đám cưới trên đồi (phần hai)

wedding in topanga canyon

Nghi thức xông khói

Sau đó, là những lời thề ước của cô dâu chú rể rất chân thật mà lãng mạn, nồng nàn. Dịp này, người chủ trì buổi lễ, Meg Glasser, đọc bài thơ Mối Duyên Lành – Bài 2667 (This Marriage- Ode 2667) của thi sĩ Rumi:

Mối Duyên Lành – Bài 2667

Xin phước lành giáng xuống trần gian vào lời thề nguyền, giao kết hôm nay.
Xin đôi lứa mãi như giòng sữa ngọt ngào, như rượu đào, như kẹo mật.
Xin mối lương duyên
như cây lá trong vườn đem lại nhiều
trái thơm, bóng mát.
Xin tiếng cười tự thiên đường sẽ ròn rã ngân vang, hôm nay và mãi mãi.
Xin cho giây phút này là chứng tích của thương yêu, là dấu hiệu của hạnh phúc.
Xin cuộc tác hợp này tốt tươi, viên mãn,
Và xinh đẹp như vầng trăng đang vằng vặc sáng trên nền trời xanh ngát.
Ôi nói sao cho cùng trước hồn thiêng chư thánh thần, bồ tát,
Đang hoà nhập cùng chúng ta trong ngày vu quy, sắt cầm hảo hợp.

image

Lễ đeo nhẫn cưới và đọc thơ Rumi

This Marriage – Ode 2667

May these vows and this marriage be blessed.
May it be sweet milk,
this marriage, like wine and halvah.
May this marriage offer fruit and shade
like the date palm.
May this marriage be full of laughter,
our every day a day in paradise.
May this marriage be a sign of compassion,
a seal of happiness here and hereafter.
May this marriage have a fair face and a good name,
an omen as welcome
as the moon in a clear blue sky.

I am out of words to describe
how spirit mingles in this marriage.
(3)

image

Tiếng hát rất ấm và tha thiết của nữ ca sĩ (có dáng dấp Joan Baez) qua hai nhạc phẩm “Mahadev” và “Blessed Always”

Sau bài thơ Duyên Lành là hai bản nhạc “Mahadev” từ đĩa nhạc Radiant Awakening và bản “Blessed Always” được hát lên qua giọng hát trữ tình của Radha, cô gái áo đỏ.

Lễ cưới tiếp theo đó là quan khách cùng hai họ trở lại các bậc thang có treo những lá cờ mang các dòng chữ Tây Tạng để đến cái sân lát đá lúc khởi hành lễ cưới, nơi đây có dọn sẵn vài thức ăn nhẹ cùng những chai rượu đỏ sẵn sàng mời khách nhâm nhi cùng vui với niềm vui của cô dâu chú rể.

image

Cô dâu chú rể chụp hình lưu niệm với sáu cặp dâu phụ rể phụ

Sau khi hai họ cùng bằng hữu trò chuyện về lễ cưới tràn ngập hạnh phúc này, họ được cô dâu chú rể mời đến địa điểm dự tiệc cưới.

Từ dưới chưn một vách núi, các cặp rể phụ dâu phụ lần lượt được xướng danh mời lên trước sự chào đón bằng những tràng pháo tay nổ giòn. Rồi đến song thân cô dâu, song thân chú rể, và sau cùng và cũng là hai nhân vật chính cho tiệc cưới tối nay là cô dâu, chú rể. Dĩ nhiên rồi, họ được chào mừng bằng những tràng vỗ tay thật dài.

Lần lượt hai thân phụ cô dâu và chú rể ngỏ lời cảm ơn quan khách và tiệc cưới dưới ánh trăng sáng trên nền trời giữa những núi đồi chập chùng nơi đây chính thức bắt đầu với những bước khiêu vũ đầu tiên của cô dâu và chú rể. Và sau đó mọi người cùng nâng ly chúc mừng hạnh phúc của đôi tân lang và tân giai nhân và của cả hai họ, của mọi người.

Như hòa cùng niềm vui với cô dâu chú rể, các loài hoa trong khu vườn trên ngọn đồi tình ái này cùng đua nhau nở rộ những cánh hoa đầy hương sắc và kết trái ngọt ngào.

image

Các loài hoa trên đồi cùng vui nở trong ngày cưới của cô dâu chú rể

image

Bông Artichaut nở rộ với những nhụy hoa màu tím

Trước khi kết thúc các ghi nhận về đám cưới này, có lẽ sẽ rất thiếu sót nếu không nhắc về các biểu tượng mà cô dâu và chú rẻ chọn cho ngày cưới của mình.

Trước nhứt, về ý nghĩa những tiếng “OM” vang vang đã ghi lại bên trên là một chọn lựa khá đặc biệt mà dường như chưa lần nào tôi dự một tiệc cưới như vậy. Thứ đến là những lá cờ muôn màu của truyền thống Phật Giáo Tây Tạng theo làn gió ban phát những lời kinh chúc lành đến mọi sinh vật trong vũ trụ .… Thứ ba nữa là những bông sen. Có tới hơn một trăm bông sen mà cô dâu chú rể tự tay làm lấy để trang trí nơi các bàn tiệc, nơi hai tấm bảng giới thiệu các lễ cưới trong gia tộc hai bên, là biểu tượng của sự trong lành và thanh khiết mà hai nền văn hóa Phật Giáo ở Tây Tạng và Ấn Độ có dịp mang tặng cho loài người khắp mọi nơi. Sau cùng, những con voi màu hồng là hình ảnh mà cô dâu và chú rể rất yêu thích. Tân lang và tân giai nhân cũng yêu quý Ganesha, vị thần voi Ấn độ có thiên tài vượt qua mọi khó khăn. Những biểu tượng về voi nhắc nhở đôi uyên ương tôn trọng sự thông thái vô biên, trực giác bén nhạy, và năng lực sung mãn lúc nào cũng ngự trị trong chúng ta và khắp nơi trên toàn cầu.

Trở lại nhà sau kỳ dự lễ cưới vào một đêm trăng tròn tháng Bảy vừa rồi trên ngọn đồi vùng Topanga Canyon, tôi mới nghiệm ra một điều là những người trẻ ở Hoa Kỳ, ngoài học thức và tài năng, họ còn có một đời sống tâm linh rất phong phú, sâu sắc mà nhiều người già như tôi vốn giữ những nếp cũ phải giật mình. Quả thật, câu nói cửa miệng:“Đi một ngày đàng, học một sàng khôn,” đúng với riêng tôi biết bao!!!

Lương Thư Trung
Topanga Canyon, ngày 16- 07- 2011

Cước chú:

1/ Các hình trong bài do người viết chụp.

2/ Thủ ấn: ấn kết bằng ngón tay. (Theo Tự điển Phật Học Hán Việt của Phân Viện Nghiên Cứu Phật Học, nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, tái bản và bổ sung, 2007, trang 1294)

3/ Bản dịch Việt ngữ của Tô Thẩm Huy. Bản Anh ngữ được trích từ tuyển tập “Love is a Stranger,” chủ biên Kabir Helminski, Threshold Books, 1993).
Tô Thẩm Huy chú thích thêm về Rumi: (Mowlana) Rumi là thi sĩ người Persian, quê ông ở miền Balkh nay là vùng phía bắc Afghanistan, sống vào thế kỷ 13. Ông viết nhiều thơ ca ngợi tình yêu, rất được phương Tây yêu thích, như những câu:

Tình yêu đến,
trở thành như máu trong thân thể tôi
ùa chảy qua những mạch, bủa vây trái tim
Ôi, bạn hỡi,
mọi điều bạn thấy về tôi,
chỉ là cái vỏ bên ngoài,
phần còn lại tình yêu đã chiếm trọn.

Love came,
and became like blood in my body.
It rushed through my veins and
encircled my heart.
Oh, my friend,
all that you see of me
is just a shell,
and the rest belongs to love.

Đám Cưới Trên ĐồI (phẦN 1)

         (   Copy from Damau.org)

Lần đầu tiên tôi tới California lại ghé qua Topanga Canyon thuộc vùng núi non Santa Monica của Los Angeles. Từ phi trường Los Angeles, xe chạy về hướng xa lộ 405, rồi con đường 27, chúng tôi lại rẽ về hướng biển với hàng dừa kiểng cao lêu nghêu như thách thức sức chịu đựng cùng gió giông vào những mùa mưa bão. Đây là phần bên này bờ Thái Bình Dương, mà bờ bên kia là vùng biển Việt Nam của tôi. Bãi biển buổi chiều vắng người và nghe nói nước biển vùng này rất lạnh vì dòng nước từ trên vùng Alaska mang cái lạnh từ bắc cực xuống đây.

topanga beach

Bờ biển vùng Topanga Canyon (Los Angeles, California) (1)

Theo con đường cặp bờ biển, xe chạy một đỗi lại phải rẽ vào tay mặt bắt qua con đường đèo khúc khuỷu với những vách núi cheo leo hai bên đường để tìm ngã Robinson lên ngọn đồi thuộc vùng Topanga Canyon, nơi mà ngày mai, thứ bảy, chúng tôi sẽ dự lễ cưới nơi này.

image

Núi đồi vùng Topanga Canyon (Los Angeles, California)

Trước khi lên máy bay đi California lần đầu, tôi chưa có một ý niệm gì về vùng đồi núi cheo leo này. Trong bụng cứ đinh ninh là đi California đồng nghĩa là đi về vùng Quận Cam hay một chỗ nào đó có nhiều người Việt Nam đang sinh sống. Đến khi tìm đường qua những đường đèo, chúng tôi mới biết vùng này dường như không có người Việt cư ngụ. Dọc đường đèo, nhà cửa cư dân nơi đây rất thưa thớt. Xa xa vài quán bên đường bán tạp hóa hay cà phê. Lâu lâu mới có trạm bán xăng và thỉnh thoảng mới có con đường quẹo lên hướng núi về tay mặt hoặc rẽ sang tay trái mà trong tầm nhìn giới hạn chúng tôi thấy những ngọn núi cao chót vót kia lác đác những căn nhà gạch quét vôi màu vàng nhạt.

image

Đá trên vùng Topanga Canyon

Xe chạy vòng vèo chừng hơn nửa giờ chúng tôi gặp con đường Robinson nằm bên tay mặt với cái cua quẹo rất gắt dẫn về ngọn đồi mà chúng tôi muốn tìm. Khi vào cổng, chúng tôi không ngờ giữa nơi núi non mịt mùng này lại có một ngọn đồi trải một thảm cỏ xanh rì với những đoạn đường tráng nhựa êm ái như nơi đồng bằng. Khi ngừng xe nơi căn nhà mà mình sẽ ở trong năm ngày ở đây, chúng tôi rất đỗi ngạc nhiên thấy người chủ ngọn đồi này đã xây cất rất nhiều nhà nhỏ lác đác nơi các triền dốc này, gốc núi kia bao quanh bằng những con đường lên dốc xuống dốc… Theo đứa cháu cho biết những căn nhà và cả ngọn đồi này người chủ chỉ dùng làm nơi nghỉ những ngày cuối tuần.

Xem chừng ở đây xa các nơi có người Việt thật, vì dọc theo con đường đèo mà chúng tôi vừa đi qua không thấy tiệm quán Việt Nam nào. Thành ra, muốn ăn cơm hay ăn phở chúng tôi phải chạy xuống đèo và đi chừng gần một giờ lái xe mới có tiệm phở bán cơm tấm Việt Nam.

Bạn có thể nào tưởng tượng nổi giữa một vùng núi đồi bao la này lại có một triền dốc với tám bức tượng Phật Thích Ca ngồi trên các tòa sen hiền từ mà nghiêm nghị biết bao giống như nơi đây là một vùng Phật tích lâu đời …

image Tám tượng Phật Thích Ca ngự trên tòa sen bên một triền đồi theo hình vòng cung (nhìn tứ phía trước) image

Từ trên triền đồi nhìn xuống địa điểm cử hành lễ cưới

Sau khi đứa cháu đưa chúng tôi vào nhà sắp xếp chỗ nghỉ và tắm giặt xong xuôi, chúng tôi đi dạo một vòng với khu vườn cây ăn trái không bón phân hóa học có đến năm ba mẫu càng làm chúng tôi nhớ như mình đang đi về một vùng núi rừng Thất Sơn với cam, quít, táo, hồng đầy nhánh. Cái thú của người nhà giàu là dường như họ lập vườn trồng cây trái để coi chơi cho vui, nên trái chín rụng đặc gốc mà không thấy ai lượm mang về … hoặc hái trái đang còn trên cây ăn thử …. Rồi có cả một khoảng đất trống nuôi những chị gà đẻ trứng. Hỏi những người chăm sóc gà mới biết gà ở đây ăn toàn bằng những trái cây chín rụng, không dùng loại thực phẩm chế biến sẵn như các nơi nuôi gà công nghiệp. Gà đẻ nhiều lắm; chúng đẻ đầy các ổ lót sẵn bằng ván gỗ và cỏ khô; làm tôi liên tưởng những ổ gà lót bằng những chiếc thúng rách miệt nhà quê nơi làng quê tôi.

Buổi sáng, ở một triền đồi còn đọng sương đêm lành lạnh, những chàng nai tơ không lo nghĩ gì cứ thong dong dạo chơi trên những ngọn cỏ còn ướt những giọt sương.

image

Đàn nai đang hứng sương và ăn cỏ vào sáng sớm

Bao quanh ngọn đồi này, chỗ nào cũng có những tượng đứng, tượng ngồi, những lu và những khạp, những khúc cây lớn móc bộng ruột làm thành những chiếc mõ. Nơi đây có khoảng mười căn nhà với đầy đủ tiện nghi như máy lạnh, tủ lạnh, phòng khách, phòng ngủ, nhà vệ sinh không thua bất cứ ngôi nhà nào dưới đồng bằng. Thêm vào đó, trước mỗi nhà như vậy người ta có đặt hai bàn tay bằng đồng với vị thế bắt ấn theo nghi thức Phật Giáo (2)

image

Trước cửa một ngôi nhà nghỉ cuối tuần

image

Địa điểm cử hành lễ cưới với một trăm chiếc ghế được cô dâu chú rể tự tay xếp thành vòng tròn

Lưng chừng đồi có một sân lót đá với những bậc thang bằng đá cùng các bức tượng thiếu nữ cũng bằng đá là nơi các cặp phù dâu phù rể chuẩn bị đến nơi hành lễ. Nơi đây cũng dọn sẵn những thức ăn nhẹ và rượu dành cho khách nhăm nhi trước khi dự tiệc cưới chính thức và khiêu vũ dưới sân cỏ thấp.

image

Sân lót đá và cầu thang

image

Những bậc thang bằng đá với những lá cờ xanh đỏ tím vàng mang các dòng chữ Tây Tạng tiêu biểu cho Phật Giáo Tây Tạng

Bắt đầu lễ cưới khoảng 5 giờ chiều thứ Bảy, các cặp dâu phụ, rể phụ tập trung nơi lưng chừng đồi – chỗ có những băng ghế và các tượng với nền lót đá bằng phẳng – rồi bước theo các bậc thang dẫn xuống sân cỏ phía dưới, nơi vòng tròn mà bà con hai họ và khách dự lễ cưới đã ngồi đợi sẵn.

image

Địa điểm khách sẽ dự tiệc cưới và khiêu vũ cùng cô dâu chú r dưới ánh trăng tròn 16 chiếu trên đồi

Đi đầu là cháu gái bốn tuổi làm em bé rải hoa cầm cái giỏ nhỏ đựng đầy những cánh hoa hồng tiến về vòng tròn làm lễ. Khi đến nơi, cháu lấy những cánh hoa trong giỏ rồi đi vòng quanh vòng tròn rải những cánh bông ấy đều lên mặt cỏ.

image

Cháu Sophia từ Boston phụ trách rải hoa mở đầu lễ cưới

Tiếp theo là các cặp dâu phụ và rể phụ, rồi song thân cô dâu, cùng cô dâu tiến xuống vòng tròn phía dưới.

image

Các cặp phù dâu phù rể bắt đầu rời địa điểm tập trung để đến nơi cử hành lễ cưới

Sau khi đón nhận cô dâu từ ông bà nhạc, chú rể và cô dâu tay nắm tay tiến về vị trí cử hành lễ cưới giữa những tràng vỗ tay chào mừng.

Hôn lễ cử hành với nghi thức rất lạ mà tôi chưa bao giờ tham dự lần nào. Người điều khiển chương trình có tên là Govinda với mái tóc xoắn bỏ dài theo sống lưng, mặc chiếc áo màu đỏ như một thổ dân. Ông ta bắt đầu bằng ba tiếng kèn mà tiếng vọng lại của nó kéo dài và lan xa vào không trung giữa lúc mọi người đang chăm chú đôi mắt nhìn về hướng cô dâu chú rể. Rồi những tiếng “OM…OM…OM” lại được cất lên từ người mặc áo đỏ ấy, tượng trưng cho tiếng vọng vang lên từ vũ trụ, theo truyền thuyết cổ xưa, nó biểu hiệu tất cả quyền năng từ các đấng thiêng liêng trong trời đất. Rồi một cô gái cũng mặc áo đỏ bắt đầu mồi lửa vào một cái bình có chứa đồ nhóm lửa và xông khói chung quanh cô dâu chú rể cùng quan khách như mang đến một phép mầu hạnh phúc cho đôi tân lang và tân giai nhân.

Bà Bang Nhãn-Sự nối tiếp trăm năm của nguồn mạch thơ ca nữ Đất Quảng

Nguyễn Hàn Chung

Trang  thơ  Đất Quảng  thực sự được bắt đầu từ giữa thế kỷ XVIII với thơ ca của một người phụ nữ tài hoa : Phạm Lam Anh nữ sĩ nổi tiếng ngang hàng  và có phần sớm hơn ‘’Bà chúa thơ Nôm ‘’ Hồ Xuân Hương theo như nhận định của hai văn thần triều Nguyễn :Trương Đăng Quế và Phạm Liệu .Ngót gần hai trăm năm sau vào cuối thế kỷ XIX mới có một người phụ nữ đất Quảng  làm thơ khác mà đề tài sáng tác cũng lấy cảm hứng từ đất và người Quảng Nam –Đà Nẵng. Đó là bà Bang Nhãn (1853-1927) người ở làng Hà Nha nay là xã Đại Hồng ,huyện Đại Lộc . Trường hợp cuộc đời của bà có hơi giống chút ít với cuộc đời bà Huyện Thanh Quan : Người đời vẫn nhớ tên riêng nhưng lại không thường gọi mà lại gọi bằng chức vị của chồng . Ở đây chồng bà làm bang tá nên bà được quen gọi là bà Bang Nhãn dù tên thật của bà là Lê Thị Liễu .Hiện nay người đời sau cũng chỉ sưu tầm được hai bài thơ của bà: bài Qua Đà Nẵng cảm tác( còn có tên là Thăm Cửa Hàn ) và Vịnh núi Ngũ Hành cảm thán cho nỗi mất mát của quê hương Đà Nẵng khi mảnh đất non trẻ của đất Quảng trở thành nhượng địa cho kẻ thù xâm lược.

Qua Đà Nẵng cảm tác

Rầm rầm ngựa lại với xe qua

Nhượng địa là đây có phải a ?

Liếc mắt nhìn xem phong cảnh lạ

Ôm lòng chạnh tưởng nước non nhà

Nào tay hồ thỉ đi đâu vắng?

Nỡ để giang sơn cực lắm mà!

Nghĩ đến người xưa thương đất cũ

Căm gan riêng giận bác trời già.

Câu khai đề gợi ta nhớ đến một câu khai khác trong bài Thăng Long thành hoài cổ :’’ Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo “ của bà Huyện Thanh Quan song nỗi nhớ  niềm  đau của bà Huyện  là về một tấm cô thành với ‘’nền cũ lâu đài’’  chìm trong cảnh ‘’tang thương, tuế nguyệt ‘’. Nhưng dẫu rằng triều đại có đổi thay chứ giang san Việt vẫn y  nguyên’’nam quốc sơn hà ‘’ thì vẫn còn chấp chịu được,  còn nỗi đau của bà Bang Nhãn không đơn giản là sự giải bày ‘’một mảnh tình riêng’’ mà thật sự là một nỗi xót xa , quặn thắt trước sự đổi thay của non sông mất chủ. Cửa Hàn đã trở thành nhượng địa  ‘’rầm rầm xe ngựa’’ của Pháp với những cảnh trái tai gai mắt  trái với thuần phong mỹ tục nước nhà trở thành ‘’phong cảnh lạ ‘’.Câu thừa tác giả sử dụng dấu chấm hỏi cuối câu nhưng không có dụng ý nghi vấn ,nghi vấn gì nữa  khi lý trí  biết rõ hết rồi nhưng trái tim còn cố  lưu giữ niềm tin mong manh trong âm a ngân dài như muốn trì níu một điều gì khiến ‘’lòng chạnh tưởng’’: ’’Nhượng địa là đây có phải a ?

Hai câu luận vang lên ‘’ Nào tay hồ thỉ đi đâu vắng-Nỡ để giang sơn cực lắm mà !’’có sự đồng điệu với  hai câu kết  của cụ Đồ Chiểu trong bài Chạy Tây’’Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng -Nỡ để  dân đen mắc nạn nầy ‘’. Cũng hàm ý như nhà thơ mù đất Đồng Nai bà kín đáo phê phán những ‘tay hồ thỉ ’’ bình nhật quan lớn huênh hoang khoác lác bây giờ  trước súng gươm xâm lược của cường quyền xâm lược, lộ rõ sự hèn nhát cố hữu  của tầng lớp mình “để giang san cực lắm mà ‘’ Cụm từ ‘’cực lắm mà ‘’ thô mộc  rất Quảng mà không kém phần quặn thắt ,tủi đau.

.Bài Vịnh núi Ngũ Hành  ngôn ngữ thơ có hân hoan hơn thể hiện niềm vui trước thiên nhiên kỳ thú .

‘’Cảnh trí nào hơn cảnh trí này?

Bồng lai thôi cũng hẳn là đây

Núi chen sắc đá màu phơi gấm

Chùa nức hơi hương khói lộn mây

Ngư phủ gác cần ngơ mặt nứơc

Tiều phu chống búa dựa lưng cây

Nhìn xem phong cảnh ưa lòng khách

Khen khéo thợ trời khéo đắp xây!’’

Tứ thơ nằm trong mạch cảm  trước vẻ đẹp  giang san gấm vóc của các thi gia trung đại đậm hơi hướng dân giã tuy vẫn là những thi liệu  Hán -Việt cũ :’’Bồng lai, ngư phủ,tiều phu’’ song sự Nôm hoá đã được tác giả có ý thức vận dụng đa dạng phong phú hơn trong các cụm từ thuần Việt “núi chen sắc đá, chùa nức hơi hương,gác cần,chống búa , ưa, thợ trờivv…’’nhờ vậy trong ngôn ngữ thơ sự trang nhã đài các đã hoà trộn với sự nôm na rất Quảng tạo thơ bà có  một chỗ đứng riêng biệt không lẫn vào đâu, với ai dù đặt  trong mối tương quan với các nhà thơ  làm thơ vịnh cảnh cùng thời hoặc trước sau chút ít của văn lâm đất Quảng nói riêng và văn chương cả nước ,nói chung.

Cùng với nữ sĩ Phạm Lam Anh của thế kỷ XVIII bà Bang Nhãn thật sự đã góp phần làm nên một nét đẹp vô cùng quý giá cho thơ ca nữ đất Quảng trong suốt chiều dài lịch sử hàng  trăm năm.Cho đến hôm nay những người phụ nữ làm thơ đất Quảng vẫn chưa xuất hiện nhiều trên thi đàn cả nước huống hồ thời bấy giờ,cái thời nam tôn nữ ti ấy  đất Quảng địa linh nhân kiệt sản sinh được một người phụ nữ làm thơ Nôm thành thục có bản sắc riêng  như bà Bang Nhãn thật sự là niềm tự hào  vinh dự lớn cho tất cả con cháu chúng ta.

THÁNH ĐỊA MỸ SƠN

LÊ THU THÙY


Có được một đêm ngắm trăng ở Mỹ Sơn, du khách sẽ cảm nhận được cái hơi lạnh của lũng sâu, khói núi, ngàn cây. Ngay đến du khách cũng trở nên huyền ảo khi chiêm bái tượng thần Siva, nữ thần Bhavagati cùng tượng các thần linh, những ngọn tháp lộng lẫy, uy nghi nhưng đầy kì bí cứ nhấp nhô, lung linh. Đó cũng là dịp để du khách thưởng thức tiếng kèn saranai do các nghệ nhân dân gian biểu diễn, hòa cùng tiếng kèn là tiếng trống baranưng âm vang lay động từng vách đá, khe núi. Ngọn núi Hòn Đền âm u càng trầm mặc hơn dưới bóng thời gian.

Khu đền tháp Mỹ Sơn nằm trong một thung lũng kín đáo, giữa những khu rừng
thuộc xã Duy Phú – huyện Duy Xuyên, cách thành phố Hội An 45km về phía Tây, cách thành phố Đà Nẵng 70km về phía Tây Nam, cách Thị trấn Nam Phước (quốc lộ 1A) khoảng 30km về phía tây.

Từ thời xưa, Mỹ Sơn là Thánh địa của vương quốc Champà, đây cũng là nơi đạo Bà La môn được du nhập và truyền bá rộng rãi, là địa điểm hành hương thiêng liêng của hàng chục triều đại và hàng triệu con người. Champà là vương quốc cổ, ngày nay còn sót lại nhiều di tích nằm rải rác dọc miền Trung. Đây là đất mẹ của nhiều vị vua hùng cường trong lịch sử Champà như Khu Liên, Phạm Dật, Chế Mân,… Champà cũng như một số quốc gia ở Đông Nam Á thơi cổ và trung đại đều bị Ấn Độ hóa. Bà La môn là tôn giáo của hòang gia, và tầng lớp quý tộc là những người có trọng trách xây dựng và bảo vệ đền tháp thờ cúng thần linh. Tín ngưỡng chính của vương triều Champà là thờ tự thần – vua và các thần linh bảo hộ vương quốc cũng như vương quyền. Vương quốc Champà kéo dài suốt dải đất miền Trung, từ Quảng Bình đến Bình Thuận. Trong đó, vùng đất Quảng Nam với tên gọi xưa là Amaravati, được các văn bia cổ nhắc đến như là trung tâm của vương quốc Champà trong một giai đoạn khá dài. Do ảnh hưởng của nền văn minh Ấn Độ rất sớm, vương quốc Champà sử dụng thể chế hành chính giống như Ấn độ, nghĩa là trong một vương quốc có nhiều tiểu vương quốc gọi là manđala. Các tu sĩ Bà La Môn từng đi khắp đó đây giảng đạo, cầu nguyện, tham thiền. Họ đã để lại những dấu vết đã tàn phai ở các đền tháp và những tác phẩm điêu khắc, được tìm thấy từ các nơi thờ phụng vua chúa, đền đài, thành quách và nhất là kinh đô của các tiểu vương quốc. Những địa điểm quan trọng nhất liên quan đến tín ngưỡng Champà ấy là Thánh đia Mỹ Sơn (Quảng Nam) và Thánh đô Pô-Nagar (Khánh Hòa). Hai nơi này một là nơi thờ phụng Bhadravarman, vị vua đã sáng lập dòng vua đầu tiên của vùng Amaravati vào cuối thế kỷ  kết hợp với thờ phụng thần Siva, trở thành tín ngưỡng chính thờ thần – vua và tổ tiên hoàng tộc và nơi khác thờ Thần – Mẹ chính là nữ thần Bhavagati (Thiên Y-A-Na) người tạo dựng vương quốc Chapà Pô-Nagar Nha Trang.

Theo các thư tịch cổ thì Mỹ Sơn được xây dựng từ cuối thế kỉ thứ IV, dưới triều vua Bhadravarman. Những dòng chữ ghi trên tấm bia sớm nhất ở Mỹ Sơn, cho biết vua Bhadresvara đã xây dựng một ngôi đền để dâng cúng vua thần Siva- Bhadravarman. Hơn hai thế kỷ sau đó, ngôi đền đầu tiên được xây dựng bằng gỗ đã bị thiêu huỷ trong một trận hỏa hoạn lớn.
Vào đầu thế kỷ thứ 7, vua Sambhuvarman đã xây dựng lại ngôi đền bằng những vật liệu bền vững hơn, còn tồn tại đến ngày nay. Các triều vua sau đó đều tu sửa các đền tháp cũ và xây dựng đền tháp mới để dâng lên các vị thần của họ. Đức vua Pramesvaraman cuối thế XIII là người cuối cùng trùng tu và xây dựng Mỹ Sơn. Ngòai ra hai vị vua: Harivarman (1074) và Jaya Harivarman (1157) cũng có công trùng tu và xây dựng lại thánh địa Mỹ Sơn, các vị vua này đều được thờ cúng tại đây. Với hơn 70 công trình kiến trúc bằng gạch đá, được xây dựng từ thế kỷ thứ 4 đến thế kỷ 13, Mỹ Sơn trở thành trung tâm kiến trúc quan trọng nhất của Vương quốc Champà.

Mỗi thời kỳ lịch sử, các công trình kiến trúc mang phong cách riêng, cũng như mỗi đền tháp thờ những vị thần, những triều vua khác nhau tạo nên đường nét kiến trúc đầy dấu ấn, nhưng nhìn chung hầu hết các tháp Chàm đều được xây dựng trên một mặt bằng tứ giác, chia làm 3 phần: Ðế tháp biểu hiện thế giới trần gian, vững chắc. Thân tháp tượng hình của thế giới thần linh, kỳ bí mê hoặc. Phần trên cùng là hình người dâng hoa trái theo nghi lễ hoặc hình cây lá, chim muông, voi, sư tử… động vật gần gũi với tôn giáo và cuộc sống con người. Thánh địa Mỹ Sơn tiêu biểu cho nền văn minh Champà thời phát triển rực rỡ tồn tại trên hàng chục thế kỉ. Mặc dù thời gian cùng chiến tranh đã biến nhiều khu tháp thành phế tích nhưng những hiện vật điêu khắc, các công trình kiến trúc còn sót lại cho đến ngày nay vẫn còn để lại những phong cách thể hiện từng giai đoạn lịch sử của nền mỹ thuật dân tộc Champà, những kiệt tác đánh dấu một thời huy hoàng của văn hoá Chàmpa.

Vào năm 1898, di tích Mỹ Sơn được phát hiện bởi một học giả người Pháp tên là M.C Paris. Vào những năm đầu thế kỷ 20 này, 2 nhà nghiên cứu của Viễn Đông người Pháp là L.Finot và L.de Lajonquière và nhà kiến trúc sư kiêm khảo cổ học H. Parmentier đã đến Mỹ Sơn để nghiên cứu văn bia và nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc Chăm. Cho đến những năm 1903-1904 những tài liệu cơ bản nhất về bia ký và nghệ thuật kiến trúc Mỹ Sơn đã được L.Finot chính thức công bố. Từ năm 1981 đến 1991, Mỹ Sơn được bảo quản và tu sửa từng phần với sự giúp đỡ về chuyên môn của công ty P.K.Z (Ba Lan).

Đặc biệt ngày nay kỹ thuật kết dính vật liệu không có mạch hồ trong việc xây dựng đền tháp ở Mỹ Sơn vốn là một bí ẩn luôn kích thích sự tìm tòi, nghiên cứu đã bước đầu được khám phá. Các nhà khoa học đã áp dụng kỹ thuật này trong quá trình trùng tu, tôn tạo các khu đền tháp.

Tháng 12 năm 1999 khu đền tháp Mỹ Sơn đã được UNESCO tôn vinh di sản văn hóa thế giới. Cũng từ ngày ấy nó được trả về tên tuổi buổi hòang kim THÁNH ĐỊA MỸ SƠN. Mỗi ngày, Mỹ Sơn đón hàng trăm du khách, hơn 90% trong số ấy là người nước ngòai đến tham quan du lịch, nghiên cứu và khám phá.

Chuyện phía sau bài thơ “Tình già”

45 tuổi, Phan Khôi viết bài thơ “Tình già”, trong đó câu “Hai mươi bốn năm sau, tình cờ đất khách gặp nhau” là nói đến một chuyện tình ngang trái của ông hồi 21 tuổi.

Ông Phan Khôi và người vợ chánh năm 1956 tại Hà Nội. (Ảnh tư liệu của gia đình).

Năm 1908, vì tham gia chống Pháp, Phan Khôi bị bắt giam tại nhà lao Hội An, lúc ấy ông chưa tròn 21 tuổi. Tại đây, ông đã lọt vào “mắt xanh” của một thiếu phụ trạc tuổi ông, vợ một võ quan hàng tứ phẩm trông coi nhà tù. Thấy ông là một thanh niên khí phách, vào tù chỉ vì tội tham gia lật đổ chế độ cai trị của thực dân Pháp, còn mình làm vợ viên võ quan này là do sự ép buộc nào đó, bà đem lòng yêu người tù nhân trẻ tuổi.

Một hôm, một bạn tù trao cho Phan Khôi cái gói lớn có mười miếng trầu têm kiểu Huế, mười miếng cau tươi bửa để dính nhau, thêm mười miếng vỏ chay và mấy chùm hoa sói. Ông hỏi thì người bạn tù bảo là của bà Ch. nhờ đưa cho ông. Ông lắc đầu: “Tôi có biết bà ấy là ai đâu, tôi không nhận”. Người đưa cái gói kể đầu đuôi: “Lâu nay tôi phục dịch hằng ngày trong nhà ông Ch. Tôi được bà Ch. tin cậy đem tình riêng ngỏ với tôi. Bà nói bà thấy thầy thì thương lắm, bữa nay gửi vật nhỏ này làm tin, mong ngày khác thầy cho bà gặp mặt để nói chuyện”.

Nghe vậy, ông Phan không biết nói sao, cũng nhận gói trầu cau, nhưng thầm nghĩ: “Mình mà dính líu vào bà này, nếu chồng bà ta hay được, cũng khó cho mình. Khi họ là người có quyền thế trong tay, mà mình chỉ là một tên tù!”.

Bữa nọ, ông Ch. sai lính vào nhà lao hỏi thầy đội coi trong đám tù nhân có ai viết chữ tốt thì lấy một người ra nhà viết câu đối cho ông. Trong lao đều nhất loạt cử chàng tù nhân trẻ tuổi Phan Khôi. Khi ông Phan theo lính đến nhà ông Ch. thì đã thấy bày mấy vuông lụa đỏ và một nghiên mực lớn. Ông Ch. ngồi trên sập giữa nhà, người to lớn, mặt đen, mũi to, trông khoảng chừng 50 tuổi, hất hàm chào người tù. Một thiếu phụ còn trẻ lắm, người trắng trẻo, khuôn mặt trái xoan, cổ quấn khăn nhiễu điều, ngồi bên kia sập.

Ông Ch. hỏi người tù có biết uống rượu không, rồi quay sang bảo thiếu phụ vào trong đem ra một chai rượu thuốc, rót đưa ông Phan một cốc đầy. Lúc ấy, ông Phan mới biết thiếu phụ chính là bà Ch.

Trong khi người tù viết, ông Ch. cứ ngồi nhắc chừng, chữ này viết thế này, chữ kia viết thế kia làm chàng trai muốn nổi cáu. Thiếu phụ chừng như biết ý, nói cùng chồng: “Tôi xem người này viết thạo, ông cứ để cho người ta viết tự do, khỏi phải nhắc nhở!”. Ông Ch. gạt ngang: “Mình nói lạ! Câu đối lụa ít tiền lắm sao!”. Thiếu phụ không nhịn được, cãi lại: “Nhưng có ai làm hư của ông đâu, ông cứ kèm một bên thì ai mà viết được!”…

Sau lần đó, một hôm, nhân chồng đi việc quan, bà Ch. sai người tin cậy vào nhà lao mời chàng trai tù nhân ra cho bà gặp, có người tâm phúc cảnh giới bên ngoài. Bà tiếp chàng trai trong một buồng xép. Ông Phan ngồi trên chõng nhỏ, bà ngồi ghế bên cạnh, đặt tay lên vai ông, dịu dàng hỏi: “Chớ anh làm chi mà họ bắt tù anh?”. Ông Phan trả lời một câu có vẻ bâng quơ mà hóm hỉnh: “Nội một việc tôi dám đến đây cùng bà là đủ mắc tội rồi!”. Vừa lúc ấy, người cảnh giới giơ cao hai tay làm hiệu. Bà Ch. biết chồng đã về, vội mở cửa cho người tình xuống bếp và dặn cứ ở đó một lúc. Nhưng ông Phan nghe tiếng nói ồ ồ của ông Ch. trên nhà, vội mở cửa bếp, chạy một mạch về nhà lao.

Từ đó, hai người không có dịp gặp nhau nữa. Không biết có phải ông Ch. do mang máng biết không, mà quản vợ rất kỹ… Không biết làm sao gặp được người mình yêu, bà nhờ người tin cậy nhắn ông Phan kiếm cớ đi ngang nhà bà để bà trông thấy.

Mấy tháng sau, ông Ch. dọn nhà sang ở chỗ mới cách nhà lao không xa, hai người trông thấy nhau nhưng không gặp được nhau.

Một bữa, ông Phan nhận được thư của bà Ch. Đó là lá thư đầu tiên mà cũng là lá thư cuối cùng. Trong thư, bà cho biết sắp tới bà đi chữa đồ nữ trang, mong gặp ông tại nhà thợ bạc. Ông Phan cũng đến nhà thợ bạc nhưng người đông quá, hai người chỉ nhìn nhau, không dám hỏi nói gì. Chợt ông Ch. cũng lò dò đến đó, mới thấy bóng ông ta xuất hiện trước cửa, ông Phan đã vòng ra ngõ sau đi một mạch.

Không ngờ đó là lần cuối cùng ông Phan thấy người thiếu phụ đa tình. Vài tháng sau, bà lâm bệnh, được đưa về Huế điều trị một thời gian ngắn rồi có tin bà từ trần. Ông Phan chợt nhớ lại câu bà viết trong thư độ trước như một lời trăng trối: “Yêu nhau mà không được gần nhau, thôi thì sống để dạ, chết đem theo!”.

Chuyện xưa, Phan Khôi đã trút tâm sự trong bài “Tình già”, nhưng trong đó có một chi tiết hư cấu là “tình cờ đất khách gặp nhau. Bởi thiếu phụ ấy đã chết khi ông Phan còn ngồi trong lao.

THANH MINH
(Theo sách “Phan Khôi, tiếng Việt, Báo chí và Thơ Mới” của Vu Gia, xuất bản năm 2003).

Đọc lại bài tựa truyện Kiều năm 1820 của TIÊN PHONG MỘNG LIÊN ĐƯỜNG chủ nhân

Ngày trước, các ấn phẩm in truyện Kiều (đoạn trường tân thanh) của Nguyễn Du, mở đầu thường có hai bài tựa:

- Bài thứ nhất của Tiên Phong Mộng Liên Đường chủ nhân (1820)
- Bài thứ hai của Phong Tuyết chủ nhân Thập thanh thị (1828)

Cùng bài thơ chữ Hán (đề từ – thi vân) của Lương Đường Phạm Lập Trai (Phạm Quý Thích)

Về bài “tựa thứ nhất” của Mộng Liên Đường, viết vào năm 1820, đây là năm Canh thìn, Vua Gia Long băng hà, Vua Minh Mệnh nối ngôi – đồng thời cũng là năm Đại thi hào lâm bệnh qua đời ở kinh đô Huế trong một nạn dịch bệnh đương thời làm chết hàng vạn người. Nói theo kiểu cổ nhân: Mộng Liên Đường đề “tựa” Đoạn trường tân thanh mà Nguyễn Du viết vào khoảng năm 1814 sau khi đi sứ nhà Thanh(bên Tàu) về…
Nghĩa là truyện Kiều đã trình làng được 6 năm, tác giả của nó cũng vừa qua đời; người viết có đủ điều kiện và xúc động ở thời điểm vừa “cái quan định luận” để đề “tựa”. Bài viết ngắn gọn, xúc tích dài chưa đầy hai trang giấy mà có nhiều câu người đời sau dẫn đi dẫn lại. Mở đầu bài “tựa”, Mộng Liên Đường lý giải rất khéo về hai chữ “đoạn trường” : “trong trời đất đã có người tài tình tuyệt thế, tất thế nào cũng có việc khảm kha bất bình.Tài mà không được gặp gỡ, tình mà không được hả hê, đó là cái căn nguyên của hai chữ đoạn trường vậy”.

Sau khi nói về cái lý do mà Tố Như tử đem truyện Thúy Kiều chép trong Lục Phong Tình rồi “dụng tâm đã khổ, tự sự đã khéo, tả tình đã hệt, đàm tình đã thiết, nếu không phải có con mắt trông thấu cả sáu cõi, tấm lòng nghĩ suốt cả nghìn đời thì tài nào có cái bút lực ấy?…
Ta lấy một thiên mực nhạt, xa viếng nàng Kiều, tuy lời văn quê kệch, không đủ sánh với bức giao thiên, song đủ tỏ ra rằng cái nợ sầu của hai chữ tài tình, tuy khác đời mà chung một dạng. May được nối ở đằng sau quyển “Tân thanh” của Tố Như tử, cũng là một khúc đoạn trường để than khóc người xưa.”

tháng hai, niên hiệu Minh Mạng (1820)
viết ở Thán hoa hiên đất Hạc Giang
TIÊN PHONG
Mộng Liên Đường chủ nhân

Tiên Phong và Mộng Liên Đường (đình) là tên hiệu của Quan chức – nhà văn Nguyễn Đăng Tuyển(1795-1880) hậu duệ Trạng Bịu (Nguyễn Đăng Đạo 1651- 1719) quê ở thôn Thượng(tên nôm là làng Bịu Thượng) xã Hoài Bão, huyện Tiên Du, Tỉnh Bắc Ninh.

- Nguyễn Đăng Đạo, đỗ Trạng Nguyên năm 33 tuổi, niên hiệu Chính Hòa, đời  Vua Lê Hy Tông 1683. Năm 1687 ông được cử đi sứ sang Tàu vào chầu Vua Khang Hy nhà Thanh.
Do đối đáp, thi thố văn tài với sứ thần các nước, có các bài đệ lên ngự lãm, được Vua  Khang Hy (một vị Vua nổi tiếng hay chữ) phê cho Trạng Bịu: “Bắc Triều đệ nhất Trạng Nguyên”. Theo sử sách: ông là người trung thực, thương dân, làm tới chức Tham Tụng(Tể Tướng). Ông mất năm Vĩnh Thịnh thứ 15 – vua Lê Dụ Tông phong tặng Lại Bộ thượng thư, Thọ quận công, ban cho bốn chữ “Lưỡng Quốc Trạng Nguyên” và một đôi câu đối:

Tiến sĩ, thượng thư, thiên hạ hữu
Trạng Nguyên, tể tướng, thế gian vô.

- Ông nội của Mộng Liên Đường là Nguyễn Đăng Vỹ, đỗ tiến sỹ năm Bảo Thái (1720 – 1729) đời Lê, làm quan tới hàm Thiếu Bảo, tước Kế Thiện hầu .

-  Cha Mộng Liên Đường là Nguyễn Đăng Chiểu đỗ hương cống(cử nhân)  làm quan đến Hồng Lô tự khanh. Cuối đời Lê loạn lạc ông đưa vợ con lánh lên xứ Đoài, làm nhà thuộc huyện Tiên Phong, trấn Sơn Tây. Thời Lê huyện lỵ Tiên Phong đóng ở xã La Phẩm(nay thuộc huyện Ba Vì – Hà Nội).

- Nguyễn Đăng Tuyển từng đỗ Tú Tài được bổ làm giám sinh ở Quốc Tử Giám. Năm Minh Mệnh thứ 17(1836) được bổ làm tri huyện Vị Xuyên(Tuyên Quang) sau chuyên về Kinh làm chủ sự ở Bộ Hộ rồi được thăng Thừa Chỉ, Thị Độc. Ông là người “vì văn học mà được Vua biết đến” thường được Vua Tự Đức cho ngồi bên cạnh dự các kỳ thi do Vua chủ trì, ông đã soạn các quyển”Đào hoa mộng ký”, “Nam thị quốc phong”, dâng Vua xem, được tán thưởng, chuyển làm trước tác rồi được sung chức Biên Tu Quốc Sử Quán. Năm 1856, ông được bổ Tri Phủ Thuận Thành(Bắc Ninh) rồi xin hưu trí. Tuy đã về hưu,ông vẫn được
Vua cho người về thăm hỏi, lại sai làm Vịnh sử ca.Vào dịp Vua 50 tuổi(ngũ tuần đại khánh) , ông dâng thơ tụng, được ban thưởng, vài năm sau thì mất, thọ 86 tuổi.

Nguyễn Đăng Tuyển – một cây bút tài hoa, ông lưu danh cùng Tố Như tử với tên hiệu “Tiên Phong Mộng Liên Đường chủ nhân” (bài tựa) được dịch in trong sách “Truyện Thúy Kiều” do Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim hiệu khảo, in năm 1925 và tái bản nhiều lần.Nay đọc lại lời bình sâu sắc của ông”xem đến chỗ giấc mộng đoạn trường tỉnh dậy mà căn nguyên vẫn gỡ chưa rồi; khúc đàn bạc mệnh ấy gẩy xong mà oán hận vẫn chưa hả, thì dẫu đời xa người khuất không được mục kích tận nơi, nhưng lời văn tả ra hình như máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thấm ở trên tờ giấy, khiến ai đọc đến cũng phải thấm thía ngậm ngùi, đau đớn như đứt ruột. Thế thì gọi tên”đoạn trường tân thanh” cũng phải.”

Nay đã qua 189 năm, đọc lại bài tựa truyện Kiều của Mộng Liên Đường, kẻ hậu sinh (NK này) vướng duyên hàn mặc(bút mực) vẫn thấy văn chương của bậc tiền bối như nước chảy mây trôi, sâu đậm tình người truyền lại cho con cháu cái tài, cái tình theo cánh Rồng bay lên quả là hứng khởi biết chừng nào?

Góc thành nam Hà Nội, 2-9-2009
NGUYỄN KHÔI cẩn bút.

Tin tu Ly Doi

Nhà nghiên cứu Nguyễn Tiến Văn: Tặng 18.200 cuốn sách và tạp chí Từ giữa năm 2007, Viện Nghiên cứu xã hội (Viện NCXH) TP. HCM đã tiến hành các thủ tục để nhận 18.200 cuốn sách và tạp chí của nhà nghiên cứu, dịch giả Nguyễn Tiến Văn (Canada) trao tặng. Đây là phần lớn số sách được trích ra từ tủ sách gia đình của nhà nghiên cứu này. Sáng 22/9 tới đây Viện NCXH sẽ tổ chức lễ ra mắt thư viện chứa số sách trên tại 149 Pasteur, Q.3, TP. HCM. Chúng tôi có cuộc trao đổi với TS. Nguyễn Thị Hậu, Phó Viện trưởng. 
 * Đến nay thì mọi việc xem như đã tạm hoàn tất, từ buổi lễ ra mắt thư viện sách của nhà nghiên cứu, dịch giả Nguyễn Tiến Văn trao tặng, cá nhân chị đánh giá số sách này như thế nào?-
Nói đúng là Viện NCXH tổ chức lễ tiếp nhận số sách được ông Nguyễn Tiến Văn tặng. Đáng lẽ lễ tiếp nhận phải được tổ chức từ sớm hơn nhưng đến nay, việc xây dựng trụ sở cơ quan mới hoàn tất nên mới tổ chức được. Theo tôi đây là một khối lượng sách lớn và có giá trị trong nghiên cứu về khoa học xã hội và nhân văn.
* Có khoảng bao nhiêu cuốn hoặc bao nhiêu tấn tất cả? Chị có ước đoán được số tiền mà chủ nhân của số sách đã bỏ ra mua không? -
Hiện chúng tôi đã thống kê được 18.200 cuốn sách và tạp chí. Thiệt tình tôi không thể ước đoán được số tiền mà chủ nhân đã bỏ ra để mua số sách này. Tuy nhiên tôi biết rằng sách ở nước ngoài rất đắt, nhất là các bộ từ điển bách khoa và chuyên dụng. Điều quan trọng là chủ nhân đã bỏ nhiều công sức để tìm mua những cuốn sách hay, có giá trị từ nhiều nguồn, nhiều ngoại ngữ và nhiều nước khác nhau, trong suốt một thời gian dài mấy chục năm. Đó là cái mà không thể tính bằng tiền được.
* Chủ đề chính của số sách này là gì? Bên chị đã phân loại chưa, hay còn để ở dạng bảo quản chung? -
Đây là một số sách khá lớn, tương đương một thư viện vào loại trung bình ở Việt Nam hiện nay. Do thời gian qua chúng tôi chưa có điều kiện để phân loại cụ thể. Hiện mới phân loại theo ngôn ngữ (Anh: 17.102 cuốn, Hoa: 803 cuốn, và các ngôn ngữ khác; và theo chủ đề (sách công cụ, như từ điển các loại: 591 cuốn, sách nghiên cứu: 17.399 cuốn, tạp chí: 210 cuốn). Và tạm sắp xếp vào một kho sách mới, riêng biệt, để tiến hành bảo quản bước đầu và sẽ lần lượt làm các công tác nghiệp vụ thư viện.
* Nhà nghiên cứu Nguyễn Tiến Văn chủ động tặng số sách này, hay bên chị chủ động nhận, vì ông ta cũng muốn tặng từ trước đó 1-2 năm nhưng một số cơ quan ở Việt Nam không chịu nhận?
- Qua một người bạn tôi được biết ông Nguyễn Tiến Văn có nhã ý tặng một số sách nghiên cứu cho một viện nghiên cứu hoặc trường đại học trong nước. Tôi không biết đã có cơ quan nào chưa hay không muốn nhận, nhưng khi tôi báo cáo việc này với ông Viện trưởng Viện NCXH, PGS. TS. Phan Xuân Biên thì được sự chỉ đạo là tìm cách liên hệ với ông Nguyễn Tiến Văn để nếu ông Văn đồng ý thì sẽ nhận số sách này.
* Từ khi sách được chuyển bằng container loại lớn về cảng Cát Lái (Q.2, TP. HCM) đến nay là khoảng bao lâu rồi?
- Tháng 4/2007 chúng tôi nhận được giấy báo có lô hàng 300 thùng sách từ Canada gửi về, tại cảng Cát Lái. Ngay sau đó chúng tôi tiến hành làm các thủ tục để nhận lô hàng này. Hoàn tất các thủ tục và nhận hàng mất gần 2 tháng. Sau đó vì chưa có chỗ để nên phải gửi tạm tại một cơ quan bạn, nay mới đưa về trụ sở của viện.
* Thủ tục để nhận số sách này có khó không? Tại sao bên viện của chị lại chấp nhận làm một việc được xem là có tính “nhạy cảm” và gần như “hi hữu” này?- Thủ tục nhận số sách này không khó, nhưng hơi lâu, vì đây là lần đầu tiên có một lô hàng nhập đặc biệt là sách nghiên cứu đã qua sử dụng. Vì vậy cũng cần làm một số văn bản giải trình và đề nghị với UBND TP. HCM và các cơ quan chức năng như Hải quan TP. HCM, Hải quan cảng, Sở Văn hóa Thông tin, Phòng Kiểm tra xuất nhập khẩu văn hóa phẩm (thuộc Sở Văn hóa Thông tin)… Chúng tôi đã được sự chấp thuận và giúp đỡ của các cơ quan này nên đã nhận được lô hàng khá suôn sẻ. Là một cơ quan nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn, chúng tôi nhận thấy đây là nguồn tài liệu rất hữu ích cho công việc hiện nay và về sau, cho nhiều thế hệ các nhà nghiên cứu không chỉ ở TP. HCM. Vậy nên có cơ hội thì chúng tôi cố gắng để có được nguồn tài liệu quý này.
* Thư viện hiện nay có đáp ứng đủ không gian và chất lượng khai thác cho số sách này không? Hay bên chị đang chờ một kế hoạch mới?
- Tại Viện NCXH cũng có một thư viện nhỏ. Nay có thêm số sách này thì mặt bằng hiện tại, cũng như trang thiết bị chưa đủ để khai thác nguồn tư liệu này. Chúng tôi đã trình UBND TP. HCM kế hoạch xây dựng thư viện của Viện NCXH với những trang thiết bị tốt hơn, hiện đại hơn, để có thể khai thác và phục vụ có hiệu quả hơn.
* Viện NCXH trước đây là Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn TP. HCM. Nhưng từ 1/10/2008 tới đây Viện NCXH sẽ hợp nhất với Viện Kinh tế và Viện Quy hoạch đô thị thành Viện Nghiên cứu phát triển TP. HCM. Vậy khi hoàn chỉnh việc hoạt động của thư viện này, đối tượng nghiên cứu hay tham khảo số sách này, bên chị có dự trù được chưa?
- Có lẽ phải mất một thời gian nữa để thực hiện các nghiệp vụ thư viện với số sách này thì mới có thể phục vụ bạn đọc. Đối tượng là các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, các cán bộ, giảng viên, sinh viên có nhu cầu. 
VĂN BẢY thực hiện 
Box: Nhà nghiên cứu, dịch giả Nguyễn Tiến Văn từ chối trả lời phỏng vấn về sự kiện này, ông chỉ nói như vầy: “Tôi thấy mình cũng đã lớn tuổi rồi, sức sử dụng số sách chuyên ngành này đã bắt đầu suy giảm, tôi muốn được chia sẻ nó với nhiều độc giả khác, nhưng nếu tại tư gia ở Toronto (Canada) thì rất khó, vì ở đó các thư viện công cộng rất phong phú và khổng lồ. Tôi muốn tặng cho các bạn đọc ở Việt Nam và rất vui khi Viện NCXH đã đồng ý tiếp nhận. Tôi chỉ hi vọng một điều là sẽ có nhiều người đến tham khảo và chia sẻ các thông tin mà thư viện nhỏ này có thể cung cấp được”. 

 

TÚ QUỲ – DANH SĨ QUẢNG NAM

              
                ”Chỉ tại văn hay mà chữ dốt
        Tám khoa chưa khỏi phạm trường quy

Nhà thơ  non Côi sông Vị  sau  bao lần  ‘’ tấp tểnh người đi tớ cũng đi – Cũng  lều  cũng  chõng  cũng  đi thi‘’vẫn là anh Tú quèn ăn bám vợ đã thảng thốt ,chua chát tự trào như trên . Có một người thơ  ở Quảng Nam sống cùng thời với  Tú Xương ,nói chính xác hơn là lớn hơn Tũ Xương hơn  bốn mươi tuổi( Tú Xương sinh năm 1870 )cũng nuôi mộng công hầu như ông Tú thành Nam  nhưng đi thi nhiều lần cũng chỉ đỗ cái Tú tài mạt hạng  và  sự thất cơ lỡ vận đó chính là chất liệu tạo nên một hồn thơ trào phúng  đặc biệt có một không hai  của vùng đất Quảng Nam  ‘’chưa mưa đà thấm ‘’nầy. Đó chính là Tú Quỳ  người đã sống và sáng tác gần trọn một trăm năm xuyên qua hai thế  kỷ  (1828-1926).trải qua ba triều :Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức đến  thập niên thứ hai của thế kỷ XX khi Thực dân Pháp bắt đầu khai thác thuộc địa đẩy nhân dân ta vào cảnh cơ cực trăm đường  ông mới ra đi..
       
Nói đến Tú Quỳ người dân Quảng Nam đều biết ông là nhà thơ có biệt tài ứng tác trào phúng ,sử dụng tiếng Nôm thuần thục và biến hoá khôn lường . Ông để lại một số bài thơ  như Cồn con,Dế dũi,Nước lụt ,Vịnh hát bội và một số bài văn tế khá cảm động như :Văn tế thợ rèn,Văn tế ông Chài,Văn tế Lý trưởng …Mỗi bài đều có bản sắc riêng vừa phê phán,mỉa mai đả kích vừa chua xót , phẫn hận trước cảnh khốn khổ  của người dân gánh  chịu thiên tai ,lũ lụt,cộng với  bon cường hào , ác bá cấu kết nhau bòn rút tận xương tuỷ của những đời khố rách .
     
Tuy vẫn không thể thoát ra khỏi thi pháp thơ trung đại ,nhưng  cách tổ chức ngôn từ đặc biệt ở  thơ  ông tạo ra một trường nghĩa đa dạng hơn được lồng trong phong cách trào lộng .Tú Quỳ suốt đời sống sau luỹ tre làng không được ‘’giày dôn anh diện ô tây anh cầm-đi sớm về trưa với tình ’’ (Đi hát mất ô- Tú Xương ) nên mức độ đả kích ,phê phán,châm biếm  không  sắc sảo, cay chua bằng Tú Xương ,cũng không phơi bày hết cái lố lăng,kêch cỡm, cái quái gở,lố bịch  của buổi đầu thị dân tiếp xúc với văn hoá phưong tây .Tuy thế chất thô mộc ,bình dân nặng về ứng tác mang dấu ấn địa phương  rất  được  nhiều thế hệ nhân dân Quảng Nam ưa chuộng nhưng   rất tiếc lại ít được phổ biến rộng ra trong cả nước . Bài Vịnh hát bội  sau đây rất được truyền tụng ở Quảngt Nam  :

Nhỏ mà không học, lớn làm ngang
Trống đánh ba hồi đã thấy quan
Ra rạp, ngồi trên ba đứa hiệu
Vô buồng đứng dưới mấy ông làng
Còn màu son phấn :ông kia nọ
Cởi lốt cân đai :chú điếm đàng
Tuy chẳng vinh chi nhưng cũng sướng
Đã từng trợn mắt lại phùng mang.

Hát bội là một loại hình nghệ thuật vốn được nhân dân khu Năm nóí chung và nhân dân Quảng Nam ưa chuộng ,phần lớn là những tuồng tích cổ như  Sơn Hậu, Ngũ hổ bình Liêu ,Võ Tòng sát tẩu v.v.. Thông qua bài Vịnh hát bội Tú Quỳ sử dụng cách nói bóng gió ,ám dụ ,đa nghĩa kiểu hình tượng hướng tới tượng trưng để châm biếm thói háo… của bọn hào lý đương thời nhưng  hàm nghĩa  ám dụ không chỉ dừng lại ở đó,nó  cũng đã khái quát   một cái lẽ sống của hạng người cố chết cố sống  mượn’’ màu son phấn’’bất kể vinh nhục kiếm cho bằng được áo mão cân đai che cái lốt điếm đàng, cốt để được ‘’sướng’’  ‘’trợn mắt ,phùng mang’’  ra oai với bàn dân thiên hạ .
Bài’’ Văn tế thợ rèn’’  viết về người và nghề thợ rèn có những câu  văn phong lẫm liệt :
       
 ”Mình nương dưới bệ kẻ gươm đao theo cậy sức dồi mài
 Tay dựng một lò ,người cày cuốc thày nhờ ơn rèn thổi
 Cân sắc tài từ lúc ,lời nói như rựa chém xuống đất hẹn với trời già
 Ra gan dạ con người ,việc làm như lửa đổ trên đầu chết không kịp trối

     
Quê ông ở làng Giáng Hoà nay là xã Đai Thắng huyện Đại Lộc tỉnh Quảng Nam suốt đời ông sống gần gũi với bà con họ mạc hiểu được nỗi  khao khát,niềm đau của những con người dân cày bị những ông hương ,cụ lý ức hiếp mà chỉ biết nín chịu . Ông chia sẻ  buồn vui bất hạnh với họ :
      
 ”Thảm thiết bấy mấy đời tiện tặn, chịu ăn hoài dao lụt hơn chín mười năm-Não nùng thay chút phận rủi ro,như tan mất lưỡi cày cực trăm ngàn nỗi…’’
   
Trong nhiều câu ông chuyển sự phản ánh mang tính chất cảm tính thành sự khái quát của tư duy hình tượng  mỗi sự vật  đều có thể là hình tượng trong suốt của một hàm nghĩa khác :
       
’’Dao oan nghiệt khéo mài chi quá bén cắt đứt tóc tơ…Mới đó mà cán đành bỏ lưỡi,phận lao đao chi xiết nỗi sầu riêng…Hôm nay hẩy lò than un giác đỏ,ngọn lửa hương thêm nóng ruột trăm chiều-Ngày mai vừa lát cuốc đắp mồ xanh,nấm đất đỏ đã chôn tình một khối’’
   

Bài ‘’Văn tế ông Chài’’ông sử dụng văn Nôm – Hán vô cùng biến hoá  mà chính xác, nét tài hoa và sáng tạo trong cách dùng những từ  láy thuần Nôm rất đáng cho đời sau học tập .
       
Non Đoài lúc ác vàng đã xế,xình xoàng hơi cúc chén ngả nghiêng-Biển Chấn khi thỏ ngọc vừa lên,nhắm nhía mây giăng chân lính quýnh
    
Những từ láy Nôm ‘’xình xoàng,nhắm nhía,lính quýnh.v.v.’’vốn là tiếng nói cửa miệng của người nông dân quê ông được tích hợp với các điển cố ‘’nhợ Hàn,câu Lữ,non Đoài,biển Chấn.v.v’’của văn phong chữ Hán như có lực hơn đã đưa vào văn học chiều sâu thầm kín của thế giới tâm hồn nghệ sĩ của tác giả. Một số từ thường được dân chài sử dụng cũng được ông khéo léo sắp xếp ‘’Gió bê gọng rớ…Nò vay đó xạc…sóng choạ mây giăng…cái bửng cái mui v.v….Bài Văn tế ông Chài rất xúc động  đã bước vào chiếu văn chương vượt xa các bài văn tế mùi mẫn nhưng mòn sáo đương thời .Tuy  nhiên trong bài văn ai nầy chất trào phúng mang dáng dấp Tú Quỳ không phải là không có. Đó chính là biệt tài của ông
         
 ”Những tưởng ngày xuân hỡi rộng , ước trăm năm cõi thọ là bao
 Nào hay giấc điệp đành ngang, chỉ một phút dứt tình vội ẻ!

Hay:
 ”Sóng thần choạ mây chăng nước ngược ,lưới âm dương thôi đã lủng rồi”
   
Các từ ‘’ ngang, ẻ, lủng ‘’ được dùng trong ngôn ngữ văn nói trào lộng  của người Quảng Nam chính hiệu được tác giả sử dụng trong một bài văn  tế mà điều cốt tử là phải càng trữ tình càng bi thương càng tốt mà không bị sự phản cảm của tang gia mới thật là tài. Điều đó chứng tỏ tài nghề cao tay của  bác Tú Quỳ đất Quảng.
  
 Tú Quý còn viết nhiều thể loại văn chương khác.  Ngoài thơ và văn tế ông còn có nhiều câu đối rất có giá trị ,một số bài vè châm biếm sắc sảo,ngoài ra mảng thư tín của ông với bằng hữu trong giới văn lâm  cũng rất có giá trị về mặt văn chương và sử liệu tái hiện con người và cuộc sống của một vùng quê nghèo Quảng Nam gần một trăm năm binh lửa. Tác phẩm của nhà thơ trào phúng Tú Quỳ cần phải được  các nhà nghiên cứu văn học giành một vị trí thích đáng trong dòng văn học trào phúng thế kỷ XIX – XX   cạnh các nhà thơ Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Tú Mỡ.

                    
               
Tài liệu tham khảo
1-Thơ Miền Trung TK XX NXB Đà Nẵng 1995
2- Chương dân thi thoại –Phan Khôi
3-Trăm năm thơ đất Quảng NXB Hội Nhà Văn  2005

TÚ QUỲ – DANH SĨ QUẢNG NAM

              
                ”Chỉ tại văn hay mà chữ dốt
        Tám khoa chưa khỏi phạm trường quy

Nhà thơ  non Côi sông Vị  sau  bao lần  ‘’ tấp tểnh người đi tớ cũng đi – Cũng  lều  cũng  chõng  cũng  đi thi‘’vẫn là anh Tú quèn ăn bám vợ đã thảng thốt ,chua chát tự trào như trên . Có một người thơ  ở Quảng Nam sống cùng thời với  Tú Xương ,nói chính xác hơn là lớn hơn Tũ Xương hơn  bốn mươi tuổi( Tú Xương sinh năm 1870 )cũng nuôi mộng công hầu như ông Tú thành Nam  nhưng đi thi nhiều lần cũng chỉ đỗ cái Tú tài mạt hạng  và  sự thất cơ lỡ vận đó chính là chất liệu tạo nên một hồn thơ trào phúng  đặc biệt có một không hai  của vùng đất Quảng Nam  ‘’chưa mưa đà thấm ‘’nầy. Đó chính là Tú Quỳ  người đã sống và sáng tác gần trọn một trăm năm xuyên qua hai thế  kỷ  (1828-1926).trải qua ba triều :Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức đến  thập niên thứ hai của thế kỷ XX khi Thực dân Pháp bắt đầu khai thác thuộc địa đẩy nhân dân ta vào cảnh cơ cực trăm đường  ông mới ra đi..
       
Nói đến Tú Quỳ người dân Quảng Nam đều biết ông là nhà thơ có biệt tài ứng tác trào phúng ,sử dụng tiếng Nôm thuần thục và biến hoá khôn lường . Ông để lại một số bài thơ  như Cồn con,Dế dũi,Nước lụt ,Vịnh hát bội và một số bài văn tế khá cảm động như :Văn tế thợ rèn,Văn tế ông Chài,Văn tế Lý trưởng …Mỗi bài đều có bản sắc riêng vừa phê phán,mỉa mai đả kích vừa chua xót , phẫn hận trước cảnh khốn khổ  của người dân gánh  chịu thiên tai ,lũ lụt,cộng với  bon cường hào , ác bá cấu kết nhau bòn rút tận xương tuỷ của những đời khố rách .
     
Tuy vẫn không thể thoát ra khỏi thi pháp thơ trung đại ,nhưng  cách tổ chức ngôn từ đặc biệt ở  thơ  ông tạo ra một trường nghĩa đa dạng hơn được lồng trong phong cách trào lộng .Tú Quỳ suốt đời sống sau luỹ tre làng không được ‘’giày dôn anh diện ô tây anh cầm-đi sớm về trưa với tình ’’ (Đi hát mất ô- Tú Xương ) nên mức độ đả kích ,phê phán,châm biếm  không  sắc sảo, cay chua bằng Tú Xương ,cũng không phơi bày hết cái lố lăng,kêch cỡm, cái quái gở,lố bịch  của buổi đầu thị dân tiếp xúc với văn hoá phưong tây .Tuy thế chất thô mộc ,bình dân nặng về ứng tác mang dấu ấn địa phương  rất  được  nhiều thế hệ nhân dân Quảng Nam ưa chuộng nhưng   rất tiếc lại ít được phổ biến rộng ra trong cả nước . Bài Vịnh hát bội  sau đây rất được truyền tụng ở Quảngt Nam  :

Nhỏ mà không học, lớn làm ngang
Trống đánh ba hồi đã thấy quan
Ra rạp, ngồi trên ba đứa hiệu
Vô buồng đứng dưới mấy ông làng
Còn màu son phấn :ông kia nọ
Cởi lốt cân đai :chú điếm đàng
Tuy chẳng vinh chi nhưng cũng sướng
Đã từng trợn mắt lại phùng mang.

Hát bội là một loại hình nghệ thuật vốn được nhân dân khu Năm nóí chung và nhân dân Quảng Nam ưa chuộng ,phần lớn là những tuồng tích cổ như  Sơn Hậu, Ngũ hổ bình Liêu ,Võ Tòng sát tẩu v.v.. Thông qua bài Vịnh hát bội Tú Quỳ sử dụng cách nói bóng gió ,ám dụ ,đa nghĩa kiểu hình tượng hướng tới tượng trưng để châm biếm thói háo… của bọn hào lý đương thời nhưng  hàm nghĩa  ám dụ không chỉ dừng lại ở đó,nó  cũng đã khái quát   một cái lẽ sống của hạng người cố chết cố sống  mượn’’ màu son phấn’’bất kể vinh nhục kiếm cho bằng được áo mão cân đai che cái lốt điếm đàng, cốt để được ‘’sướng’’  ‘’trợn mắt ,phùng mang’’  ra oai với bàn dân thiên hạ .
Bài’’ Văn tế thợ rèn’’  viết về người và nghề thợ rèn có những câu  văn phong lẫm liệt :
       
 ”Mình nương dưới bệ kẻ gươm đao theo cậy sức dồi mài
 Tay dựng một lò ,người cày cuốc thày nhờ ơn rèn thổi
 Cân sắc tài từ lúc ,lời nói như rựa chém xuống đất hẹn với trời già
 Ra gan dạ con người ,việc làm như lửa đổ trên đầu chết không kịp trối

     
Quê ông ở làng Giáng Hoà nay là xã Đai Thắng huyện Đại Lộc tỉnh Quảng Nam suốt đời ông sống gần gũi với bà con họ mạc hiểu được nỗi  khao khát,niềm đau của những con người dân cày bị những ông hương ,cụ lý ức hiếp mà chỉ biết nín chịu . Ông chia sẻ  buồn vui bất hạnh với họ :
      
 ”Thảm thiết bấy mấy đời tiện tặn, chịu ăn hoài dao lụt hơn chín mười năm-Não nùng thay chút phận rủi ro,như tan mất lưỡi cày cực trăm ngàn nỗi…’’
   
Trong nhiều câu ông chuyển sự phản ánh mang tính chất cảm tính thành sự khái quát của tư duy hình tượng  mỗi sự vật  đều có thể là hình tượng trong suốt của một hàm nghĩa khác :
       
’’Dao oan nghiệt khéo mài chi quá bén cắt đứt tóc tơ…Mới đó mà cán đành bỏ lưỡi,phận lao đao chi xiết nỗi sầu riêng…Hôm nay hẩy lò than un giác đỏ,ngọn lửa hương thêm nóng ruột trăm chiều-Ngày mai vừa lát cuốc đắp mồ xanh,nấm đất đỏ đã chôn tình một khối’’
   

Bài ‘’Văn tế ông Chài’’ông sử dụng văn Nôm – Hán vô cùng biến hoá  mà chính xác, nét tài hoa và sáng tạo trong cách dùng những từ  láy thuần Nôm rất đáng cho đời sau học tập .
       
Non Đoài lúc ác vàng đã xế,xình xoàng hơi cúc chén ngả nghiêng-Biển Chấn khi thỏ ngọc vừa lên,nhắm nhía mây giăng chân lính quýnh
    
Những từ láy Nôm ‘’xình xoàng,nhắm nhía,lính quýnh.v.v.’’vốn là tiếng nói cửa miệng của người nông dân quê ông được tích hợp với các điển cố ‘’nhợ Hàn,câu Lữ,non Đoài,biển Chấn.v.v’’của văn phong chữ Hán như có lực hơn đã đưa vào văn học chiều sâu thầm kín của thế giới tâm hồn nghệ sĩ của tác giả. Một số từ thường được dân chài sử dụng cũng được ông khéo léo sắp xếp ‘’Gió bê gọng rớ…Nò vay đó xạc…sóng choạ mây giăng…cái bửng cái mui v.v….Bài Văn tế ông Chài rất xúc động  đã bước vào chiếu văn chương vượt xa các bài văn tế mùi mẫn nhưng mòn sáo đương thời .Tuy  nhiên trong bài văn ai nầy chất trào phúng mang dáng dấp Tú Quỳ không phải là không có. Đó chính là biệt tài của ông
         
 ”Những tưởng ngày xuân hỡi rộng , ước trăm năm cõi thọ là bao
 Nào hay giấc điệp đành ngang, chỉ một phút dứt tình vội ẻ!

Hay:
 ”Sóng thần choạ mây chăng nước ngược ,lưới âm dương thôi đã lủng rồi”
   
Các từ ‘’ ngang, ẻ, lủng ‘’ được dùng trong ngôn ngữ văn nói trào lộng  của người Quảng Nam chính hiệu được tác giả sử dụng trong một bài văn  tế mà điều cốt tử là phải càng trữ tình càng bi thương càng tốt mà không bị sự phản cảm của tang gia mới thật là tài. Điều đó chứng tỏ tài nghề cao tay của  bác Tú Quỳ đất Quảng.
  
 Tú Quý còn viết nhiều thể loại văn chương khác.  Ngoài thơ và văn tế ông còn có nhiều câu đối rất có giá trị ,một số bài vè châm biếm sắc sảo,ngoài ra mảng thư tín của ông với bằng hữu trong giới văn lâm  cũng rất có giá trị về mặt văn chương và sử liệu tái hiện con người và cuộc sống của một vùng quê nghèo Quảng Nam gần một trăm năm binh lửa. Tác phẩm của nhà thơ trào phúng Tú Quỳ cần phải được  các nhà nghiên cứu văn học giành một vị trí thích đáng trong dòng văn học trào phúng thế kỷ XIX – XX   cạnh các nhà thơ Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Tú Mỡ.

                    
               
Tài liệu tham khảo
1-Thơ Miền Trung TK XX NXB Đà Nẵng 1995
2- Chương dân thi thoại –Phan Khôi
3-Trăm năm thơ đất Quảng NXB Hội Nhà Văn  2005

Bà Bang Nhãn – Sự nối tiếp trăm năm của nguồn mạch thơ ca nữ Đất Quảng

Trang  thơ  Đất Quảng  thực sự được bắt đầu từ giữa thế kỷ XVIII với thơ ca của một người phụ nữ tài hoa: Phạm Lam Anh nữ sĩ nổi tiếng ngang hàng  và có phần sớm hơn ‘’Bà chúa thơ Nôm‘’ Hồ Xuân Hương theo như nhận định của hai văn thần triều Nguyễn:Trương Đăng Quế và Phạm Liệu. Ngót gần hai trăm năm sau vào cuối thế kỷ XIX mới có một người phụ nữ đất Quảng  làm thơ khác mà đề tài sáng tác cũng lấy cảm hứng từ đất và người Quảng Nam – Đà Nẵng. Đó là bà Bang Nhãn (1853-1927) người ở làng Hà Nha nay là xã Đại Hồng, huyện Đại Lộc. Trường hợp cuộc đời của bà có hơi giống chút ít với cuộc đời bà Huyện Thanh Quan: Người đời vẫn nhớ tên riêng nhưng lại không thường gọi mà lại gọi bằng chức vị của chồng. Ở đây chồng bà làm bang tá nên bà được quen gọi là bà Bang Nhãn dù tên thật của bà là Lê Thị Liễu. Hiện nay người đời sau cũng chỉ sưu tầm được hai bài thơ của bà: bài “Qua Đà Nẵng cảm tác” ( còn có tên là Thăm Cửa Hàn ) và “Vịnh núi Ngũ Hành” cảm thán cho nỗi mất mát của quê hương Đà Nẵng khi mảnh đất non trẻ của đất Quảng trở thành nhượng địa cho kẻ thù xâm lược.
                            Qua Đà Nẵng cảm tác

 Rầm rầm ngựa lại với xe qua
Nhượng địa là đây có phải a ?
Liếc mắt nhìn xem phong cảnh lạ
Ôm lòng chạnh tưởng nước non nhà
Nào tay hồ thỉ đi đâu vắng?
Nỡ để giang sơn cực lắm mà!
Nghĩ đến người xưa thương đất cũ
Căm gan riêng giận bác trời già.


 
Câu khai đề gợi ta nhớ đến một câu khai khác trong bài Thăng Long thành hoài cổ :’’ Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo “ của bà Huyện Thanh Quan song nỗi nhớ  niềm  đau của bà Huyện  là về một tấm cô thành với ‘’nền cũ lâu đài’’  chìm trong cảnh ‘’tang thương, tuế nguyệt ‘’. Nhưng dẫu rằng triều đại có đổi thay chứ giang san Việt vẫn y  nguyên’’nam quốc sơn hà ‘’ thì vẫn còn chấp chịu được,  còn nỗi đau của bà Bang Nhãn không đơn giản là sự giải bày ‘’một mảnh tình riêng’’ mà thật sự là một nỗi xót xa , quặn thắt trước sự đổi thay của non sông mất chủ. Cửa Hàn đã trở thành nhượng địa  ‘’rầm rầm xe ngựa’’ của Pháp với những cảnh trái tai gai mắt  trái với thuần phong mỹ tục nước nhà trở thành ‘’phong cảnh lạ ‘’.Câu thừa tác giả sử dụng dấu chấm hỏi cuối câu nhưng không có dụng ý nghi vấn ,nghi vấn gì nữa  khi lý trí  biết rõ hết rồi nhưng trái tim còn cố  lưu giữ niềm tin mong manh trong âm a ngân dài như muốn trì níu một điều gì khiến ‘’lòng chạnh tưởng’’: ’’Nhượng địa là đây có phải a ?

   Hai câu luận vang lên ‘’ Nào tay hồ thỉ đi đâu vắng – Nỡ để giang sơn cực lắm mà !’’ có sự đồng điệu với  hai câu kết  của cụ Đồ Chiểu trong bài Chạy Tây ’’Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng – Nỡ để  dân đen mắc nạn nầy ‘’. Cũng hàm ý như nhà thơ mù đất Đồng Nai bà kín đáo phê phán những “tay hồ thỉ” bình nhật quan lớn huênh hoang khoác lác bây giờ  trước súng gươm xâm lược của cường quyền xâm lược, lộ rõ sự hèn nhát cố hữu  của tầng lớp mình “để giang san cực lắm mà ‘’. Cụm từ  ‘’cực lắm mà ‘’ thô mộc  rất Quảng mà không kém phần quặn thắt, tủi đau. Bài Vịnh núi Ngũ Hành  ngôn ngữ thơ có hân hoan hơn thể hiện niềm vui trước thiên nhiên kỳ thú .

       Vịnh núi Ngũ Hành 
‘’Cảnh trí nào hơn cảnh trí này?
Bồng lai thôi cũng hẳn là đây
Núi chen sắc đá màu phơi gấm
Chùa nức hơi hương khói lộn mây
Ngư phủ gác cần ngơ mặt nứơc
Tiều phu chống búa dựa lưng cây
Nhìn xem phong cảnh ưa lòng khách
Khen khéo thợ trời khéo đắp xây!’’

Tứ thơ nằm trong mạch cảm  trước vẻ đẹp  giang san gấm vóc của các thi gia trung đại đậm hơi hướng dân giã tuy vẫn là những thi liệu  Hán -Việt cũ :’’Bồng lai, ngư phủ,tiều phu’’ song sự Nôm hoá đã được tác giả có ý thức vận dụng đa dạng phong phú hơn trong các cụm từ thuần Việt “núi chen sắc đá, chùa nức hơi hương,gác cần,chống búa , ưa, thợ trờivv…’’nhờ vậy trong ngôn ngữ thơ sự trang nhã đài các đã hoà trộn với sự nôm na rất Quảng tạo thơ bà có  một chỗ đứng riêng biệt không lẫn vào đâu, với ai dù đặt  trong mối tương quan với các nhà thơ  làm thơ vịnh cảnh cùng thời hoặc trước sau chút ít của văn lâm đất Quảng nói riêng và văn chương cả nước ,nói chung.
 Cùng với nữ sĩ Phạm Lam Anh của thế kỷ XVIII bà Bang Nhãn thật sự đã góp phần làm nên một nét đẹp vô cùng quý giá cho thơ ca nữ đất Quảng trong suốt chiều dài lịch sử hàng  trăm năm.Cho đến hôm nay những người phụ nữ làm thơ đất Quảng vẫn chưa xuất hiện nhiều trên thi đàn cả nước huống hồ thời bấy giờ,cái thời nam tôn nữ ti ấy  đất Quảng địa linh nhân kiệt sản sinh được một người phụ nữ làm thơ Nôm thành thục có bản sắc riêng  như bà Bang Nhãn thật sự là niềm tự hào  vinh dự lớn cho tất cả con cháu chúng ta.

Phạm Lam Anh Nữ Sĩ – Người mở đầu cho thơ ca Quảng Nam

Thật là một hạnh phúc bất ngờ cho con người xứ Quảng khi được biết bậc tiền bối mở đầu cho ‘’dằng dặc trầm hùng một mạch thơ ‘(1) trăm năm Đất Quảng không phải là một vị mày râu đại khoa nào đó mà là một bậc nữ lưu : Phạm Lam Anh nữ sĩ .Bà sinh khoảng nửa đầu thế kỷ XVIII tại huyện Diên Phước ,dinh Quảng Nam nay thuộc huyện Điện Bàn,tỉnh Quảng Nam nổi tiếng văn chương từ thuở nhỏ được giới văn lâm thơì bấy giờ xưng tụng sánh ngang với Hồ Xuân Hương nữ sĩ “ Nguyệt Đình,Huệ Phố tài danh nổi -Thơm ngát vườn thơ có Phạm ,Hồ ‘’(Đề tặng Diệu Liên thi tập )(2) hoặc “Trong giới nữ lưu từ trước tới giờ không có ai thơ hay bằng bà Phạm ‘’(Phạm Liệu ).Cái kỳ lạ ở người nữ sĩ tài hoa khai sinh cho thơ ca đất Quảng là thơ bà chỉ mới tìm lại được có ba bài thơ chữ Hán (3) nhưng cả ba bài đều viết về ba người danh thần, hào kiệt mà cuộc đời đầy bi kịch: Khuất Nguyên ,Kinh Kha, Hàn Tín và một bài thơ chữ nôm : Vịnh cảnh gần sáng . Bà từng tự hiệu Ngâm Si cùng chồng viết một tập thơ lấy tên Chiến cổ đường thi (ngôi nhà thơ chống lại cái xưa ), Điều ấy chứng tỏ khí phách của bậc tiên hiền khai cơ trang thơ đất Quảng phải là một nữ lưu hào kiệt mà trăm năm về sau không dễ kiếm tìm. Cả ba bài đều được bà viết dưới thể Thất ngôn tứ tuyệt mỗi bài đều thể hiện nét khí khái riêng rất Quảng của Bà.Bài Khuất Nguyên bà mượn ý câu thơ ‘’Mọi người đều say riêng mình ta tỉnh’’của Khuất Nguyên trong Sở từ để hiển lộ mối đồng cảm với nỗi cô phẫn của bậc trung thần

‘’Cô phẫn khí thành thiên khả vấn- Độc tinh (tỉnh )nhân khứ quốc cơ không’’

( Quách Tấn dịch :Khí uất riêng thành trời khá hỏi- Người ngay một khuất nước còn chi’’).(4)

Bài Kinh Kha tuy bà vẫn không thoát khỏi quan niệm (nhân nguyện -thiên ý) của người xưa khi viết “ Kế xảo kỳ như thiên ý xảo -Đồ cùng phiên sử tráng tâm cùng’’

(Tạm dịch : Mưu khéo sao bằng trời sắp khéo-Đường cùng chí lớn cũng tâm cùng )nhưng tấm lòng hồn hậu khẳng khái mà vẫn rất bao dong của người xứ Quảng đã phản bác quan niệm của một số kẻ sĩ thời thất quốc cũng như thời bấy giờ cho rằng do Kinh Kha hành thích Tần hoàng khiến y nổi giận mà chinh phạt nước Yên cũng như gồm thâu thất quốc .Bà đã thấu hiểu ý đồ thống nhất lên ngôi hoàng đế của Tần vương Chính nên xem việc Kinh Kha sang Tần hành thích Tần Vương chỉ là một sự việc tất yếu phải xảy ra có tính quy luật không phải là nguyên nhân tai hoạ xoá sổ Thất hùng như một số sử gia quy buộc.Bài Hàn Tín bà lại nêu một sự việc khác ,bà đồng quan điểm với Tư Mã Thiên bậc sử gia hàng đầu của Trung Hoa khi chê cái kém mà laị ngầm khen cái trung của Hàn khi không chịu hoà với Sở mà chia ba thiên hạ để dẫn đến cái hoạ diệt vong “Sàm ngư bất ngộ thu Tuy thuỷ-Cao điểu đồ bi tận Hán thiên ‘’( Lê Hoài Nam dịch : ‘’Sau trận thắng ở Tuy thuỷ ,không sớm tỉnh ngộ còn tham ăn cá –Thương xót uổng hoài đã hết chim bay cao trên trời Hán ‘’đồng thời biểu lộ nỗi cảm khái như bất cứ bậc mày râu nào trước quy luật ‘’Thỏ khôn chết thì chó giỏi bị làm thịt,chim bay cao hết thì cung tốt bị xếp xó,nước địch bị phá thì mưu thần hết đời ‘’ (Lời Hàn Tín khi bị Lữ Hậu bắt ).Ba bài tuyệt cú viết về người chiến bại của bà khí khái , sang sảng, hào hùng , thống thiết khác nào thơ của nữ sĩ Lý Thanh Chiếu đời Tống khi viết về người anh hùng thất cơ Hạng Vũ “ Sinh vi tác nhân kiệt -Tử diệc vi quỷ hùng –Chí kim tư Hạng Vũ -Bất khẳng quá Giang Đông’’.( Tạm dịch :’’Sống làm người hào kiệt -Chết cũng ma anh hùng -Nay còn nhớ Hạng Vũ -Không chịu sang Giang Đông’’Tài hoa như Bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương hay các nữ sĩ cùng thời với bà như Mai Am nữ sĩ ,Nguyệt Đình tức Quy Đức công chúa,Huệ Phố tức Thuận Lễ công chúa( cùng là em ruột nhà thơ Tùng Thiện Vương Miên Thẩm) khi làm thơ chứ Hán cũng ít động bút bình phẩm đến đề tài này . Về thơ Nôm của bà,tiếc thay chỉ còn được đời lưu lại vỏn vẹn một bài thơ :Bài Vịnh cảnh gần sáng .Bút pháp nhuần nhuỵ, hồn nhiên mà vẫn không mất vẻ tao nhã đài các lại rất hóm hỉnh có duyên :

Vịnh cảnh gần sáng(5)

Một giải thương lang lộn mắt mèo

Xóm chài mới dậy đuốc leo heo
Lằn kêu thức chúa chầu sân phụng

Gà gáy khuyên chồng dõi dấu cheo

Ải sói Thường Quân vừa cất bước

Thuyền tên Gia cát vội phăng neo

Phương đông chửa lố vừng con ác

Cửa Khổng nho sinh nhóm tựa bèo

Sáng tác luật thi mà chọn vần eo thì đúng là hiểm vận thế nhưng bà viết như chơi .Câu thừa bà sử cụm từ ‘’ đuốc leo heo ‘’ tổng hợp cả hai từ leo pheo,heo hút là thấu lẽ vô cùng diễn được cái đơn côi , ít ỏi ,hoang vắng của một xóm chài lúc trời gần sáng .Nó không có cái náo nhiệt của khúc sông dân thương hồ buôn bán tấp nập .Hình ảnh nước sông trong như mắt mèo cộng hưởng với ngọn đèn chài heo hắt gợi ta liên tưởng đến hình ảnh “ giang phong, ngư hoả ,cô phàm ,bích không tận,trường giang thiên tế lưu ‘’ thường được các nhà thơ đời Đường sử dụng ,liên tường mà vẫn phân biệt rõ ràng chất quê kiểng,thô mộc rất Quảng của ngôn ngữ thơ với các hình ảnh mang tính ước lệ của thi pháp thơ Đường.Các cặp câu thực và luận bà trung thành với thi pháp thơ trung đại với hàng loạt các điển cố ‘’lằn kêu,gà gáy,Thường Quân,Gia Cát …’’tuy khó hiểu với các bạn trẻ bây giờ nhưng quá quen thuộc đối với giới nho lâm đương thời .Hai câu kết mà đặc biệt câu thơ cuối cùng bà hạ cụm từ ‘’nho sinh nhóm tựa bèo’’là một sự bứt phá hồn nhiên khá hóm .Cái nhóm nho sinh vin vào cửa Khổng sân Trình ấy có khác chi cánh bèo .Trong số xúm xít lúc “Phương đông chưa lố vừng con ác ‘’ ấy có bao người công thành danh toại áo mũ vinh quy hay hầu hết mà có khi là tất cả chỉ là anh thí sinh lạc đệ ,thân phận có khác chi ngọn đuốc leo heo,cánh bèo trôi giạt uổng công ‘’lằn kêu gà gáy,’’của người bạn tao khang.’’thức chúa ,khuyên chồng’’. , Trượng phu ,má hồng cảm khái sự đời nào khác chi nhau ?

Có thể tất cả những cảm nhận nầy có tính chất chỉ là sự suy diễn chủ quan của người viết nhưng một điều không ai có thể phủ nhận là trong thơ Phạm Lam Anh nữ sĩ, thơ chữ Hán cũng như chữ Nôm tuy chỉ còn lại mấy bài song lời thơ khí khái ,ngôn ngữ môc mạc,chơn chất mà hóm thật sự có tính chất điển hình cho thơ ca đất Quảng được hình thành qua thực tế lịch sử , địa lý ,cuộc sống đúng như lời của GS Nguyễn Văn Hạnh khi nhận định về Phạm Lam Anh nữ sĩ trong ‘’Suy nghĩ về thơ Đất Quảng’’:

‘’ Trong cuộc đời riêng ,trong tình yêu và hôn nhân bà đã sống chân thật, tự do và khí phách thế nào thì trong thơ bà ta bắt gặp nhân cách bản lĩnh ấy sự cảm nhận,suy nghĩ, không theo thói thường,có tính chất phá cách ấy .Phải chăng đó cũng là một cái gì tiêu biểu cho tâm hồn và tính cách con người Quảng.? (6)

(1)(6 ) : Nguyễn Văn Hạnh -Trăm Năm Thơ Đất Quảng NXB Hội Nhà Văn 2005

(2): Diệu Liên thi tập : thơ Mai Am hiệu Diệu Liên tức Lại Đức công chúa(1826-1904)

(3) Nam hành ký đắc tập của Phạm Nguyễn Du (Thư viện Hán Nôm –Hà Nội )

(4)(5) theo Quách Tấn -Nét bút giai nhân NXB Hà Nội 1977

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.