừng lại cái chỗ xem như hợp lý nhất. Nhịp điệu văn chương nhiều chỗ còn rườm rà, dài dòng, tọc mạch, chưa phù hợp với nhịp sống gấp gáp, lanh lẹ của thời đại công nghiệp và vi tính, chất văn ít có tính biền ngẫu, nhưng văn của anh mạch lạc, chững chạc, hóm và mỉa. Mạch truyện không nhiều tình huống nhưng giàu xúc cảm. Các số phận không được anh đẩy đến tận cùng nỗi đau,  những cảnh ngộ cùng cực éo le, không nêu bật lên những nguyên nhân và hệ luỵ dai dẳng của chúng, nhưng  truyện giàu  chất nhân văn, biết chia sẻ với bao cảnh đời bất hạnh, túng bấn, gửi gắm được tâm sự và thông điệp tốt đẹp đến bạn đọc.

Tuy nhiên điều dễ nhận thấy xuyên suốt các truyện là kịch tính truyện không cao, gút và mở các truyện cũng không lên đến cao trào.Và giá như tác giả kiệm lời luận bàn kiểu “ triết luận” của những ông già triết học, cách kể truyện sinh động trong trẻo hơn, giảm thiểu những cảm xúc dư thừa của các chi tiết truyện, giảm thiểu giọng điệu địa phương tính, mở rộng tính cách các nhân vật thì hy vọng truyện anh sẽ được nhiều bạn đọc yêu mến hơn, nhất là những cây bát “trẻ”. Theo tôi những điều này tác giả “dư sức”, chỉ có điều con tim có chịu chấp nhận đi theo tiếng gọi một loại bút pháp mới mẻ nào đó hay không ?



TIẾNG VỌNG ĐỜI NGƯỜI

(Đọc tập Nghe vọng tiếng đồng, tiểu luận và tạp văn của Lê Trâm, NXB Đà Nẵng 2010)

Đọc tập sách, đôi khi  nhận ra không chỉ rõ ràng “diện mạo” của tác giả bấy lâu ta hằng gặp, mà còn phát hiện ra chiều sâu ẩn khuất của tâm hồn bạn văn bấy lâu ta “cứ nghĩ”, rồi sực tỉnh, “ngộ” ra những điều còn lẩn khuất đâu đó, thảng hoặc nỗi cô đơn không biết chia sẻ cùng ai nên chỉ là huyễn mộng.

Vào những ngày đầu năm dương lịch 2010, cũng là những ngày cuối năm âm lịch Kỷ Sửu, bận rộn bao công việc đồng áng, nhưng khi đọc tập sách Nghe vọng tiếng đồng của Lê Trâm  dường như  tôi đã quên đi nỗi tất bật của cuộc sống. Tập sách gợi cho tôi nhiều suy nghĩ. Nghe vọng tiếng đồng hay, quí và hấp dẫn ở chỗ; một, tác giả đã thẩm thấu, nhận định sâu sắc rất nhiều giá trị văn hóa của nhiều vùng đất, đặc biệt ấn tượng là vùng đất Quảng Nam máu thịt của mình; hai, tác giả đã từ tốn và nhân văn mổ xẻ công việc bếp núc  nghiệp văn của mình và một số đồng nghiệp, thân hữu rất xác đáng, trung thực trong khát vọng bền bỉ đi đến cuối con đương gai góc, mê hoặc.

Nghe vọng tiếng đồng không chỉ là tiếng ngân vọng mãi mãi  đời người của tiếng chuông đồng túp tu u u ù ù ú u u, nghĩa “ đen thui” như Lê Trâm đã viết trong tạp văn cùng tên trong tập, với chất văn sắc sảo, câu chuyện quái kỳ. Nghe ra tên gọi còn mở ra cho bạn đọc nỗi ám ảnh tiếng vọng đồng quê, làng mạc của được và mất, của cái đẹp và hư ảo, của quá khứ và hiện tiền mà tác giả “ăn nằm” hoặc nghĩ về.

Tập sách gồm 24 bài viết. Dường như Lê Trâm cố tình sắp xếp theo trình tự thời gian để nhắc nhở sự biến dịch vô thường của thời gian. Phần tạp văn là hỗn tạp chuyện “bao đồng” ở xứ tôi  (Quảng Nam, Quế Sơn, Tây Giang) lẫn xứ người ( Tây Bắc, Phương Nam, Đất nước triệu voi); chuyện đã qua ( Đi tìm dinh trấn Thanh Chiêm trong…tiểu thuyết ) hoặc chuyện hàng ngày ( Đường về Tây Bắc, Phương Nam không xa ). Tất thảy cũng chỉ là “phông màn” để anh gửi gắm tâm sự, thổ lộ cách nhìn nhận, đánh giá về các vấn đề về bản sắc, các giá trị văn hóa, về cái đẹp, về tình yêu…

Đi tìm dinh trấn Thanh Chiêm…trong tiểu thuyết không chỉ là bản tư liệu dầy ắp về làng mạc, cách bố trí tường thành Thanh Chiêm ngày xưa, đã “bị vùi trong lớp bụi thời gian”, hoặc phê phán cuộc chiến tranh tàn bạo, mà anh còn muốn gợi xa hơn văn bản một sự sống nẩy mầm, cựa quậy, hoặc là đánh thức một nét đẹp văn chương trong bề bộn hỗn loạn của triều đại phong kiến. Nghe vọng tiếng đồng, bằng  cảm hứng tài hoa và mẫn tiệp, Lê Trâm không chỉ giới thiệu một cách chính xác, “ đồng bóng” và sắc sảo về một ngành nghề truyền thống là làm chiêng đồng dưới cây bút của nhà văn, nhà Quảng Nam học Nguyễn Văn Xuân, mà Lê Trâm đã “biết “ thêm thắt để câu chuyện thêm kì bí, hân hoan. Anh viết: “Có lẽ phải tự đọc lấy thôi. Để cảm tiếng đồng-văn và từ đó cảm được tiếng đồng-tiếng. Để còn nghe ngân vọng mãi. Sẽ thấy, sẽ nghe như lạc vào lễ hội của thật nhiều vùng với bao bản sắc khác nhau. Sẽ như lạc vào mùa xuân rộn rã. Rộn mà trầm, ngân mà lắng, ngân vang mà buồn thảm…như số phận các nhân vật trong Tiếng đồng…Nhưng bộ óc tôi không chịu nhớ. Chỉ nghe vọng mãi, ngân mãi những tiếng đồng ma quái, kỳ lạ. Từ một nơi xa, rất xa. Mà cũng thật gần-ngân mãi”

Đường về Tây Bắc, Phương Nam không xa chỉ là những bài ký, ghi lại hành trình đi thực tế, giao lưu văn học. Nhưng cách viết của Lê Trâm thật tỉ mỉ, tròn đầy, chứng tỏ rất nhiều về “tài’ quan sát của anh, về việc cẩn trọng, lý thú, cả nỗi cực nhọc của nghề cầm bút. “ Ngày thứ bảy 14/8/2006 (Thứ Hai). Dự báo thời tiết khu vực Nam bộ ngày 14/8/2006. Trời nhiều mây, có mưa rải rác nhiều nơi, có nơi mưa to. Nhiệt độ 23-330c…Hoặc : Mốc tọa độ Quốc Gia/ Điểm tọa độ GPS 0001/ 80 37’ vĩ Bắc/ 1040 43’ kinh Đông”

Vat phu huyền bí, Mười ngày trên đất triệu voi thì lại khác. Anh khai thác rất kĩ lưởng, công phu các mảng văn hóa ở đất nước bạn Lào. Dường như ở các bài viết này, bạn đọc có cảm nhận người viết cũng kết tinh những nền văn hóa nhất định nào đó. Cách  nhìn,  cách so sánh của anh cũng thật gần gũi, thú vị, mang hơi thở văn hóa và giàu bản sắc các dân tộc. Chỉ riêng điều này thôi cũng không dễ dàng gì. Các tư liệu được khai thác cũng thật quí hiếm.

Về các tiểu luận, Lê Trâm đã  ca ngợi nhiều tác giả, tác phẩm với tinh thần đầy trách nhiệm, quí mến và có tính thời sự. Cái nhìn của anh nặng chất thơ, mỹ cảm và “học hỏi”. Ở loạt bài này thể hiện sự khiêm tốn, giản dị. Chẳng hạn ở các bài : Nhân đọc Điên cuồng như Vệ Tuệ, Bất tận những cánh đồng, Từ Mùa vàng hoa cúc đến Cái nhìn khắc khoải. Rồi Đọc Phiên tòa trên cát (tập truyện ngắn của Tiêu Đình), Bùi Công Dụng và sự lựa chọn mới, Mười năm văn xuôi Quảng Nam- đôi điều cảm nhận, Văn xuôi trên tạp chí Đất Quảng-sự góp mặt thầm lặng, bằng những cảm nhận ôn hòa lẫn nghiêm khắc, chấp nhận bút pháp cũ lẫn khát vọng kết cấu mới, mộc mạc lẫn tế nhị, Lê Trâm đã có những nhận định, nhận xét tương đối thấu đáo và đầy đủ nhiều mặt thành công cũng như hạn chế của một số anh em văn nghệ Quảng Nam. Một số chuyện “bếp núc” văn chương anh viết cũng thật gợi, ấn tượng (Bạn văn, Hồn của cây khô và đá).

Nghe vọng tiếng đồng có kết cấu truyền thống, mạch lạc, giọng văn sáng sủa, trong trẻo, không lên gân cốt mà nhỏ nhẹ, thâm trầm. Tuy vậy, ít tính biền ngẫu, phóng túng nên một vài bài viết còn nặng bài vở, chưa thật xúc cảm. Gấp tập sách lại với bao ám ảnh về nghề cầm bút, lúc nào cũng ngay ngáy hay, dở, được, mất, những khát vọng lớn lao và suy tư vụn vặt. Và còn nghe tiếng vọng ở đâu đó trong tâm hồn con người hay ở trong sách vở ngân mãi, ngân mãi.


THẢO NGUYÊN

VÀ BÀI THƠ KÝ ỨC NỤ HÔN

Nói đến nhà thơ Thảo nguyên là nói đến cõi lòng hoang sơ, “bừa” bộn. Nỗi niềm của Thảo Nguyên là nỗi niềm giao thoa của ký ức và giấc mơ, của “dại khờ trinh trắng” và “tinh anh xanh biếc”. Nghĩa là, khi đọc thơ của Thảo Nguyên, ta dễ bắt gặp giọt nắng hanh của buổi đầu xuân chộn rộn tâm hồn. Nghĩa là, ta dễ dàng xây dựng mộng tưởng và say mê tình yêu. Trong tập thơ đầu tay Miền lá trở vừa ra mắt độc giả, ta thử nghe anh tâm  sự : “Thưa ! thơ vốn cõi không riêng thế hệ nào miễn có  “tấm thẻ hộ chiếu tâm hồn”. Vói tôi đã nhập dời mình qua nhiều thập kỷ. Kính thỉnh chư vị dưới đất trên trời !”. Những lời tự bạch thật phóng khoáng dư dật, chí lí chi li. Còn nhà thơ cùng quê anh Nguyễn Hàn Chung viết giới thiệu anh như sau: “Một Thảo Nguyên bưt phá, vỡ vạc. Thật là lạ, ở cái tuổi “lục thập nhĩ thuận” với những cú rê, kích chuột, ngón ngón mặt phím, rồi khẳng khái en-tơ khá thuần thục với những câu thơ lục bát biến tấu, kỹ thuật và tươi mới…”.

Thảo Nguyên tên thật là Lê sỹ, sinh năm 1950, quê quán Phước Kiều, Điện Bàn, Quảng Nam, là Hội viên Hội Văn học nghệ thuật Quảng Nam. Tính tuổi thì anh đến “cõi” thơ có phần muộn màng. Thuở ban đầu, thơ đến với anh như  một qui luật tất yếu (hoặc có tên là số phận?). Anh chịu nhiều ảnh hưởng của nền thơ ca học vấn cũ, thể đường luật. Một thời gian khá lâu tri ngộ tri âm với những cây bút trẻ Điện Bàn, miệt mài đọc, tìm tòi, giao lưu với nhiều anh em văn nghệ ở Hội An, Tam kỳ, Đà Nẵng…cánh đồng chữ nghĩa thơ anh chợt rộng mở bao la. Anh viết chậm và kỹ, và đã kịp theo nhịp điệu thơ của thời đại. “Bối rối làn hương bí ẩn/ tình em giăng mắc sao trời/ trái đất lệch đường bay/ chật chội nỗi đau/dày phấn sáp/ tượng đá khản hơi người chẳng đáp/ lời chim một thuở ngậm ngùi” (Giao thừa cùng thiên niên kỷ) Đó là một cảm thức đầy đặn về sự đổi mới, dấn bước trước thế chuyển động tăng tốc của đời sống và thời gian. Anh có bài lục bát khá hay, gieo vần choải và lạ : “ Phố thì phố của ngày xưa/ em thì em của ngày vừa mới lên/ một ta trong cõi bồng bềnh/ một rêu phong một nỗi niềm nguyên sơ/dôị từ em cõi không bờ/ đam mê mấy nẻo ngẩn ngơ bao chiều/ sông Hoài trăng rờ rỡ yêu/ hoa đăng mấy dạo xua đìu hiu bay/ Hội An rạo rực nắng đầy/ Hội An như một mưa cây đầu mùa/ trắng trời áo trắng thu đưa/ em chưa tan học ta chưa chịu về” (Hội An và em). Bài thơ đáng yêu ở chỗ, từ  ngữ anh dùng không mới (bồng bềnh, rêu phong, ngẩn ngơ, rờ rỡ…), nhưng anh biết sắp đặt chúng đúng chỗ, đúng câu, xử lý hình ảnh mới, đẹp, gây ấn tượng (rạo rực nắng đầy, mưa cây đầu mùa…)

Riêng ở bài thơ ký ức nụ hôn mà tôi chọn viết giới thiệu ở đây có thể chưa phải là bài thơ đặc sắc trong tập, tuy nhiên tôi thích ở sự mới mẻ các hình ảnh mà bài thơ dẫn dụ, về “liều lượng” tình yêu bài thơ “áp đặt” đầy, bất ngờ :

Chiều nâng trời dĩ vãng

Em xa xăm hiện về

khổ thơ có tính ước lệ, tính nhạc, dù lời còn cũ

Biển một thời bồng bềnh

Trăng một thời thênh thênh

Phượng một thời hương sắc

mộng một thời cháy đêm

gợi đến một ký ức sáng tươi. Những câu thơ có “hương sắc”, giai điệu mượt mà, mở rộng một ký ức đẻ tưởng tượng mông lung. Những kỷ niệm bất chợt hiện về đâu đó. Ở đấy có bao chân trời khát vọng : Biển, trăng, hoa, mộng…tất thảy dường như dồn chật lại trong thơ. nói như nhà thơ Nguyễn Chiến : “Anh là con thi mã/ kéo niềm mơ ngang trời/ chớp chao đời cánh mỏng/ thả thơ vào mênh mông/ anh là con ngựa bạch/ trắng từ đầu đến chân” (Ngựa-Nguyễn Chiến). Còn nói như nhà thơ Phùng Tấn Đông là : “ Trong túi của người những chiếc vé mùa thu không còn hiệu lực tiếng còi tàu vừa rúc một chia xa/  biết làm thế nào đây hơi thở người vẫn chộn rộn như lần hẹn đầu tiên bước chân dù chậm hay nhanh người vẫn không đúng lúc “ (nơi phải đến-Phùng Tấn Đông).

Nụ hôn liều trao em

ba mươi năm khát mãi

Đó là  hai câu thơ “đinh” của bài, thật giản đị nhưng rất ấn tượng. Gợi một cái gì đó thăm thẳm hồn người, ray rứt đoạn trường của thứ tình trai tuổi mới lớn nhưng mải miết vô tận đời người. Cái hay kì lạ của nó ở chỗ chẳng mông lung ẩn dụ gì, rõ ràng nhật nguyệt. Cũng chẳng “xảo ngữ” mặt ủ mày chau, kiểu là : “Nổi trời con mắt điêu linh/ đem men cả gió ủ tình xiêu cây/ đang cơn nước ngược sông đầy/ trăm năm có dựng một ngày tràn ly” (Thơ tình ghi dọc Quảng Nam- Nguyễn Đức Dũng). Hoặc là : “Cội vàng hoa quên tắt mình trong tối/ nên em khát mà mưa chẳng xuống/ phúc âm từ lời nguyện cũ bay lên” (Sinh nhật anh- Phương Dung). Mọi nỗi khát (khát thơ, khát tình, khát sống, khát danh…) của những nhà thơ đều ở những cung bậc khác nhau, cách thể hiện cũng khác nhau. Âu đó cũng là lẽ thường tình. Tựu trung cũng chỉ tạo nên những câu thơ hay, cố gắng  “để đời”.

Với tôi, bài thơ dừng lại ở đây là vừa . Còn kết thúc như : “Mùi tóc em bay xa/ để tình anh mất hút” cũng chỉ là niềm nuối tiếc nhớ nhung kéo dài âu không hay lắm. Đôi khi có vẻ “sáo” và “non” (thiết nghĩ vậy, chẳng biết tác giả có trách cứ gì không ?). Đoạn tuyệt (một cái gì đó) cũng là tuyệt bút vậy.

Lan man đọc trong tập miền lá trở còn nhiều câu nhiều bài đọc “được”, “chưa phải nói là độc đáo, nhưng thật đáng mừng và trân trọng” (Nguyễn Hàn Chung). Chẳng hạn : “lan man dưới mấy tầng rêu/ vô ngôn tượng đá hắt hiu gió ngàn” (cảm xúc Mỹ Sơn), “ngất ngưỡng tiếng khà rung vách núi/ con đường hun hút lưng mây/ bát ngát đồi nương biến ảo” (lãng đãng Đak Ruồng), “mùa xuân điểm xuyết phía hương em/ngón ngón non tơ xanh lá” (lắng xuân).

Thơ là hơi thở của mỗi người. Thơ cũng là đời sống. Mà đời sống luôn luôn biến chuyển, mới mẻ và sinh động. Đã mới thì cần mới nữa. Đã hay thì cần hay nữa. Âu đó là những yêu cầu miên viễn của độc giả. Hy vọng gặp lại Thảo Nguyên ở những chân trời xa hơn.

KHÚC QUÊ


Nguyễn Nhã Tiên

Em va gàu vào giếng khuya gọi ngàn đêm thức giấc

Bếp lửa thức xa xôi rực đỏ một góc trời

Ngọn gió thức ngoài đường chập chùng cung bậc

Trừ tịch thức gọi người đủ mặt lứa đôi

Đập vỡ thời gian hoa lửa rơi rơi

Mọi ẩn nấp xô bật tường rêu nhú lời cỏ biếc

Bấc se se ngập ngừng ngoài sân đợi tết

Nước tràn mái , tràn thùng, em gánh tiếp niềm tin

Giếng ngời ngời gương mặt của đêm đêm cháy sáng

Đêm giũ mình bóng tối

Những cát bụi không còn nơi ẩn trốn

Hạnh phúc từ ngực người nhuộm thắm cỏ hoa

Cả ngàn nhà, nước từ giếng chia ra

Cười nói dội vang vang hồi âm của đất

Có một thiên đường đêm ba mươi rất thật

Trừ tịch chia đều mọi ngõ trầm hương

Khói bay trong nhà, khói bay hàng hiên về em nhé

Giao thừa đang điểm

Có một tiếng gàu bỏ quên ngoài giếng

Chạm vào tôi ngân mãi khúc quê mùa !

VỠ…

LÊ THỊ ĐIỂM

“Choang” !

Pha lê vỡ

tan tành !!

Gom đem tái chế lại thành pha lê

Vầng trăng buồn nỗi mây che

U u một cõi

mê mê chốn trần …

Mây tan trả nụ cười rằm

Cho nhân gian múc trăng vàng đổ đi

Tình em !

nào sánh pha lê ,

chẳng linh dịu tựa trăng quê đêm rằm

Một đời gìn giữ , chuốt, chăm

Đánh rơi,

khuyết nẻo vọng âm còn gì ?!

.

MÙI MÍT CHÍN TRONG VƯỜN

Nguyễn Tấn Sĩ

Anh làm rêu xứ lạ

Xanh sông Tiên một lần

Tình hỗn mang như  đá

To nhỏ buồn như  nhau

Nằm thức một đêm thâu

Hồn xuôi mà nước ngược

Hỏi ai về Tiên Phước

Có thất tình như  ta ?

(…rất thật tình như  ta ?)

Mùa xuân  chưa  đi qua

Lòng đà neo đậu lại

Dâu xanh người chưa hái

Thèm, nên mớ suốt  đêm

Muốn làm đá ngõ  em

Trượt chân ôm nỗi nhớ

Chạm vào rêu đang thở

Thơm hương mít trong vườn

Ôi mùi hương, mùi hương

Gọi em: Hà,Châu,Lộc..

Đi xuôi dòng nước ngược

thương bao Cẩm… bao Kỳ…

Những tường đá Đường thi

Em là tiên thưở trước

Chỉ một đêm Tiên Phước

Cứ ngỡ mình…thanh niên

Hai Đầu Nỗi Nhớ

|

Nguyễn Tấn  Sỹ


Nam phước rạng sáng 13/12/o9
Gởi KHOA và BÌNH

gieo vần thơ giữa mênh mang
xe về quê mẹ áo quan lạnh lùng

rớt hai câu giữa vô cùng
hai thằng bạn một quê chung, trở về…

lối nào là cõi hôn mê
lối nào của gã nhà quê cơ cầu

vẫn là người Quảng dáng nâu
vẫn là nhân loại bể dâu tim mình

gọi KHOA, thảng thốt gọi BÌNH
trời quê rét ngọt tôn vinh nỗi buồn

cạn nào ! một cốc rượu suông
nửa đổ cho đất nửa hong cho đời

tau còn bận chuyện đầy vơi
bạn rong ruổi tiếp cuộc chơi vô hình

thêm người ở cõi vô minh
là thêm lần nữa cho mình nỗi đau…

Buổi ra mắt tác phẩm Sống Với Thời Quá Vãng của nhà văn Phan Xuân Sinh tại Houston

By HoangHac • Nov 24th, 2009 • Category: Giới Thiệu Tác Giả & Tác Phẩm

PXS BookPremiere098Chiều thứ Bảy, 21 tháng 11 2009, trong không khí ấm cúng, thân mật và tràn đầy tình văn nghệ, buổi ra mắt tác phẩm Sống Với Thời Quá Vãng của nhà văn Phan Xuân Sinh, một cựu cư dân Boston, đang sống và sáng tác tại Houston, đã được tổ chức tại Café Bistro.

Buổi giới thiệu do sự phối hợp tổ chức của các hội Quảng Nam Đà Nẵng tại Houston, Dallas và thân hữu văn nghệ của tác giả như các nhà văn, nhà thơ Ngu Yên, Vĩnh Tuấn, Phạm Quang Tân, Lương Thư Trung v.v..

Nhà văn Nguyễn Đình Toàn có lần đã phát biểu trên đài VOA về Phan Xuân Sinh: “Nhưng đọc các truyện của Phan Xuân Sinh, người ta có cảm tưởng như kẻ ngồi gỡ bỏ những cuốn băng, nhìn lại các vết thương. Các vết thương có thể đã lên da non, đã lành, nhưng nhỏ vẫn để lại những cái sẹo, lớn là dấu tích mất đi một phần thân thể. ”

Tương tự, nhà văn Trần Doãn Nho đã viết trong lời tựa Sống Với Thời Quá Vãng:“Buồn hay vui, hy vọng hay tuyệt vọng, văn chương vẫn là phương tiện chuyên chở cuộc sống của con người. Sống với thời quá vãng phản ảnh phần nào những hiện thực sắc nét của hiện thực qua ngòi bút trung thực của một con người đã trải nghiệm cuộc bể dâu với nhiều biến khúc bi thương của đất nước, của xã hội và của số phận cá nhân.”

Sống Với Thời Quá Vãng là chiếc gương kính thời gian, qua đó, một Phan Xuân Sinh vào tuổi 60 thâm trầm có cơ hội sống với một Phan Xuân Sinh của thuở 20 tràn nhiệt huyết, hăng say nhưng cũng đầy nông nỗi.

Sống với nhau không phải để tiếc thương một thời vang bóng, không phải để đổ thừa hay trách móc cho nhau nhưng để cảm thông với chính mình và cảm thông với cả lịch sử đầy khắc nghiệt đã qua. Có thể nói văn và thơ của Phan Xuân Sinh, nhất là trong tập truyện mới nhất của anh là những câu chuyện rất thật, những mảnh đời rất thật của một người Việt Nam sinh ra, lớn lên và để lại một phần thân thể trong cuộc chiến tranh tàn khốc của lịch sử loài người: chiến tranh Việt Nam.

Bên cạnh các giá trị văn chương mà các nhà văn, nhà thơ Tô Thùy Yên, Nguyễn Hàn Chung, Nguyễn Đình Toàn, Lương Thư Trung, Trần Hoài Thư, Nguyễn Thị Bích Ti, Trần Doãn Nho, v.v.. đã nhận xét, độc giả có thể bắt gặp trong Sống Với Thời Quá Vãng các cá tính nỗi bật của anh: hiền hòa, chìu chuộng bạn bè, trang trải hết lòng cho đời và cho người, dễ cảm thông tha thứ. Những cá tính đó chính là nguồn thu hút các thân hữu văn nghệ để họ tìm đến với anh.

Như từ nhiều năm nay, anh đến đâu bạn bè theo đến đó. Anh ở Boston bạn bè đến Boston. Anh ở Houston bạn bè đến Houston. Anh sống trong một căn nhà rộng rãi khang trang có hai con lân bằng đá đen canh cửa ở Salem, bạn bè đến với anh, và khi anh dọn về một căn nhà chập hẹp trên đường Winter Glen ở Houston, bạn bè cùng ngồi chen chúc với anh.

Đâu cũng thế, dù khi quây quần bên bếp lửa hồng trong căn nhà nghỉ hè bên bờ hồ Laconia tuyệt đẹp của mùa thu đông bắc và nghe Nguyễn Khánh Hòa kể chuyện tiếu lâm “Tháng Sáu trời mưa trời mưa không dứt, trời không mưa anh cũng mặc áo mưa” hay quán cà-phê nóng nực ở Houston, tình người vẫn tuôn chảy, tiếng hát vẫn thiết tha và nụ cười vẫn sảng khoái.

Ngoại trừ kẻ viết bài này (người chuyên hứa cuội với bạn bè như vừa hứa cuội với anh Phan Xuân Sinh), hầu hết bạn bè hứa đến với anh đều đã đến. Hoàn cảnh có khác, không gian và thời gian có khác nhưng tình người, tình thân hữu vẫn tràn đầy hương mật ngọt như xưa. Quê hương của nhà văn Phan Xuân Sinh và nhà thơ Nguyễn Hàn Chung có một câu ca dao quen thuộc rất thích hợp cho tình văn nghệ của Phan Xuân Sinh và bạn bè anh: “Tay bưng dĩa muối chấm gừng, gừng cay muối mặn xin đừng bỏ nhau”. Vâng, dù thăng hay trầm, dù nắng hay mưa, bạn bè đã không bỏ Phan Xuân Sinh.

Chính từ tinh thần đó nên các văn nghệ sĩ dù kinh tế và đời sống có khó khăn, anh chị em đều đã về với anh. Theo lời của MC Bùi Lê Nhung, vì số lượng văn nghệ sĩ từ xa về khá đông nên ban tổ chức chỉ giới thiệu khách phương xa và các các bậc văn nghệ sĩ trưởng thượng tại Houston. Ở Houston có các văn nghệ sĩ trưởng thượng như nhà văn Doãn Quốc Sỹ, nhà báo Nguyễn Đạt Thịnh, nhà thơ Tô Thùy Yên, nhà văn Đặng Phùng Quân, danh ca Duy Trác, nhà văn Nguyễn Thế Giác.

Về từ xa có nhà văn Trần Hoài Thư và phu nhân Ngọc Yến đến từ New Jersey, nhà thơ Trần Phù Thế đến từ South Carolina, nhà văn Trà Nguyễn đến từ North Carolina, nhà văn Hoàng Thị Bích Ti đến từ Virginia, nhà văn Nguyễn Thị Thảo An đến từ Georgia, nhà thơ Nguyễn Khánh Hòa đến từ Lousiana, vợ chồng anh Đỗ Xuân Quang – Bích Hà đến từ Georgia, nhà thơ Phạm Cây Trâm đến từ Arlington, các nhà văn nhà thơ Đinh Yên Thảo, Tôn Thất Phương, Lian Bùi, chủ nhiệm báo Trẻ Nhật Hoàng, nhà văn Phan Garland, nhà thơ Hoàng Định Nam, họa sĩ Bảo Huân đế từ Dallas và nhiều anh chị văn nghệ khác có thể ban tổ chức không ghi nhận hết.

Phần điều hợp chương trình do chị Bùi Lê Nhung và hai nhà thơ có cùng bút hiệu rất khói sương, đa tài, chẳng những tài hát hay, ngâm thơ, đọc thơ và cả đấu võ cũng hay: Yên Sơn và Ngu Yên.

Sau thủ tục làm lễ chào Quốc Kỳ và phút mặc niệm, các các văn nghệ sĩ Bích Phương, Đổ Xuân Quang đã lần lượt làm ấm chương trình qua các nhạc phẩm Kiếp Nào Có Yêu Nhau của Phạm Duy và bài thơ “Một chút tình cho Huế” của Phan Xuân Sinh. Phần nhận định về tác phẩm cũng như giới thiệu về tác giả do hàng loạt các văn nghệ sĩ đảm trách trong đó có nhà thơ Tô Thùy Yên, nhà thơ Nguyễn Hàn Chung, nhà văn Trần Hoài Thư và nhà văn Hoàng Thị Bích Ti.

Trong bài nhận định của mình, nhà thơ Nguyễn Hàn Chung đã phát biểu: “Có thể nói Sống với thời quá vãng của Phan Xuân Sinh là một bức tranh chân thực về lịch sử, con người một thời, tái hiện sắc nét chiều sâu tâm tư của tác giả .Cảnh và tình người cũ và người mới, chiến thắng và chiến bại rốt cục trước niệm thiên địa chi du du vô chung vô thủy của thời gian cũng chỉ là những mảnh vụn chìm sâu trong ký ức.Tác giả nâng niu gìn giữ nó để người đời sau còn biết có gió bụi một thời rót về phương mô.”

Nhà thơ Nguyễn Hàn Chung, dù chỉ gặp nhà thơ Phan Xuân Sinh một thời gian ngắn sau này nhưng họ nói về nhau dễ dàng hơn chỉ vì cả hai cùng một thế hệ, đã từng yêu say đắm một giòng sông, đi trên một con đường, sống trong lòng một thành phố, và đã cùng chứng kiến những hoang tàn đổ nát diễn ra trên nơi chôn nhau cắt rốn của họ. Họ nói về nhau nhưng thật ra cũng để nói cho chính mình và một thời bi tráng đã qua đi.

Nhà văn Hoàng Thị Bích Ti và Nhà văn Trần Hoài Thư đến từ miền đông rất lạnh đã lần lượt phát biểu về nhà thơ Phan Xuân Sinh như một nhà văn, nhà thơ và hơn hết là người bạn chân tình.

Xen kẻ vào các bài phát biểu là các tiếng hát tuyệt vời của Phương Nga với Hương Xưa của Cung Tiến, giọng ngâm thơ độc đáo của Yên Sơn với “Lời tỏ bày cùng quê nhà” của Phan Xuân Sinh, tiếng hát Hoàng Cương trong Như Ngọn Buồn Rơi và giọng ngâm của Bùi Thế Kiệt trong một bài thơ khác của Phan Xuân Sinh “Gặp người xưa giữa phố Boston”, các tiếng hát của MC Bùi Lê Nhung và ca sĩ Anh Định trước khi chấm dứt với bài thơ cảm động “Bay qua đời khói sương” qua giọng ngâm trầm ấm của nhà thơ Vĩnh Tuấn.

Cuộc vui nào rồi cũng tàn, mỗi người phải trở về với đời sống riêng. Trong hành trang của các anh chị em văn nghệ sĩ, ngoài tác phẩm Sống Với Thời Quá Vãng còn là âm hưởng của một buổi chiều họ đã sống với nhau trong duyên văn nghệ, một đêm họ đã say với nhau trong tình bằng hữu. Chuyện ra mắt sách, cuối cùng, chỉ là cái cớ để họ nhìn lại nhau, gặp lại nhau, nghe tiếng nói của nhau, nghe giọng đọc thơ của nhau, nghe tiếng hát của nhau, để rồi mai đây còn có bao giờ nữa, cát bụi sẽ phù du và hồn thiên thu phiêu bạt. Nhà thơ Tô Thùy Yên một lần đã cảm động phát biểu về tình văn nghệ trong buổi họp mặt tại nhà của nhà văn Phạm Quang Tân vài năm trước đây: “Gặp nhau là một hạnh ngộ trong cuộc đời này”. Cám ơn nhà văn Phan Xuân Sinh và tấm lòng của anh đã gởi gắm trong tác phẩm Sống Với Thời Quá Vãng.

Trần Trung Đạo
tổng hợp cho NguoiVietBoston từ ý kiến của ban tổ chức, nhận xét của một số tham dự viên và chương trình buổi ra mắt.

PXS BookPremiere004
Nhà thơ Yên Sơn, điều hợp chương trình

PXS BookPremiere007
Cô Bùi Lê Nhung, điều hợp chương trình

PXS BookPremiere101
Nhà thơ Ngu Yên và tác giả Phan Xuân Sinh

PXS BookPremiere014
Nhà thơ Vĩnh Tuấn

PXS BookPremiere033
Nghệ sĩ Đổ Xuân Quang

PXS BookPremiere038
Nhà thơ Tô Thùy Yên

PXS BookPremiere058
Nhà thơ Nguyễn Hàn Chung

PXS BookPremiere071
Nhà văn Hoàng Thị Bích Ti

PXS BookPremiere022
Nhạc sĩ Linh Phương

Chùm thơ của nhà thơ Ngyễn Khôi

Nhân một chuyến du hành tới xứ Quảng nhà thơ Nguyễn Khôi có viết một chùm thơ về mảnh đất “chưa mưa đà thấm  “tặng Chàng trai già Quảng Nam ” lưu vong.
NHC xin trân trọng giới thiệu cùng các ban.

Bài 1:
Sông Thu Bồn
(Sông Thu Bồn giọng hát đò đưa) – Câu hát cũ

Sông Thu Bồn đôi bờ tre xanh biếc
Ngỡ sông Năng(trên Ba Bể)(1) ta về
Chang chang nắng, chang chang trời tha thiết
Đuôi mắt huyền em gái rất là quê

Ai có giận? – anh đâu chê Gò Nổi
Bãi dâu non sóng lụa óng tơ vàng
Ca điệu “lý” để cho lòng bổi hổi
Chàng trai nào khí phách vượt Quảng Nam?

Ơi sông Thu… bồn chồn ngàn thương nhớ
Nỗi đau nào bằng nỗi khổ ly hương
Được làm gốc tre già bên bờ sông bồi lở
Còn hơn là thuyền lưu lạc mãi trùng dương…
14-9-2009

Bài 2: Phỏng “Lý Quảng Nam”

Mấy khi qua nẻo Hải Vân
Có tui có bậu thỏa lòng ngàn xưa
Sông Thu dào dạt đôi bờ
Sóng xa nào biết nơi mô cội nguồn?

Cau xanh biếc lá trầu thơm
Ngọt ơi là trái bòn bon tặng tình
Bây chừ bậu nhớ đinh ninh
Cánh cò bay chở chúng mình về đây

Sông Thu một dáng thanh gầy
Vu Gia sóng vỗ chừng say mạn thuyền
Bên nhau là nghĩa là duyên
Có tui có bậu để quên sự đời.

14-9-09

Tặng Phong Hàn


Vọng Tiễn Đưa

Vui chân vào tới Tam Kỳ
Cơm gà một đĩa, canh mỳ một tô
Người đi chẳng có ai chờ
Sông Thu lạnh buốt tứ thơ trong đầu
Rượu à? ai đối ẩm đâu?
Cuộc vui trần thế là sầu thiên thu
Xa nhau nghìn dặm tít mù
Định ca câu “lý” ngần ngừ lại thôi
Thương ai lầm lũi bên trời
Tay nâng ly, hẫng …tuột rơi tan tành

QUA ĐÒ, NHỚ MẸ

2009-03-29 @ 10:59 in Tác Phẩm Thơ

Viết nhân ngày sinh nhật mình ( 29.3 )
Ngày còn trẻ, mỗi lần về thăm quê, tôi thường đứng bên kia sông gọi đò. Người chèo đò có thể chưa nghe, nhưng mẹ tôi đã nghe rõ tiếng con mình ơi ới gọi. Trước nhà tôi là con sông Vu Gia hiền hoà, nơi mẹ đã sinh ra tôi trong một ngày gió to. Cứ đến ngày 29 tháng 3, tôi lại nhớ mẹ nhiều hơn. Bài thơ này xin tặng mẹ nhân ngày sinh nhật của con.

Nguyễn Ngọc Hạnh

Tôi sinh ra
từ bến sông này
Sông thì hẹp
mà quê dài rộng thế
Đời mẹ nhọc nhằn
bao mưa nguồn chớp bể
Ấp ủ đàn con
trong đôi gánh tảo tần Đọc tiếp »

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.