Cảm đề bậc sáu

Nguyễn Hàn Chung

tôi móc tôi ra từ đống bùi nhùi
gương mặt trẻ ranh dễ dụ
rơi theo những tấm ảnh đàn bà cởi truồng
tội nghiệp
nhìn mà không thấy ngứa.

hồi hai mươi đấm tay vào bức tường
bàn tay tóe máu

bốn mươi gắng gỏi luồn tay vào giẻ rách
chung buồn chiếu manh

sáu mươi nhúng tay vào hố rác
bàn tay quắt queo
vết trầy xước khối u đau âm ỉ
quần quật tôi mọi cho ổ bụng
tứa cho đã
hiểu vì sao thánh hiền tịch mịch chưa tôi

những con cá khô lên lão
ái tình nếm ngửi mũi với lưỡi
trái tim thiếu mẹ nó máu
cứ chực giờ nín thinh

 

 

 

PHAN MINH MẪN
(1952 – 2011)

Chủ nhiệm CLB Mỹ An (Bút nhóm Hoa Cát)
HV Hội Nhà văn Đà Nẵng
Bút danh: Hải Minh
Nguyên quán: Điện Bàn, Quảng Nam
Trú quán: Tổ 5, phường Mỹ An, Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng

Đã in:
- Tiếng chim sau vòm lá (Thơ, Nxb Đà Nẵng – 2006)
 Giải thưởng: Giải 3 thơ viết về TP Đà Nẵng 2008
 Thơ văn đăng trên các báo, tạp chí TW và địa phương

Tiếng chim đã tắt sau vòm lá

Khi tôi đau đớn, trong đôi mắt nhòa lệ ngồi viết những giòng chữ này thì anh đã ra đi. Một cuộc ra đi đột ngột và vĩnh viễn.
Không đau đớn và không khóc sao được khi mới lúc 4 giờ chiều nay anh ghé nhà thăm ba tôi ở xa mới về, uống cà phê, nhả khói thuốc trong một trạng thái vui vẻ, nhàn tản. Vậy mà chỉ hơn một giờ sau khi anh về nhà hồn anh lìa khỏi xác. Một cơn đột quỵ cấp đã cướp mất anh rồi. Tôi và nhà thơ Nguyễn Nho Khiêm, chủ tịch Hội Nhà văn Đà Nẵng hay tin vội vàng đến nhà anh. Anh nằm đó, bất động, bình yên, thanh thản như người đang ngủ giữa một màu trắng xóa. Người thân, hàng xóm láng giềng, thân hữu và bạn văn nghệ của anh đến đầy nhà, ngồi chật đường trong một tâm trạng tái tê, thoảng thốt, buồn đau đến nghẹn ngào.
Anh như con chim vừa giấu tiếng ca của mình sau vòm lá. Tôi ví anh như vậy là dùng ý từ nhan đề tập thơ đầu tay của anh: “Tiếng chim sau vòm lá” (Nxb Đà Nẵng – 2006). Giọng thơ lục bát của anh ngọt ngào, điệu đàng nhưng chắc khỏe. Nhiều bài người đọc cảm thấy gần gũi với tâm sự của mình, như là anh viết hộ cho vậy. Báo Thanh Niên, Báo Đà Nẵng, Báo Công an Đà Nẵng và nhiều báo, tạp chí khác cũng đã từng giới thiệu thơ lục bát của anh. Gần đây anh bắt đầu thử bút trong lĩnh vực truyện ngắn, bước đầu thành công với một vài chuyện đăng ở đâu đó. Anh cũng đang dự tính in thêm một tập thơ riêng nữa. Vậy mà dở dang hết rồi anh Phan Minh Mẫn ơi!
Cách đây ba hôm khi tôi đang trực bệnh viện, nghe tin có nhà thơ Nguyễn Tấn Thái ở Quảng Nam ra ghé thăm, mời uống nước ở căng tin anh cũng vào chơi, nhân tiện mang cho tôi bản thảo tập thơ văn “15 năm CLB thơ Mỹ An” vừa mới có giấy phép của Nhà xuất bản Đà Nẵng để nhờ tôi chỉnh sửa, bổ sung trong đĩa trước khi mang in. Mấy tháng gần đây, anh vất vả với tập thơ văn chung này trong vai trò là chủ nhiệm câu lạc bộ. Hết thu bài, đọc bài, góp ý sữa chữa đến mang đi vi tính bản thảo, “chạy” xin giấy phép, viết đơn xin miễn giảm, hỗ trợ kinh phí để câu lạc bộ sớm có được tập thơ nhân dịp kỷ niệm 15 năm thành lập vào dịp mừng xuân mới Nhâm Thìn – 2012. Đâu chỉ có chuyện thơ, anh còn phải lao động kiếm sống hằng ngày như mọi người. Nói vậy để thấy cái tình anh dành cho văn nghệ đáng yêu biết bao.
Tính tình anh hiền hậu, vị tha, từng trải nên điềm đạm, không tranh chấp và không có ý hơn thua ai trong đời và cả trong chuyện văn chương chữ nghĩa. Tôi và anh gặp nhau ở điểm này nên rất hợp và thân nhau. Thỉnh thoảng không gặp, anh ghé nhà thăm hoặc chiều nhàn tản nào đó thì allo gọi nhau đi uống cà phê. Chúng tôi hay ngồi cà phê với nhau vì tửu lượng của anh kém. Tuy nhiên, anh cũng sẵn lòng có mặt trong những lần cụng ly để gặp gỡ anh em văn nghệ cho vui mặc dù anh chỉ “ngồi hầu”. Nhưng những lần như vậy, anh thường ra về sớm, vì anh còn một công việc khác lớn lao hơn, hiếu hạnh hơn đó là chăm sóc một người mẹ già bị tai biến mạch máu não phải nằm tại giường từ nhiều năm nay. Anh muốn tự tay mình chăm sóc cho mẹ để trả hiếu hơn là giao cho vợ con hay ai khác.
Tôi nhớ, một lần mẹ anh phải đưa đi cấp cứu, anh trực suốt trong bệnh viện để giành giật mẹ khỏi lưỡi hái của Tử Thần. Và anh đã chiến thắng. Trong những ngày đó anh viết những vần thơ về mẹ thật là cảm động:
Ngày xưa Mẹ bế trên tay
Nay con ẵm Mẹ mấy ngày Mẹ ơi!
Cúi xin Mẹ lấy một lời
Mắng yêu, mắng ghét như thời ngày xưa.
(Mẹ)
Nhưng sao giờ đây, định mệnh thật trớ trêu, lá vàng phải khóc lá xanh rồi. Người vợ hiền và ba đứa con anh đang bước mon men vào đời bàng hoàng, sụp đổ. Làm sao có thể chấp nhận một sự thật quá ư phũ phàng này!
Khiêm và tôi nhắn tin cho một số anh em văn nghệ gần xa biết. Bạn bè văn nghệ sau đó tới tấp nhắn tin hay gọi lại chia buồn. Hết Nguyễn Nhã Tiên gọi đến Bùi Tự Lực, Hoàng Thanh Thụy, Lê Anh Dũng, Hoàng Bạch Nga, Nguyễn Nho Thùy Dương, Bùi Xuân… Nhà thơ trẻ Ngô Hữu Đoàn ở TP HCM cũng xót xa chia sẻ. Nhà thơ Nguyễn Kim Huy nghẹn ngào qua điện thoại: Không thể nào tin được chuyện này. Bảo anh Phan Minh Mẫn hãy nán lại, sao vội vàng bỏ anh em ra đi!
Tôi và Khiêm chỉ biết giấu vào lòng những giọt nước mắt buồn đau khóc một người bạn văn nghệ chân tình, tài hoa. Mùa xuân đang đến gần, một mùa xuân tê buốt, vì từ đây không còn gặp nhau để nói những lời chúc tốt đẹp khi mỗi mùa xuân sang. Với tôi, những vần thơ lúc bát dịu êm của anh chào đón giao thừa vẫn mãi ngân vang:
Và ta rồi cũng sang mùa
Thêm lần nâng chén giao thừa với xuân
Ly tràn rớt giọt buồn câm
Rượu không biết uống một lần thử say.
(Uống rượu giao thừa)
Anh không còn ngồi thử uống với các bạn văn được nữa rồi. Anh đã có mặt trong cõi đời tạm bợ này, cất vang tiếng ca như cánh chim trời ngợi ca vẻ đẹp của cuộc sống. Nhưng bây giờ tiếng ca nghệ sĩ của loài chim trời ấy đã bất chợt lặng im sau vòm xanh của lá.
Khuya 29/11/2011
MAI HỮU PHƯỚC

thoáng vụt phù

 

    nguyễn hàn chung

rót xuống
phù vân anh phù du tui

đêm nguýt
ngày trề

xớn xơ phù mỏ

câu cú xộc xệch
rục rịch lên cơn đồng bóng

chăm chắm định nghĩa thơ  nhăn nhó phát rồ

bầu trời quê xứ chật  những ngôn chí sáo rỗng làm trụ

chắp tay bái
lạy cô hồn  tứ phía

tối mịt cơn lên khùng khí rỗi hơi

anh không tròn dái để yêu thương

rướn hết tàn cơ cũng chỉ  son són dây đờn gãy gụm

rốt cuộc phù vân phù du mệt nhoài phù mỏ

chẳng con ma nào hiểu ngoài váng vất cơn điên

muà thu rớt cợm trên lá

lộc thu bơ thờ

uổng công em gánh tận tàn tro đỏ đổ vào lòng
giếng cạn

vết xước sợi dây dài

ai lại không biết phù vân hốt biến

thương người
đau mình

quấn quít phù du  ?

8/10/2011

Thơ ba câu

Nguyễn Hàn Chung

1
Rắc giống cỏ lông chông
Vào trong bình cứt sắt
Mà đòi nở hoa chùm!
2
Lấy tiền nhử đàn bà
Lấy đàn bà nhử đàn ông
Lấy chi nhử phường lại( cái, đực )?
3
Hèn thì sợ chết đã đành
Liều còn sợ chết
Chẳng lẽ khum thờ lũ chó chết …
4
Hốt hột phù vân làm của
Cất vào cửa nẻo phù du
Rốt cuộc xương khô không mả.

5
Cha ăn ngụy đến quắn lưỡi
Còn muốn húp thêm chút nước
Con khôn hồn thì đừng quyền.
6
Ốm không chịu tha
Già không chịu thải
Tiếc cho tuổi trẻ mù lòa.
7
Mẹ để truồng cười hả hả
Con để truồng vừa đánh vừa vả
Còn xưng xưng tự do.
8
Nhụi một cộng bông lài
Vào sâu giữa bãi phân
Mà đòi hương bất diệt!
4 /2011

cao tốc hành

Nguyễn Hàn Chung

ngựa nghìn năm

xe trăm năm

chuyện cũ

mấy gã  hồ đồ

uống rượu dòm trăng

kết những đường ray chon von mệt lử

cõng những con tàu cao tốc hung hăng

cao tốc hề cao tốc

chạy về phía trường giang xả xui

mấy gã phần thư bàn độc

xua bầy đàn heo hạch tận cùng hang

ngựa nghìn năm

xe trăm năm

rỉ rả

đường mù mờ xe long rong thổ tả

cao tốc phom phom chân trời

chân lấm tay bùn

cái nòi vai u thịt bắp

trăm nơi

cao tốc hề cao tốc

lừa lê lết la lết lê

người ngựa  ngựa người máu hộc

có hề chi trường sơn  xưa xa

mù mù âm vực

con đất đỏ đất đen rồi

vú mẹ thòng trống không

ngựa nghìn năm

lạc rơ

xe trăm năm

cổ hủ

ém nhẹm hãi hùng trọi trơn

hỉ hả chị chị em em vén váy hộc tốc lên tàu  văn minh cao tốc

cao tốc hề tốc cao

cao tốc hành hành cao tốc

mặc kệ ăn cầm hơi

2/2011

Chùm thơ viết ở Hội An

Nguyễn Hàn Chung

Về

Khoắng vào sông hỏi

nhánh rong

Giạt bao rồi mới chịu ròng

đáy sâu

Xa xăm nhớ quá

ngõ Cầu

Bước về phố hẹp va nhau

giữa đường

Cầm tay em khẽ

…rồi buông

Trái tim chai

đổ

hồi chuông vụng về

Khách bên trời

cứ như mê

săm soi tìm chút hồn quê

cũng vì…

Sông Hoài chảy

đến tràn ly

và em

mới rựng xuân thì

tối nay

Tôi lêu bêu

riết cả ngày

Chỉ ưng vin nụ thơm ngay

buổi đầu

Em con gái

đến bao lâu

Anh con trai

đến bạc đầu

con trai

Say rồi biết tỉnh

là sai

Lặng thinh

nghe gái sông Hoài tắm khuya

Thưa với sông Hoài

Ngồi một nấm với dòng sông cạn gió

Hỏi chi sóng cũng thì thào

Ngày mẹ tắm bến này con rong rêu đâu đó

Cũng có thể là mây phố bay

Mộ cha táng hút khuya đêm trừ tịch

Sông hoài thai giọt nước mắt rã rời

Khói thắp nén nhang tàn không nói

Dường con nghe đồng vọng bao lời

Con rảo bước đường còn xa ngút ngát

Đá không mềm rào rạo cứa chân con

Về gục dưới bệ thờ tiên tổ

Bỗng sáng trưng mọi ngõ ngách tâm hồn

Ngày hiu hắt rụng hoa quê lấm tấm

Phố tinh khôi bí ẩn lớp rêu tàn

Cánh bèo tím cuối sông rồi vẫn tím

Vận giọng chào em lí nhí Hội An

Con đã nếm từng ngày mưa héo phố

Chiều bơ vơ lan cả bát cao lầu

Biết lấy nỗi chi làm duyên nợ

Đêm sóng Hoài gió Đợi vỡ tràn nhau

Sóng đã vì sông mà cạn gió

Rù quyến con tập tọng vỗ bờ

Phố trễ nãi đèn lồng treo đỏ

Một nấm ngồi nghiêng ngó khách ba lô

Đi xe ngựa ở phố

Lão xà ích quất thanh roi

Thời gian rớt xuống đôi vai người già

Từng đoàn bóng lộn vù qua

Cỗ xe ì ạch ì à ngàn năm

Xì xồ tiếng lạ tiếng quen

Mấy ông bạn ngoại lóe đèn liên miên

Ngựa và người cứ lặng yên

Chỉ nghe tiếng vó gõ tìm tàu xưa

Lão xà ích lại vung roi

Cỗ xe vẫn thế mệt nhoài lắc lê

Mai này hiện đại phố quê

Ngựa xe thổ mộ đi về nơi đâu…

Mặc người góp chuyện xưa sau

Lão xà ích vẫn cắm đầu giong xe

Thơ Quỳnh Thi

Quỳnh Thi là một trong  những người bạn văn chương  mà Nguyễn Hàn Chung được may mắn  hạnh ngộ  khi đến định cư ở Houston Texas .Không cùng một lưa bên trời nhưng  luân lạc nhân thì giống nhau  chỉ  thời gian là có khác thôi .Anh Quỳnh Thi từng cộng tác với nhiều tạp chí văn học như Tạp chí thơ, Hợp Lưu,và một số Website hải ngoại. Anh chủ súy cuộc khai phá  ngữ ngôn vùng thoát  đi qua những lối mòn .Hình tượng nghệ thuật trong thơ anh phản ánh cảm tính thành khái quát của tư duy trải dài theo cuộc lưu vong .Từ tập thơ đầu tay Trên vùng trời cùng khổ đến tập thơ thứ hai Tên em là Hoa Kỳ là một chặng đường  biến dị tất yếu của một người thơ khi đã lỡ chọn văn chương làm nghiệp .Nguyễn Hàn Chung xin được hân hạnh giới thiệuba bài thơ của anh .

Phu chữ kỳ khu bóng chữ hồn

                                       Nguyễn Hàn Chung
Mỗi lần chạm vào thơ Lê Đạt tôi lại nhớ mang máng mấy câu thơ của Lư Diên Nhượng không biết ở đời nảo đời nao bên Tàu:
 ‘’ Ngâm an nhất cá tự
Nhiên đoạn sổ hàng tu
Hiểm mịch thiên ưng muộn
Cùng sưu hải diệc khô “
Cũng là kiểu nói của Giả Đảo nhưng ông Lư nói huỵch toẹt cụ thể hơn nỗi khổ của công việc làm thơ( bởi bứt râu đau lắm đấy )
Nhà thơ phu chữ chắc chắn  phải khoái mấy ông này lắm nhưng theo thiển nghĩ (lại thiển nghĩ ) ông không hề bái phục bởi lẽ ông còn trên cơ tiền nhân khi chữ của ông không hề ‘’ ngâm an,ngâm thành ‘’ chút nào , bóng chữ của ông cựa  quậy ,co duỗi bất thường như một thứ huyễn tưởng không có gì kìm chế nổi. Ông bị rồi nên rất ý thức việc bắt  hàm nghĩa chữ phải lao dịch xây (Vạn Lý ) trường thành nhằm giảm bớt hoặc giả né đi hậu quả kích động thông báo của ý .
 ‘’ thu khuya ai xổ một hồi còi’’
Lê Đạt và Bùi Giáng lao động chữ  giống như hai cao thủ võ lâm nam đao và bắc kiếm nhưng sự kỳ khu phu chữ của Lê Đạt thường tất lộ còn ông Bùi thì khơi khơi mà kín kẽ hơn .Tuy nhiên cả hai ông đều đã được đả thông sinh tử huyền quan chữ rồi nên ẩn tàng trong chữ  thường hô biến biến nhiều chiêu thâm hậu khôn lường .
Anh Lê Đạt đã đi rồi. Nói cám ơn vụ Nhân Văn –Giai Phẩm thì quá phản cảm nhưng  như ông bà ta nói :Ơn kẻ dữ chứ không ai ơn người lành . Phải chăng vụ tàn diệt kia chính là tác nhân tạo bóng  chữ cho nhà thơ Lê Đạt.Nếu không  ?

Houston Texas
26/04/08

Thơ Quảng Nam 10 năm –(1997-2007 )

                                                                                                           Huỳnh Minh

  Dường như những dự định, hội họp, gửi bản thảo của anh em làm thơ là hội viên Hội Văn học-Nghệ thuật Quảng Nam và những chuyện “trầm luân” của tập thơ đã qua. Cuối cùng tập thơ “Thơ Quảng Nam mười năm 1997-2007” cũng ra mắt bạn đọc. Cảm nhận đầu tiên đúng như “Lời nói đầu” của tập thơ: “kỷ niệm 10 năm tái lập tỉnh Quảng Nam, Hội Văn học-Nghệ thuật tỉnh Quảng Nam trân trọng giới thiệu 38 gương mặt thơ – là hội viên Hội Văn học-Nghệ thuật tỉnh”, ”trong mười năm ấy, thơ ca Quảng Nam đã đồng hành với những mất mát, đau thương của chiến tranh, những trăn trở, buồn vui trong cuộc sống mới của quê nhà… Tất cả đều day dứt, lấp lánh, đằm thắm được những người làm thơ ở đất Quảng giãi bày nỗi niềm trong từng tác phẩm của mình. Đây cũng chính là mạch nguồn của truyền thống văn học đất Quảng, được các thế hệ làm thơ hôm nay gìn giữ và phát huy”.

  Nếu xét về mặt thời gian, 10 năm với một tập thơ của một vùng đất “luôn sát cánh bên nhau, chung lòng, chung sức, hối hả và quyết liệt, NĂNG ĐỘNG và SÁNG TẠO xáp vào sự nghiệp xây dựng cuộc sống mới giàu mạnh”, thì tập thơ như vậy là mỏng và khiêm tốn. Nhưng khi đọc tập thơ ấy, dẫu sao cũng đáng ghi nhận và trân trọng gửi gắm vào lòng độc giả có thể ở sự mới mẻ, sự chân thật, và qua thử thách thời gian của nhiều tác phẩm.

  Cảm nhận của tôi khi đọc tập thơ là sự chọn lựa thận trọng và quyết đoán của ban tuyển chọn: kỹ, tốt, có cân nhắc. Tập thơ đa giọng điệu, đa thể tài, chuyển tải, trao gửi được tâm trạng, những cảm xúc và phong cách của từng cây bút riêng biệt. Âu đó cũng là ưu điểm không dễ có của những tập thơ in chung nhiều tác giả.

  Ở bài viết ngắn này, tôi không có tham vọng đánh giá toàn bộ các tác giả. Tôi chỉ có một vài nhận xét có thể rất chủ quan về một vài tác phẩm hoặc một vài tác giả có những giọng điệu “đặc trưng” nào đó, những “cốt cách” náo đó. Nếu có sơ suất nào đó, thì cũng là những cảm nhận riêng tư.

  Trương Vũ Thiên An là tác giả của 3 bài thơ: “Cơn giông”, “Mẹ và cơn mưa”, “Ngọc xưa”. Thơ anh là khúc ca thánh thót của loài chim sơn ca, chất thơ truyền thống, ngôn ngữ chỉn chu, giàu hình ảnh: “Là hạt nhưng không là cát bụi – Trang kinh xưa đánh tréo chỗ tôi ngồi – Em với lòng tôi lễ hội – Khách mời trắng cả trùng khơi – Là hạt cát-em bước ra từ ngọc – Đêm ban ơn lót biển em về – Những chiều bể khơi nổi lửa – Dịu dàng tôi khép vỏ trai xưa” (Ngọc xưa). Đôi lúc thơ anh tắc nghẹn giữa điệu ca dao quê nhà bởi tâm hồn mỏng manh run rẩy trước nỗi đau của mẹ, của em, của tình yêu, đất đai và số phận. Thơ anh giàu nhạc điệu và thoang thoảng mùi hoa hồng tinh khiết. Ở nhà thơ Nguyễn Hàn Chung là nỗi ám ảnh về con chữ, về sự cách điệu, hàm ẩn của hình ảnh, về những giấc mộng mị xô bồ, nỗi trầm luân của kiếp nhân sinh. “Cuộc hôn phối bắt đầu – Có vị gừng cay muối mặn – Của vò xé âm ba phụng hiến – Của chiếc lá nửa vàng cố giữ nửa kia xanh – Lao lực cả đời mà vẫn trống không – Nhưng biết em đang đứng lặng – Là thấy đào lên cơn sóng – Nguội ngầm từng trải rất thơ ngây” (Trước xuân). Thơ Phùng Tấn Đông luôn luôn thách đố và ám ảnh người đọc ở phần thi pháp. Cái mới lạ của hình ảnh, ngôn ngữ đan xen với “ý thức triết học” về một “cái tôi lẻ loi” của cây bút sung mãn sức lực nội tại đang dồn nén: “Rồi cũng cố mà xanh lá đang rơi xuống cõi mơ ngày – Cột giấc nhớ vào những lùm dứa dại – Chảy lạnh tê lòng khe cát trắng – Mơn mơn gió nồm lên mắt lên môi – Chiếc thúng chai ném ngửa ra đầu sóng – Đèn thắp lên là bè bạn chân trời” (Những ý nghĩ rời trong một lúc). Ở một thái cực khác, thơ Nguyễn Tấn Sĩ tràn trề xúc cảm. Một ngọn bút hừng hực khí chất của người lính, vì quá độ chăng nên luôn giễu cợt và mang tính triết lý nhân sinh về các số phận, về những hư danh của cuộc đời: “Đêm Thúy Kiều em bày vẽ cuộc vui – Anh bày vẽ cuộc buồn ly rượu đắng – Nếu cầm được linh hồn đi phơi nắng – Anh chẳng còn vui em chắc chẳng còn buồn – Hát đi em Kim trỗi giọng thính phòng – Mã rối rít dăm ba bài nhạc sến – Bác Nguyễn Du chạnh lòng tắt nến – Quờ quạng đôi tay anh bắt gặp tay mình” (Đêm Thúy Kiều). Thơ của tác giả Huỳnh Minh Tâm là nỗi thường trực vui buồn cuộc đời, của cái đẹp long lanh ngấn lệ đứng trước thời gian vô thường khắc nghiệt. Thơ anh ca ngợi những vẻ đẹp vĩnh cửu trong giây phút hiện tiền: “Đôi khi chúng ta quá xa những người thân yêu – Quá xa những đám mây vàng chiều chiều bay về khu vườn mẹ – Quá xa giọng ca đám lá mục tan rữa – Hoa huệ vẫn trong trẻo ngay cả lúc rũ xuống – Mẹ tôi chớm nghĩ về sự chết – Tôi nghĩ về trường tồn bất khả – Tiếng chuông thánh thót bên kia ngọn núi quê nhà” (Hoa huệ và thời gian).

  Những nhà thơ nữ đã đóng góp nên sự thành công của tập thơ cũng khá đông: Lê Thị Kiều Chinh, Lê Thi, Lê Thị Điểm, Đỗ Thị Kết… Thơ chị Mai Thanh Vinh đằm thắm, là tiếng sóng vỗ bờ một năm dài, là khát vọng bền bỉ treo trên sợi tơ trời mỏng mảnh: “Bỏ lại bờ ao-em chìm trong ảo ảnh – Chùng chình con nước phía người đi – Tiếng gà gáy vọng vầng trăng mờ sáng – Quang gánh nhọc nhằn gác lại góc hoàng hôn – Thôi đành vậy, bao giờ em trở lại – Khi ban mai le lói ánh mặt trời – Vẫn hương lúa làng quê thơm lựng gió – Đêm trăng về ngả nón hứng mùa sang” (Bao giờ em trở lại). Thơ Nguyễn Thị Phương Dung là tiếng gió đêm lạnh, buồn, và những giấc mơ bất chợt vỗ về: “Bất chợt biết được câu: Vừng ơi! – Nhưng em mãi ngập ngừng không dám nói – Trước đời anh môi run câu thần chú – Biết mở ra em được những gì? – Thà một mình nhìn bóng chiều đi – Một mình trông mùa xuân qua đầu ngõ – Một mình-vẫn một mình nghèo khó – Hơn mở ra nhận nỗi ưu phiền” (Vừng ơi!).

  Những cây bút sung mãn, viết chăm và có phong cách thể hiện mới mẻ, táo bạo thời gian gần đây phải kể là Nguyễn Đức Dũng và Đỗ Thượng Thế. Bài áo giấy cho sông của Nguyễn Đức Dũng hay, “ngọt xớt”, đầy ngẫu cảm: “Ngày xế khòm lưng khẳm nỗi sào không – mớn cũ nương nhau chống chèo mấp mé – tôi từng dịp trăng về không thấy bạn – sắp mụt măng còng roi quất chẳng buồn đi…! – Tưởng nghênh ngang thiên hạ hải hồ – ngửa mặt phơi cùng chín phương mười nắng – về đây bụm một sắc trời xanh ngợp người quá kể – sóng không hình đứng cạn mà… say!”. Thơ Đỗ Thượng Thế là “khúc lưu vong” của ngôn ngữ, là sự giằng xé của những ký ức và khát vọng mãnh liệt, những khối rubích bức tranh lập thể: “Hồi hộp khói hải hồ đêm – hiện lên bằng đôi cánh bay hộc tốc về miền ký ức – là nơi em thiết gì phải đến – chỉ niềm tiếc nuối con tàu thời gian luôn thám hiểm – những tảng băng đè nghiêng trong lồng ngực trái” (Mãnh lực một câu).

  Trong tập thơ còn có sự góp mặt đầy đủ của những cây bút khá quen, khá tin cậy trong lòng bạn đọc quê nhà, như: Vũ Minh, Vũ Giang, Nguyễn Nho Khiêm, Nguyễn Mậu Hùng Kiệt, Nguyễn Tam Mỹ, Nguyễn Hải Triều, Lê Phước Trịnh, Phạm Tấn Dũng, Phan Chín, Ngô Hà Phương…

  Hy vọng tập thơ sẽ có những cảm ứng tốt đẹp trong lòng bạn đọc và tạo ra những cảm hứng mới cho những cây bút thơ đất Quảng sáng tạo được nhiều tác phẩm sống mãi trong lòng đông đảo công chúng và thời gian.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.