Sự hòa hợp của những phức điệu

Huỳnh Thị Thu Hậu

Dọc Như cỏ dại như lá úa như cây xanh(*) của 5 tác giả thơ đầy cá tính: Nguyễn Chiến, Phạm Tấn Dũng, Phùng Tấn Đông, Huỳnh Minh Tâm, Đỗ Thượng Thế, tôi cảm nhận được đây là một tập thơ để lại nhiều suy tư. Và, đó còn là một thanh âm lạ giữa những thanh âm đã rất quen thuộc.

Cảm xúc đầu tiên là sự trang nhã, ấn tượng của tập thơ. Những tác giả “Bắc Thu Bồn” này rất trau chuốt khi chọn lựa màu giấy, tranh bìa. Màu giấy vàng thanh nhã và bức tranh đơn giản nhưng đa nghĩa. Năm mươi bài thơ được tuyển là những đứa con tinh thần đã được 5 anh em hoài thai trong khát vọng giao cảm, đồng điệu trên con đường thi ca.

Có một phạm trù thơ và phạm trù siêu thơ. Như cỏ dại như lá úa như cây xanh nằm giữa lằn ranh của hai phạm trù đó. Một Nguyễn Chiến lãng mạn với Khúc tình mưa, Ngày tình cũ, Ngày trái tim lên ngôi. Một Phạm Tấn Dũng siêu thực cùng Tạ với thung xưa, Cảm giác. Một Phùng Tấn Đông hơi hướng “hậu hiện đại” với Trình diễn thơ, Bài tìm thấy sau nhiều năm, Về một mùa xanh xa Huỳnh Minh Tâm, Đỗ Thượng Thế vừa hiện đại và hậu hiện đại.

Trên hành trình tìm kiếm và sáng tạo cái Đẹp, họ đã gặp nhau. Năm phong cách, đa dạng nhưng thống nhất ở giọng điệu. Thơ của 5 “thi mã” Bắc Thu Bồn này là thơ điệu nói. Giọng điệu thơ đẫm hơi thở của thời đại, của người trẻ:

tôi ơi em ơi

đừng nói đừng nhắc đừng gợi nhớ

mùa xa thẳm

những lau khô xám lạnh ven đường

(Về một mùa xanh xa – Phùng Tấn Đông)

…Có con chim săn đuổi các dự định

Có cảm giác của một người thợ săn người đi câu người kỵ sĩ

Cảm giác là con thú mạnh con hươu con cá hồi con ngựa

Và ngược lại những dự định

Cảm xúc đi tìm mình tóm lấy mình cưỡi lên điều khiển

(Cảm giác – Phạm Tấn Dũng)

…Graffiti

Những giấc mơ Graffiti

Writer đánh cuộc đời mình

Đâu đó

Tiếng chim vừa thoát khỏi đường viền sương khói

(Graffiti – Đỗ Thượng Thế)

ta đứng dưới mây nhìn mây bay

ly sầu ly sầu mà chi cô đơn mà chi

tháng mười một cài hoa lên tóc

chảy trăng tứ xứ chuông ngân thánh thót chuông vọng hồi

 

chuông ngân thánh thót mà chi

chuông nằm im trên vạt cỏ chuông treo trên tay người

từ đâu tới đây để ngóng vọng

vứt tiền qua cửa vứt đời qua cửa

mà không vứt được nỗi buồn

(Bài thơ tình yêu tháng mười một – Huỳnh Minh Tâm)

Tôi lạc về đâu

Chân trần bước lạc linh sa mạc

Chống chèo vô vọng

Giữa đại dương cuồng nộ

Lụt trời nước dựng

Sa mạc lớn dần

Ẩn ngữ thi ca

Không còn ai hiểu

Tôi ném đá vào tôi

Bầu trời ứa nguyệt

Cánh chim

(Đi lạc – Nguyễn Chiến)

Những câu thơ gấp gãy chứa đựng sức nặng triết lí, mang tính tư tưởng:

Bèo trôi lửa trôi

Bướm vàng cũng trôi

Mi rồi cũng trôi

Tau rồi cũng trôi

Trôi

Rồi trôi rồi trôi

(Giấc cỏ chỉ - Đỗ Thượng Thế)

Con chim núi là ta hay ta là con chim núi

Vút một tiếng tắt cổ

Bi thương và mê ly

(Bài thơ tình yêu tháng mười một – Huỳnh Minh Tâm)

Phảng phất trong thơ là niềm bi cảm của vẻ đẹp Á Đông. Tựa hồ như quan niệm của Komachi trong bài thơ sau:

Hoa đào rơi

Nhan sắc phai rồi

Hư ảo mà thôi

Tôi nhìn thăm thẳm

Mưa trên đầu tôi

Những câu thơ đẹp và lạ đánh thức tâm trí người đọc:

Chuyện như sông

Chảy

Chảy

Chuyện như núi

Cao

Cao

Chuyện như biển

Sóng

Sóng

(Câu chuyện đời con người ta – Huỳnh Minh Tâm)

Thơ của họ là tiếng nói của những dự cảm mong manh, của tâm linh, trực cảm, của vô thức, cổ mẫu và giấc mơ:

Trong giấc mơ ngắn

Thường có giấc mơ đàn ông không biết về ranh giới

Nhặt những viên sỏi ủ dưới lòng sông mưa ngày

Ném trả về phía đại ngàn âm âm tiếng lá vỗ về

Tiếng nỉ non ve rừng nuốt cạn bờ sương triền suối

Rồi mơ cái nỗi ngâm chân của biển

Ngửa mặt hứng mưa trời thắt nhịp hoàng hôn

(Giấc mơ đàn ông – Phạm Tấn Dũng)

Phạm Tấn Dũng đã nói được cái mơ hồ, không biên giới của giấc mơ. Có rất nhiều giấc mơ nữa thường trực trong mười bài thơ của anh:

- Khi cơn mơ vừa sinh ra

Còn díu dan đói khát nỗi mong chờ

(Những ý nghĩ không rời)

- Cơn mơ không tự thức dậy

Tôi sinh tôi ở mảnh vườn khác

(Vườn khuya)

Trong cảm hứng bất tận về giấc mơ, Nguyễn Chiến lại nói một cách khác:

Giấc mơ đầy tiếng ếch nhái

Cánh đồng khô cong

Lỗ nẻ lọt chân trâu

Mưa xanh mưa trắng mưa tràn

Giấc mơ mẹ già nụ trầu đỏ

Áo gấm thung thăng hội làng

(Giấc mơ – Nguyễn Chiến)

Đó là giấc mơ níu giữ vẻ đẹp của một thời vang bóng, của những giá trị vượt thời gian. Cũng giống như Đỗ Thượng Thế:

Giữa dòng nỗi mình phơi cạn

Ta lại mơ bống vàng từng thiêng lòng giếng

(Giữa dòng)

Như cỏ dại như lá úa như cây xanh là sự phá vỡ ranh giới thể loại. Thơ văn xuôi với những bứt phá về lạ hóa ngôn ngữ: …đếm và gõ thăng hoa đến hạn đến lúc hắn tự biết trình diễn thơ hay thơ trình diễn sau rốt không quan trọng đến khi cử toûa ồ à wov… (Trình diễn thơ – Phùng Tấn Đông).

Sự lạ hóa ngôn ngữ kia còn là những khoảng lặng biết nói trong thơ của Đỗ Thượng Thế:

Ngày — tháng — khởi hành bão táp

Soi bống bống bang bang…

Xác ánh đèn phố bụi

Lẫm chẫm – lẫm chẫm suơng chiều…

Trong 5 phong cách thơ, Phùng Tấn Đông là người để lại nhiều ám ảnh nhất. Vì trong thơ anh có vẻ đẹp của yếu tố kinh dị kiểu Edgar Poe. Những hình ảnh trong mười bài thơ của anh không thuộc kiểu hình ảnh theo vẻ đẹp truyền thống quen thuộc mà là những biểu tượng của yếu tố kinh dị: cuốc kêu trăng chảy máu, thủa thịt da chớp giật giông gió kéo về em thơm con sùng đất, gặp lũ ma đêm – chơi trò cút bắt, mặt tròi ngún khói, đồng cỏ trôi lem nhem bóng tối, cơn gió mịn mướt lông măng thổi rợn mặt người, tiếng mèo hoang gào gió bấc

Sự cách tân của 5 tác giả trong tập thơ Như cỏ dại như lá úa như cây xanh không nằm ở chuyện hình thức hay lạ hóa câu chữ. Họ viết bằng chính chiều sâu thăm thẳm của linh ngôn, của trải nghiệm với con người thứ hai – con người của vô thức huyền bí. Thơ của các anh là tiếng nói dự cảm của thế giới đổ vỡ, rạn nứt, thơ giải thiêng, thơ chống lại sự giáo điều, mực thước, khuôn mẫu… Phần lớn các bài thơ có tứ đẹp: Gởi X, Điệu buồn ru tuổi thơ tôi, Giấc mơ đàn ông, Kì khu thơ, Câu chuyện đời con người ta, Giấc cỏ chỉ, Giấc mơ

Giá trị của tập thơ không chỉ nằm ở kĩ thuật viết độc đáo mà còn nằm ở tư tưởng nhân văn, thông điệp mĩ cảm mà nó chứa đựng. Đối với các anh, thế giới phải được liên tục định nghĩa lại và để làm được điều đó, họ liên tục khám phá những góc nhìn mới để không lặp lại người khác và không lặp lại chính mình. Vì vậy để đọc được Như cỏ dại như lá úa như cây xanh với lí trí thôi chưa đủ, chúng ta cần phải đọc bằng cả tâm hồn, trái tim, sự trải nghiệm của tiếng nói bên trong. Tôi xin mượn lời của Huỳnh Minh Tâm để khép lại những cảm nhận của mình:

Trước khi viết một câu thơ

Thả một hạt sen xuống hồ

Khóc ba ngày

Cá mang hạt sen ba ngày giấu dưới bùn đen

Sau khi viết một câu thơ

Cười ba ngày

Hoa nở một bông mùa bấc

Sống lưng lạnh buốt

kì khu thơ

H.T.T.H


(*) NXB Văn học, tháng 12-2011

Thơ lục bát Nguyễn Bá Hòa trong “Thuyền Hạnh”

 

Nguyễn Chiến

Tôi không làm công việc giới thiệu thơ Nguyễn Bá Hòa. Nếu giới thiệu, tôi sẽ viết bài đăng báo. Ở đó, tôi sẽ nói nhiều đến cái hay của thơ Nguyễn Bá Hòa để bạn đọc tiện thưởng thức, đở mất công đi tìm. Nguyễn Bá Hòa không thích thơ mình bị đem ra mổ xẻ, luận bàn vô lối. Trong thơ mình, anh đã từng “mắng” những kẻ “luận bừa”: Ngồi nhậu đặc sản dế Nhớ ông Tô Hoài xưa Chuyện văn chương lại để Đám Lưu Linh luận bừa Ở đây, trong hội thảo về thơ do Hội Văn học nghệ thuật tổ chức, tôi xin phép bàn đến chỗ được, chỗ chưa được của thơ Nguyễn Bá Hòa. Từ chỗ hay, chúng ta học tập cách thức tiếp cận hiện thực, cách thức sử dụng các yếu tố nghệ thuật… Từ chỗ chưa hay, chúng ta rút kinh nghiệm chung. Tôi chỉ đi vào mảng thơ lục bát trong tập Thuyền Hạnh của anh. Tập Thuyền Hạnh có 79 bài thơ bốn câu, trong đó 59 bài lục bát, tỉ lệ gần 75%. Có thể nói sở trường của Nguyễn Bá Hòa là thơ lục bát; anh chọn thể lục bát để đi vào thế giới thi ca. Người ta hay nói thơ lục bát dễ viết nhưng viết cho hay rất khó. Tôi không nghĩ như vậy. Thơ lục bát là lời ru bên nôi nên chúng ta thấy gần gũi, quen thuộc; thật ra nó là thơ thanh điệu, đã tồn tại qua hàng ngàn năm, có hình thức phát triển đến mức hoàn thiện nên là thách thức lớn đối với những ai muốn đi tìm cái đẹp với thể thơ nầy. Lục bát bốn câu lại càng khó hơn; vì cần có tứ thơ để ý tình có chỗ trú ngụ, phải nén lại để nổ vỡ, phải chặt chẽ trong bố cục như bài tứ tuyệt luật Đường… Nguyễn Bá Hòa tự dẫn mình vào con đường gập ghềnh, dễ bị “sập bẫy thơ”, dễ rơi vào “cạm bẫy chữ”. Không ít người phải chia tay với thơ lục bát, đến với thơ tự do, để không bị vần nhịp o ép bó buộc! Trên con đường ấy, Nguyễn Bá Hòa đã có những bước nhịp nhàng, hoa mĩ và thi thoảng có cả những bước lao đao. Nguyễn Bá Hòa lập tứ như thế nào? Ở những bài thơ không có tứ, thường đơn nghĩa: Thơ em Bài thơ em gởi bốn câu Ý lời thô vụng chẳng sâu nặng tình Ngoa ngôn vô sắc vô hình Nhưng là tứ tuyệt của mình tặng ta Trăng xế Bấy lâu sao chẳng nói năng Bây giờ năng nói thì trăng xế tà Thôi đành mở trái tim ra Dẫu trăng đã xế vẫn là trăng thôi Hai bài thơ có lối viết đơn giản, thơ thiếu hàm ngôn, phô ra giọng kể lể, giải thích; chữ “nhưng”, chữ “dẫu” như gã xấu trai bị ép phải đứng ngay ở đầu hàng nên lúng túng, ngượng nghịu lắm. Song cũng có bài đơn giản mà hồn hậu, rất có duyên: Trưa quê Mướp vàng hong nắng ngoài sân Cây rơm tròn lửng phơi trần dưới trưa Cây cần vọt, cái gàu đưa Đi đâu vẫn nhớ buổi trưa quê nhà Ở những bài có tứ nổi, tuy năng lượng chưa nén chặt để bùng nổ nhưng người thơ vẫn gởi gắm được nỗi niềm: Được – mất Thơ anh u ám lâu ngày Đem ra giặt sạch phơi đầy trước sân Tình cờ cơn gió ghé thăm Thổi phần chua xót để phần yêu thương Nhờ cái tứ, người đọc không chỉ nghĩ đến chuyện được – mất trong chuyện làm thơ mà còn nghĩ đến chuyện được – mất của đời người; mà theo anh, chỉ có sự tình cờ ngẫu nhĩ và quyền năng của siêu nhiên mới cuốn đi cái phần chua xót, đem đến phần yêu thương cho con người. Một ý thơ sầu nhưng sáng lên mơ ước được trải lòng, mơ ước chỉ có tình yêu thương, đừng có cay đắng trong cõi người. Valentine Lẽ nào chỉ một ngày yêu Tính ra là cả xuân đều nhớ mong Cớ sao chỉ một nỗi lòng Hãy yêu tất cả người trong cõi đời Một tứ thơ lạ. Ngày tình nhân chỉ là một, còn ngày yêu của tình nhân thì 365, cả kiếp trước và kiếp sau nữa. Đã vậy thì hãy mở lòng ra yêu cả – và thiên hạ. Tình yêu vốn ích kỉ, không ai chấp nhận san sẻ nhưng trong bài thơ lại mở ra phía tha nhân và nhuốm màu bác ái. Nguyễn Bá Hòa làm nhiều thơ tình, với những tứ thơ đẹp (Ngả ba sông, Tượng đá, Người mơ, Thiếu nữ, Đành thôi, Xao lòng, Nguyệt thực, Sao băng,…) Lời yêu trong thơ Nguyễn Bá Hòa hòa trong tiếng kinh cầu, thơm như tình ái của ni cô (Hàn Mặc Tử), chứ không có sức nóng của sự va chạm giới tính: Sao băng Vỡ ra từ khối lửa tình Băng băng trong cõi nhân sinh ghẹo người Trong đêm nhặt mảnh sao trời Kết thành tràng ngọc tụng lời kinh yêu Lỡ đánh rơi ánh mắt bên đường thôi, mà đã đứng trước gương soi lại mình, đã cảm thấy mất một chút chung tình với em rồi: Xao lòng Đánh rơi ánh mắt bên đường Về nhà ái ngại soi gương tìm mình Trong gương nguyên vẹn dáng hình Mắt chăng? Một chút chung tình với em Hãy đọc bài Thiếu nữ: Cây thiếu nữ trổ hoa xuân Nụ duyên hàm tiếu thơm ngần hương trinh Gió hây hẫy, nắng rập rình Chim lơi cánh vỗ, riêng mình lặng im. Thơm ngần hương trinh, gió hây hẫy, nắng rập rình, chim lơi cánh vỗ… Rõ ràng, người thơ không phải là không có ánh nhìn giới tính trước nhan sắc mĩ nhân. Nhưng sao lại lặng im, từ tâm đến vô tâm làm vậy? Như thế là có lỗi trước cái đẹp rồi. Đồng Đức Bốn dám viết: Em bỏ chồng về ở với tôi không? So sánh với người đàn ông trong thơ Đồng Đức Bốn, người đàn ông trong thơ Nguyễn Bá Hòa mẫu mực quá, đạo hạnh quá chăng? Chữ tình trong thơ anh thường gắn với chữ duyên. Chữ duyên xuất hiện với một tần số khá cao và phong phú về hình thức kết hợp: tình duyên, tơ duyên, nụ duyên, nhành duyên, tấm duyên; tìm duyên, bắt duyên, duyên nảy mầm; duyên lành… Hình như người đàn ông trong thơ anh không thích những biểu hiện cụ thể của tình yêu mà chỉ “yêu chay” và chiêm bái cái duyên gặp gỡ trong đời. Những bài thơ có tứ chìm thường sắc sảo, đa nghĩa. Tứ thơ lẫn vào hình ảnh, vào lớp áo ngôn từ nên ý thơ kín đáo, nhiều dư vị khó quên: Cầu vồng Ghé chân vào cõi mênh mông Đưa tay ướm thử cầu vồng mấy gang Buồn chi! Chức Nữ – Ngưu Lang Chiều nay nắng gọi mưa sang bắc cầu Chức Nữ – Ngưu Lang là biểu tượng của tình yêu trắc trở. Từ chuyện Chức Nữ – Ngưu Lang, người thơ thương những trái tim yêu trong khổ đau rồi muốn làm cái gì đó để đưa những người yêu nhau đến với nhau, chí ít cũng là lời an ủi hay gợi cho họ một niềm tin sum họp, dù vô thường như nắng gặp mưa. Đó là tấm lòng thơ đối với nỗi đau nhân thế. Bài Giếng cổ cũng có cái tứ chìm lấp song gợi bao điều sâu xa: Cái giếng cổ bằng đá ong Cả làng uống, nước xanh trong bốn mùa Lẫn trong nước tiếng chuông chùa Tiếng thiêng liêng tự ngàn xưa vọng về Cái giếng cổ bằng đá ong là do con người làm ra từ xưa, đã thành tài sản chung của làng. Đó là mạch nguồn xanh trong bốn mùa không vơi cạn và hòa trong đó là tiếng chuông chùa từ ngàn xưa vọng về. Giếng cổ trở thành giá trị văn hóa đẹp đẽ, thiêng liêng và không thể thiếu trong cuộc sống mọi người…Bài thơ hay, chỉ tiếc chữ “lẫn” dùng chưa đắt. Ca dao giàu hình ảnh so sánh, ẩn dụ; lục bát trong tập Thuyền hạnh của Nguyễn Bá Hòa rất hiếm hình ảnh so sánh (chỉ có 3 hình ảnh so sánh) nhưng có cả hệ thống hình ảnh ẩn dụ. Đây là nét đặc sắc của lục bát Nguyễn bá Hòa, làm cho thơ anh có dư ba. Xin thống kê ra đây: hương gió, mùi ve, hương trinh, đêm trầm hương, tình xưa xanh, tình ươm vàng, màu em, mùa ái ân, nhành tương tư, trái hân hoan, trái yêu, trái xuân, hạt phôi pha, mầm quên, nụ xuân, cây vạn hạnh, cây thiếu nữ, nụ duyên, dây tình duyên, tấm duyên, chồi yêu, lộc tình, áo chiều, chén tình, lửa tình, khói lòng, bến xao lòng, triền nhớ nhung, đỉnh phong trần, đôi mắt dao cau, hàng cây ngữa mặt. Mùi ve, hương gió, tình ươm vàng, tình xưa xanh, đêm trầm hương… là những hình ảnh ẩn dụ được xây dựng theo cách thức chuyển đổi cảm giác của thơ tượng trưng. Những hình ảnh ẩn dụ – tượng trưng nầy làm cho câu thơ đẹp và giàu ý nghĩa. Qua đó, tác giả đã chứng tỏ mình là một nhà thơ có trực cảm mạnh và tinh tế. Đặc biệt hơn là cách sử dụng hình ảnh ẩn dụ có màu sắc siêu thực. Tác giả sắp xếp những hình ảnh đứng cạnh nhau một cách ngẫu nhiên, như không hề có liên quan gì. Hình ảnh thơ khác lạ, phi lí ẩn chứa nhiều nét nghĩa mới, có nét nghĩa ngã về phía vô thức, tiềm thức. Sự kết hợp các hình ảnh, từ ngữ vốn xa lạ, không hợp lô-gíc như: khói lòng, trái hân hoan, trái xuân, áo chiều, ngữa mùa, hàng cây ngữa mặt, triền nhớ nhung, hạt phôi pha… là những ẩn dụ đa tầng có màu sắc siêu thực, tạo nên hiệu ứng ngữ nghĩa, gây bất ngờ cho người đọc. Câu thơ như bông hoa lạ, làm ta phải ngắm nhìn lâu: – Hàng cây ngữa mặt nguyện cầu Chồi yêu tức ngọn nảy đau lộc tình (Nguyện cầu) – Nghiêng chiều rót nhớ vào đêm Ngữa mùa hứng giọt sương mềm vẹn nguyên (Thiên nhiên) – Gió mùa thả ngọn vô hương Gót hoàng hôn dẫm nát vườn chiêm bao (Vịn chiều) – Tiếng ru chạm nắng vườn trưa bỗng mềm (Hạ) Đó là những câu thơ tài hoa của Nguyễn Bá Hòa. Hay, khó cắt nghĩa nhưng… không mới. Ta đã thấy nhiều trong thơ Nguyễn Xuân Sanh, trong lục bát Bùi Giáng, trong ca từ của Trịnh Công Sơn,…rồi. Có thể nói lục bát của Nguyễn Bá Hòa là lục bát “rin”. Gieo vần, ngắt nhịp, hài thành không có biến cố. Nhịp lục bát là nhịp ru, được xây dựng trên cơ sở nhịp 2, đều cho tất cả các câu 6 và câu 8. Phá cách phải có ý đồ nghệ thuật rõ ràng. Lục bát trong Thuyền hạnh chỉ ba bốn bận ngắt nhịp lẻ, song dường như không có sắc thái biểu cảm gì: – - Đi một bước/cũng xuất hành Một câu thơ/cũng duyên lành/đầu năm. (Xuất hành) – Gót hoàng hôn/dẫm nát vườn/chiêm bao. (Vịn chiều) – Cái giếng cổ/bằng đá ong Cả làng uống/nước xanh trong/bốn mùa Lẫn trong nước/tiếng chuông chùa Tiếng thiêng liêng/tự ngàn xưa/vọng về (Giếng cổ) Ba lần tác giả tỏ ra mạnh dạn sử dụng các dấu câu ! ? . ở giữa dòng thơ làm cho câu lục bát có chút mới mẻ: – Buồn chi! Chức Nữ – Ngưu Lang – Mất chăng? Một chút chung tình với em – Ta trôi vướng giữa đời nhau. Gọi là Thơ lục bát của Nguyễn Bá Hòa khơi mở cho chúng ta nhiều vấn đề. Lục bát hôm nay phải viết như thế nào? Có nên đổi mới thơ lục bát không? Và đổi mới theo hướng nào? Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp trong bài “Giới thiệu thơ Đồng Đức Bốn” không tin ở sự cách tân thơ lục bát và đã nặng lời: “Tôi đã thấy sự suy đồi, sa đọa của thơ lục bát ở ta kể từ khi Nguyễn Bính và Bùi Giáng mất đi”**. Ông còn viết: “Những cố gắng cách tân lục bát, xét cho cùng giống như người già làm răng giả, người què đóng nẹp chân”**. Đó là ý kiến cực đoan. Không thể nói vì thơ lục bát là đặc sản, là quốc hồn quốc túy của dân tộc nên phải giữ nguyên gốc. (Lục bát đâu chỉ là của riêng của người Việt. Nhà thơ Inrasara đã trình ra lục bát Chăm, lục bát Thái Lan trong bài viết “Lục bát và các dòng thơ lục bát”) Cách tân là yêu cầu sống còn trong sáng tác văn chương mọi thời. Người làm thơ lục bát cũng phải gánh lấy trách nhiệm cách tân, làm cho thể thơ nầy có sức chứa lớn hơn và mang được cái hồn của người Việt trong thời đại mới. Lục bát truyền thống vốn ngọt ngào liệu có chuyển tải được hiện thực đa diện, với nhiều mâu thuẫn phức tạp đan xen của hôm nay hay không? Nhiều nhà thơ hiện đại đã có những cố gắng làm mới thơ lục bát. Huy Cận cắt bỏ yếu tố tự sự, dùng nhiều tính từ làm cho lục bát của ông có nét khác với lục bát truyền thống. Du Tử Lê chủ trương ngắt nhịp lại thơ lục bát (không lấy nhịp đôi làm cơ sở) dùng dấu vạch nhịp, dùng dấu chấm (.) trong dòng thơ, câu cuối của bài thơ có thể là câu lục và đặc biệt bỏ âm trắc bắt buộc ở tiếng thứ tư ở mỗi dòng thơ. Du Tử Lê là nhà thơ cách tân lục bát mạnh mẽ nhất. Lục bát Du Tử Lê mới, lạ và có hương vị riêng. Hãy đọc ít câu: …Nằm nghe – chăn gối rơi. Cùng tháng năm bằn bặt.- Phật còn ở không Tôi nhìn – tôi rất chon von …Sao tua chưa từng nằm kề /. em thơm tho giữa thơ, lìa biệt, tôi /. tay cầm tay, lên: chia hai : mũi đinh đóng xuống đời. Thôi nhé. Đừng xa người. Sao tôi không dưng ? địu em trước ngực, lưng buồn râm, ran. Đồng Đức Bốn, Phạm Xuân Nguyên, Mai Bá Ấn rất thành công với thể loại thơ lục bát, được dư luận chú ý***. Lục bát Đồng Đức Bốn, Phạm Xuân Nguyên đậm chất thế sự được viết theo lối dân gian – hiện đại. Mai Bá Ấn cắt dòng bậc thang… Có người nói: làm thơ chỉ cần cảm xúc, không cần lí luận. Không đúng, người sáng tác hôm nay cần có lí luận để “chỉ đạo” công việc sáng tạo của mình, không thể sáng tác mù. Nhưng cũng không để lí luận o ép, uy hiếp hồn thơ. Trường hợp Du Tử lê, Đồng Đức Bốn, Phạm Xuân Nguyên, Mai Bá Ấn hay Nguyễn Bá Hòa là những gợi ý để mỗi người làm lục bát tự định hướng. Lục bát Nguyễn Bá Hòa là lục bát “rin”, gần với lục bát truyền thống, chưa phải là “lục bát đời mới”, không thấy dấu ấn của sự cách tân. Anh thành công trong sử dụng các yếu tố nghệ thuật như lãng mạn, tượng trưng, siêu thực để câu thơ có màu sắc, hồn vía. Lục bát của anh là lục bát tình, lục bát duyên, lục bát thiền, ít có lục bát thế sự. Ai đem phân chất một mùi hương (Xuân Diệu). Ai đó nói rằng phê bình thơ là việc tàn nhẫn, người phê bình thơ là “kẻ ác”. Nhưng phê bình văn học không thể thiếu trong đời sống sáng tác của bất cứ một nền văn học nào. Sinh thời, nhà văn Nguyễn Tuân dặn dò: khi tôi chết hãy chôn theo một “thằng” phê bình. Thi sĩ Nguyễn Bá Hòa đã viết mấy câu: Đã bao lần uốn lưỡi Vẫn nói lời chua ngoa Nhà thơ đã thấu ngộ cái lẽ ấy thì người viết bài nầy “được lời như mở tấm lòng.. Tháng 11 năm 2011 ……………………………………… *

Thuyền Hạnh, NXB Văn nghệ, thph Hồ Chí Minh, 2010. ** Nguyễn Huy Thiệp, Giăng lưới bắt chim, NXB Hội nhà văn, 2006, trang 138, 139. *** Phần thơ lục bát trong các tập: Chăn trâu đốt lửa, Trở về với mẹ ta thôi (Đồng Đức Bốn), Cỏ cháy, Ở trọ hồn làng, Bến chuồn chuồn (Phạm Xuân Nguyên), các tập: Lục bát làm liều, Thị trường lục bát (Mai Ba An)

Nhà thơ Nguyễn Hàn Chung và bản thảo “Nghịch Lưu Của Tuổi”

Hai Trầu

HT:

Mến chào nhà thơ Nguyễn Hàn Chung,

Như bìa sau thi phẩm “Nghịch Lưu Của Tuổi”, có ghi :

Nguyễn Hàn Chung

Sinh quán  Điện Bàn –Quảng Nam

Tác phẩm đã xuât bản :

Tim tôi trong bóng (thơ) 1999

Nói hộ phù du  (thơ ) 2002

Nghịch lưu của tuổi (thơ) 2011″

Anh bắt đầu mê thơ từ lúc nào ? và anh có thể kể cho nghe về hai thi phẩm “Tìm Tôi Trong Bóng” (1999) và “Nói Hộ Phù Du” (2002), nội dung cùng sự ra đời của nó, thưa anh ?

NHC:

Rất cám ơn sự quan hoài của anh Hai Trầu khi đọc “Nghịch lưu của tuổi”. Nguyễn Hàn Chung đến với cõi thơ từ khoảng đệ thất, đệ lục ( khoảng đầu thập niên sáu mươi) lúc bắt đầu trổ mòi ”Đứng ngẩn trông vời áo tiểu thư” .Bắt chước các bậc đàn anh xứ Quảng  như Hoàng Thị Bích Ni , Đynh Trầm Ca, Nguyễn Nho Sa Mạc,Nguyễn Nho Nhượn, NHC cũng vần vè đôi bài cỡ như “Thuở nhỏ ôm một cây hùng khí-Bây giờ nghĩ lại thấy ương ương-Đời loạn mà không mần tráng sĩ- Cũng chả xài đến gã văn chương -Thì thôi vỗ bung mà ca hát …Say khước nằm lăn…” Thế thôi , ca vung hào sảng cho vui có nghĩ cái nghiệp thơ nó ám  miết âm hồn bất tán vào mình cả đời đâu. Thôi kệ rứa mà vui mà có bạn bầu tứ xứ.

Tập thơ đầu tay “Tìm tôi trong bóng” (1999)  tập hợp những bài thơ viết sau 1975 chât chứa nhiều trăn trở tìm sâu bản lai chân diện mục của mình với những nghịch âm,nghịch cảm trong cuộc Đánh cờ một mình.Tập thơ thứ hai ‘’Nói hộ phù du’’ (2002)  lại mở ra một hướng khác : Nói hộ cho những nỗi đời bà mẹ núi,ông lão bị lũ con cướp đất,người phu xe thổ mộ ngơ ngác giữa phố,anh kép diễn hài trong lúc cha đang hấp hối …Nói chung nói về thơ mình thì hơi khó .Anh có thể đọc bài viết sau đây của Liêu Thái(*)

(*”Nói hộ phù du-Cảm thức tro bụi và ý thức bền bĩ về tính hữu hạn tồi sinh” của Liêu Thái, Phần Phụ lục trang 136-….)

HT:

Anh Nguyễn Hàn Chung,

Theo giới thiệu của anh về bài viết ” Nói hộ phù du – Cảm thức tro bụi và ý thức bền bĩ về tính hữu hạn tồn sinh” của Liêu Thái, tôi thấy tác giả lưu ý đến khía cạnh cách tân trong thơ anh, nguyên văn:“Dường như đến đây, ý thức cách tân về hình thức lẫn nội dung trong thơ Nguyễn Hàn Chung đã bắt đầu hé lộ – một sự hé lộ hàm ẩn nhiều hệ lụy cho kẻ trót đa man với con chữ, dự báo một nỗi cô đơn rình rập…” Và  tác giả kết:”Anh đã để lại cho bạn đọc quê nhà một hình ảnh đẹp về người nghệ sĩ – nhà giáo tóc muối tiêu có đôi mắt sâu thẳm, ánh nhìn tinh nghịch và nhân hậu luôn quắt quay thoát khỏi những ràng buộc của sáo mòn để tìm đến không gian mới của sáng tạo. ”

Điều đó có thật vậy không? Và nếu có, anh có thể chia sẻ một chút về việc “cách tân” trong thơ anh ?

NHC:

Có thật không hả anh Hai ? Thì nó cũng hàm hỗn như thơ vậy, thật mà hư ,hư mà thật,cũng chả có cách tân cách cổ gì ghê gớm đâu chỉ là đổi mới tư thế làm…thơ cho nó sướng lên thôi chứ  cứ bưởi bòng rạ rơm vần vần vè vè đàng điệu  nó có vẻ giả giả thế nào ấy . Chính bản thân người viết đã chán ngấy thơ mình huống hồ …Cũng phải nói thêm điều này một chút .Cách đây chừng hơn hai mươi năm lúc NHC còn chưa bỏ xứ viết cái gì cũng sợ bị quy chụp như cái đận bài thơ Đánh cờ một mình bị truy tung đến điêu đứng nên sau này phải ẩn điều muốn hiển lộ dười tầng tầng bóng chữ kiểu ai hiểu chết liền nếu có kêu lên gọi xuống  hạch hỏi còn có cái để đốp chát:Bây giờ các cây bút hậu hiện đại cách tân đên mút chỉ  làm NHC cảm thấy thơ mình còn quê một cục  chẳng qua Liêu Thái dùng lối nói  khoa trương  cho NHC uống đường ăn mật đó thôi…

HT:

Anh Nguyễn Hàn Chung,

Không có lửa làm sao có khói, phải không anh ? Và có “cách tân” hay không ở thơ anh như Liêu Thái nhận định chắc người đọc cũng đã thấy rồi, nhưng có điều này, anh còn nhớ những bài thơ cũ một thời của anh không ? Hy vọng anh cho bạn đọc nghe lại chút hương xưa một thời qua những vần thơ cũ ấy, anh Nguyễn Hàn Chung ? .

NHC:

Kính anh Hai Trầu!

Vâng ,thưa anh .Có bạn văn khi đọc  Nghịch lưu của tuổi có comment với tác giả là trong tập thơ hầu như không có thơ tình .Quả vậy NHC cũng không biết tại làm sao mình  không thể …Thôi thì nhân anh nhắc ,NHC chép lại một  vài đoạn  thơ tình tang tình  gửi tặng anh cùng bạn đọc gọi là bổ sung vào phần khiếm khuyết :

”Nhà vắng lục tìm sách cũ
Lạc vào một cõi em xưa
Những lá thư vàng ố chữ
Lời yêu khi tỏ khi mờ…

Cổng trường Văn khoa quá chật
Anh đi kiếm lá mỏi mòn
Mối tình đầu như đốm lửa
Mỗi khi lòng không củi nhen…

Và nhớ những ngày mưa Huế
Thu lu quán xếp bên trường
Sóng sóng trăm tà áo trắng
Anh vẫn nhìn ra mắt em…”’

Tiếng vợ nựng con bên cửa
Anh biết giấu em vào đâu
Nào bướm nào hoa nào tóc
Anh còn nâng níu trên tay…
(
Ký ức đầu)

“Nửa đi là mất nữa rồi
Nửa vể, câm, một nửa vùi trong đau
Nửa trời cho dễ nữa đâu
Nửa rưng rức sóng chân cầu nửa em

Nửa chiều nửa sáng nửa đêm
Nửa xanh biếc rụng nửa mềm môi khô
Anh còn có nửa chi mô
Nửa em giàn giụa tan bờ nửa anh

(Nửa)

‘Biết rồi sẽ chuốc đa đoan
Mà không ngăn nổi quáng quàng đường say
Lâu rồi cứ tưởng ,ô hay
Trái tim ta cũng bàn tay ai cầm
Mây bời bời cỏ rối câm
Thời gian vò sợi tóc xanh trắng mù
Hôn liều lên chúm chím thu
Bờ môi như sóng nhiễm từ xa xăm

Giá trời bỏ quách tháng năm
Tôi hao khuyết hết trăng rằm cho em

(Tuổi tình )

Những đoạn trích trên từ hai tập thơ ”Tìm tôi trong bóng” và ”Nói hộ phù du “. Anh thấy có ”mềm ”hơn thơ trong NLCT không anh ?

HT:

Anh Nguyễn Hàn Chung,

Giờ xin bắt đầu với “Nghịch Lưu Của Tuổi” của anh . Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, quyển 1, trang 172 :  ”Mùa đông, tháng 11, Lý Nguyên Gia thấy trước cửa thành có nước chảy ngược, sợ trong châu nhiều người sinh lòng làm phản, vì thế dời đóng ở thành ngày nay (Bấy giờ Nguyên Gia dời phủ trị đến sông Tô Lịch, mới đấp thành nhỏ thôi, có người thầy xem đất bảo rằng : Sức ông không đấp nổi thành lớn, độ năm mươi năm nữa về sau tất có người họ Cao đến đây  đóng đô dựng phủ …”(*) Như vậy “nước chảy ngược”, theo anh có phải là “nghịch lưu” không ? Và sao anh lại chọn bốn chữ  ”Nghịch Lưu Của Tuổi” làm cái tựa cho thi phẩm  lần này, thưa anh ?

————–

(*) Toàn Thư theo An Nam kỷ yếu . Lý Nguyên Gia sở dĩ xin dời phủ thành là vì thấy ở phía trước cửa thành có nước chảy ngược – tức là nước sông Tô Lịch, bấy giờ còn là phân lưu của sông Hồng, nên nước chảy từ sông Hồng ngược lên.

NHC:

Lương tiên sinh quả thật là đại hành gia trong lĩnh vực truy nguyên nhưng NHC không thể trả lời câu hỏi nầy của anh Hai được đâu .Trúng thì không sao chứ sai thì chết bỏ xừ .Có điều khi chon bốn chữ Nghịch lưu của tuổi làm tiêu đề cho tập thơ NHC cũng có chút hàm ý. Thông thường theo hành trạng xuất xử của người xưa ”Thiếu tiểu ly gia lão đại hồi-Hương âm vô cải mấn mao tồi -Tạm dịch : Lúc trẻ bỏ xứ ra đi lúc già mới trở về -Tóc râu đều bac cả  mà giọng quê không đổi (Hạ Tri Chương). NHC đi ngược với cái trình tự kinh điển ấy .Gần sáu mươi năm quẩn quanh đi học rồi làm nghề gõ đầu trẻ ở một xó xỉnh quê nhà Quảng Nam -Đà Nẵng bây giờ già khèn trí cùn lực đoản ”bách niên đa bệnh độc đăng đài” còn bán mạng ly gia  hành cu li đất khách  phải quên cái hương âm uốn môi , uốn lợi học tiếng nước người nên liều mạng đặt tên tập thơ để đánh dấu một chặng cuối đường lưu lạc . Thế thôi chẳng có ý tứ mới lạ gì đâu anh ạ!

HT:

Anh Nguyền Hàn Chung,

Cảm ơn anh . Vừa rồi anh có nhắc “hành cu li”, tôi tò mò tìm trong tập bản thảo

bài “hành cu li ca”nơi trang 10, làm tại Louisiana với tứ thơ mang nhiều chua xót, đắng cay ; mỗi chặng dừng chân của Nguyễn Hàn Chung là mỗi vết cắt dù qua lâu rồi nhưng vẫn còn ê ẩm, khó lành. Nhưng câu cuối “Mây nước trùng trùng  thề không trắng tay…”, lại là dấu hiệu của một quyết chí . Có phải Louisiana lại là một bến bờ nào nữa mà anh đã dừng lại trên dòng đời lưu lạc này ? Và nay, anh có thêm được gì trong tay sau bao năm mải miết trong dòng đời này hay chỉ mới là”Nghịch Lưu Của Tuổi” không thôi, thưa anh ?

NHC:

Anh Hai ơi!

Phải nói Ông Hai Trầu và gã ‘’trai già Quảng Nam’’nầy có mối ‘’đồng thị thiên nhai ‘’  sao đó nên trong cả tập hơn bảy chục bài mà anh lại tò mò đọc hơi bị kỹ bài hành cu li ca lại đặc biệt chú ý tới câu cuối cùng ‘’Mây nước trùng trùng thề không trắng tay’’ tiếp theo là địa danh  Louisiana không ngày tháng. Con mắt  ‘’thấu thị xuyên tầng’’ của anh Hai chiếu như muốn thấu tâm can tỳ phế  tác giả.Thật ra không có thề thốt gì lắm đâu anh  . Anh biết bài hành cu li ca  NHC sáng tác trong hoàn cảnh nào không?Trên chiếc tàu casino ở Louisiana đó. Nướng hết chút tiền còm dành dụm trong trò đen đỏ rồi ra đứng trước boong tàu nhìn mây trắng sóng xanh đất khách tự thề với mình hành cu li kiếm sống để viết cái gì đó cho mai hậu chứ không phải để lao vào cái trò bác thằng bần như bao bậc tiền nhân tán gia bại sản trên đất Mỹ nầy.Thế thôi anh ạ!

Còn anh hỏi ngoài NLCT, NHC còn có những gì sau bao năm mải miết không?Còn chứ anh, NHC còn viết một tập cảm , bình từ những ngày còn ở trong nước khoảng 40 bài thơ theo chủ quan tác giả là sướng ,là tới bởi có cái để mà ngẫm ngợi .Các tác giả bị NHC chọn là bất kỳ không nhất thiết phải là nhà thơ có tên tuổi.Chỉ khoái là chọn là bình thôi.Hy vọng trong năm 2012 NHC sẽ trình làng tập bình có cái tiêu đề ‘’Thầm thức cùng thơ ‘’ sau khi  khoái thêm vài mươi bài nửa .

HT:

Thưa anh Nguyễn Hàn Chung,

Bài thơ “Bí ẩn tháng giêng”(*) mở đầu thi tập “Nghịch Lưu Của Tuổi”, với đoạn thứ nhì:

“……

Tháng giêng tàng trữ mầm xanh lao lực trong

bụi bặm

ẩn nhẫn chờ đợi một ngày  ấm áp

giống như chu kỳ của người đàn bà hoài thai

cánh đồng

tháng giêng tạm trú vào đàn bướm tơ sắp đến

kỳ sinh nở

mặc những cơn gió ganh tị chỉ chực len vào cội hoa ức hiếp … “

(NLCT, trang 5 và 6)

Trong một bài viết của nhà thơ Quỳnh Thi về tập thơ này với tựa đề :”Một số suy nghĩ về thi tập Nghịch Lưu Của Tuổi đăng trên Talawas Blog, ngày 25 tháng 10 năm 2010, tác giả viết :

“Bài “Bí mật tháng Giêng” có những câu “Bí ẩn của tháng Giêng cũng là bí ẩn của những điều không thể nói ra”, “Mặc những cơn gió ganh tỵ chỉ chực len vào cội hoa ức hiếp”. Trong câu thơ trên, chúng ta thấy Nguyễn Hàn Chung dùng nhóm chữ “Những cơn gió ganh tỵ” một cách tài tình. Chẳng rõ “cơn gió ganh tỵ” là cơn gió gì; liệu đó có phải là một ám chỉ cho “Bí mật tháng Giêng” không? Rồi còn “Con bướm khấp khởi đôi cánh mỏng – nương nhờ chiếc lá khô chờ hơi xuân hé”. Chiếc lá khô là của mùa Đông. Con bướm nương nhờ mùa Đông lúc còn nằm trong cái kén! Thật thâm thúy. Đó cũng là phong cách dùng chữ để diễn tả ý tưởng riêng biệt của thơ Nguyễn Hàn Chung vậy.”

Là tác giả làm ra những câu thơ “bí ẩn” này, anh nghĩ sao về nhận định của tác giả Quỳnh Thi?

(*) Bài thơ này trong bài viết của nhà thơ Quỳnh Thi ghi tựa là “Bí mật tháng Giêng

NHC:

Thưa anh Hai !
Kim Thánh Thán trong lời đề tựa Tây sương ký của Vương Thực Phủ  đời Nguyên có viết “Chỗ mà lòng tới rồi bút bât tất phải nói nữa”.Anh Quỳnh Thi có những cảm nhận của riêng anh  ấy về bài thơ Bí ẩn tháng giêng , NHC không thể chuyển sự phản ánh cảm tính của mình  thành khái quát của tư duy được.Hơn nữa dù NHC là tác giả chăng nữa cũng chỉ là người đứng sau cánh gà sân khấu hình tượng .Và thưa anh NHC nghĩ rằng hình tượng ngôn từ thường  tạo ra ảo giác cho nên bất khả tạo ra độ sáng rõ ,độ phân giải như ở các loại hình nghệ thuật khác.Chính vì muốn phá vỡ những hình thức  khô cứng đã quen được thừa nhận về mùa xuân  và muốn đi sâu vào những vận động bí ẩn của tâm hồn mà NHC viết Bí ẩn tháng giêng .

HT:

Anh Nguyễn Hàn Chung,

Trong trả lời cho câu trước, anh có nói: “Còn chứ anh, NHC còn viết một tập cảm , bình từ những ngày còn ở trong nước khoảng 40 bài thơ theo chủ quan tác giả là sướng ,là tới bởi có cái để mà ngẫm ngợi .Các tác giả bị NHC chọn là bất kỳ không nhất thiết phải là nhà thơ có tên tuổi .Chỉ khoái là chọn là bình thôi.Hy vọng trong năm 2012 NHC sẽ trình làng tập bình có cái tiêu đề ‘’Thầm thức cùng thơ ‘’ sau khi  khoái thêm vài mươi bài nửa .”

Qua những điều anh vừa chia sẻ làm tôi tò mò tìm đọc trang nhà “sông thơ”, và đọc được bài bình thơ sau đây của anh :” “Bốn mươi năm mang mang hồi ức” với bài thơ “Xa Cách” của Châu Liêm mà anh dùng làm nền cho bài bình thơ này . Bài thơ theo anh ghi lại qua trí nhớ như dưới đây:

Xa cách

Hai dặm cát vàng duyên nối tiếp

Đôi bờ sông rộng mặc ai đưa

Tôi đâu dám bảo Trường giang hẹp

Chỉ hận nghìn năm với bến bờ

Đêm ấy người đi sương xuống lạnh

Trăng mùa tiễn biệt sáng mông lung

Tôi đâu dám hẹn ngày tương ngộ

Người khóc đêm nào người nhớ không?

Tuổi mới hai mươi đời xế nửa

Từ nay đâu dám hẹn tương phùng!

Ai tiễn ta qua vài bến nước

Với hai sào gió bốn sào trăng

Ai tiễn ta rơi vài giọt lệ

Lệ chảy đầy trong đôi mắt trong

Quấn bàn tay lạnh trong tà áo

Từ nay xa cách mấy con sông

Châu Liêm

Sau khi giới thiệu tác giả Châu Liêm ngày xa xưa ấy chính là nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp hôm nay hiện đang ở gần đâu đây và anh có lời bình như sau :

“Tôi nghĩ không ra làm sao một cậu bé học lớp đệ nhị mới mười sáu tuổi ( *l)ại có thể sử dụng từ ngữ điêu luyện dường ấy.Phải chăng  đó là của trời cho và tác giả với tư cách là người sáng tạo vẫn nằm ngoài hệ thống  với các mối liên hệ nghệ thuật : Người chủ xướng và người đọc cũng chỉ đóng vai trò tham dự mà thôi .

“Có những bài thơ tác giả là những nhà thơ lớn ,ngôn ngữ thơ hàm súc  đặc dị,chứng tỏ tác giả uyên bác và trí tuệ cao nhưng sao người đời lại không nhớ mà kỳ lạ bài thơ Xa cách của Châu Liêm tuy không có nhiều sáng tạo về mặt thi pháp nhưng chiều sâu của tiếp nhận thẩm mỹ được  vượt qua được một độ lùi của thời gian chiếm lĩnh và tái tạo hình tượng ngôn từ trở thành hình tượng tâm tư trong lòng người đọc gây hiệu ứng tiếp nhận  bền vững trong lòng tôi và bè bạn một thời, một đời…

Cái cực sướng nào rồi cũng nhanh chóng qua đi tại sao cái cực sướng văn chương cử đeo dai đeo dính chúng ta đến mỏn đời làm vậy.”

(Sông thơ, ngày 02 tháng 11 năm 2009)

Theo như anh vừa nhận định qua lời bình mà tôi vừa trích, vậy bài thơ Xa Cách này quả là một bài thơ hay hoặc rất hay, ít nữa đối với riêng anh, từ đó nên mới có “Bốn mươi năm mang mang hồi ức” . Do vậy, tôi mới nghĩ thơ cũ đâu phải bài nào cũng dở, phải không  anh ? Về phương diện thơ hay và thơ giá trị, là một người làm thơ rất lâu và với kinh nghiệm giảng dạy môn Việt văn hơn ba mươi lăm năm như anh cho biết cùng trong bài bình thơ này, xin anh chia sẻ thêm chi tiết nhỏ này mà tôi thắc mắc hoài nhưng không biết hỏi ai; đó là, theo anh thì khi nào bài thơ được gọi là hay và khi nào bài thơ được coi là có giá trị ? Giữa bài thơ hay và bài thơ giá trị nó là một hay là hai bài thơ đó hoàn toàn khác nhau, thưa anh?

NHC:

Anh Hai Trầu quý mến !
Cái chi tiết nhỏ  mà anh  muốn được kiến giải không nhỏ một chút nào nếu không nói là vượt quá tầm suy nghĩ của những người cầm bút làng nhàng  cỡ NHC.Nó đi vào định nghĩa  cõi thơ của các bậc hàn lâm về mỹ học,thi pháp học ,về thời gian,không gian nghệ thuật ,tính thời đại văn học, văn hóa một dân tộc các biện pháp nghệ thuật các trào lưu văn học,trường phái văn học khác nhau.Theo thiển ý của NHC thì thơ hay là thơ làm rung động lòng người bất kể nó được viết với phong cách nào.Có điều nó phụ thuộc vào từng  thế hệ đối tượng với các khuynh hướng thưởng thức chứ không thể cào bằng mọi đối tượng tiếp nhận được .Vì thế mỗi trào lưu văn học đều có những đối tượng tiếp nhận thẫm mỹ khác nhau.
HT:

Anh Nguyễn Hàn Chung,

Qua bài bình bài thơ Xa Cách của Châu Liêm, tôi thấy anh mê chữ “quấn” trong hai câu kếtcủa bài thơ này và anh viết:

và nhât là từ quấn trong hai câu thơ cuối cùng;
’Quấn bàn tay lạnh trong tà áo

Từ nay xa cách mấy con sông’’

Động từ quấn bình dị dân dã  mở đầu đoạn kết lại có độ hút mà trộm vía tác giả  tôi thiển nghĩ chính anh cũng đâu có ngờ trong suốt  hơn ba mươi lăm năm làm người thầy giáo dạy văn tôi đã dẫn dắt các em học sinh chuyên văn quê nhà bình  nhãn tự trong các câu thơ ấy. Tôi đã cho các em đưa  từ xế,quấn vào trong một trục với các từ đồng nghĩa hoặc gần nghĩa chẳng hạn để thay thế cho các từ ấy nhưng các em và cả người thầy đều bất lực”(Bốn mươi năm mang mang hồi ức)

Và rồi tôi lại lần dỡ những trang thơ của anh, tôi lại thấy anh có câu thơ nàyvới chữ quấn rất điệu nghệ :

“Quấn lòng anh trong tà áo em đi

Tay ram ráp bụi đường xa thiếu bạn

Anh rớt cuối bươn tràn qua vận hạn”

(À ơi điệu cũ, NLCT, trang 7)

Ngoài ra, qua 136 trang sách với 72 bài thơ , dù tập thơ rất mỏng như vậy nhưng theo thiển ý của tôi, thơ anh có mấy nét chính sau đây:

1/ Anh có cách cắt, ráp các chữ trong các điển tích làm thành nhóm chữ mới để anh diễn tả những suy nghĩ của anh qua các câu thơ mà anh muốn viết rất công phu. Do vậy, chữ dùng của anh lạ, khô , rất khó đọc nhưng nhờ nó hàm chứa nhiều trăn trở qua chính những bước chân lưu lạc, thăng trầm trong dòng đời của chính tác giả và nhờ tài pha chế đôi chút gia vị châm biếm nhẹ nhàng, dí dỏm, không ác ý, nên nếu ai chịu khó đọc được vài bài thơ đầu rồi thì sẽ thấy thích, và lần lần đọc tiếp cho tới hết dòng thơ cuối cùng sẽ nhận ra thơ Nguyễn Hàn Chung chan chứa biết bao trăn trở về thân phận con người giữa dòng đời với một người không còn trẻ trung gì mà rồi còn phải lo bươn chải trèo lên từng bước chân một trên những triền dốc ngược…

2/ Về ý thơ, phần lớn thơ anh là có chủ đích “nghịch”“phản”. Tất thảy những bài thơ của anh lấy cảm hứng từ đáy lòng anh đã đành mà nó còn khắc họa lại những ngang trái mà anh bắt gặp, trong văn giới cũng như ngoài đời. Những “nghịch lưu”, “nghịch âm”, những “phản ca”, “phản cảm”, “phản tuyên ngôn thơ”, những “biến dị”, “hành”, “hèn ta thơ”, “mé”, “cảm thức mé” và mỗi mỗi chữ anh dùng không đơn giản chỉ là chữ, là ý, là thơ, là thẩn một cách bình thường mà là những dòng máu trong anh cứ “chảy ngược” như “nước chảy ngược” của một dòng sông phải chảy qua nhiều tảng đá ngầm nằm sâu trong đáy sông của mình. Thành ra, nếu tôi không lầm, anh rất cô đơn dù anh có rất nhiều bạn cũ và mới như trong trả lời của anh ở câu đầu tiên:”Thôi kệ rứa mà vui, mà có bạn bầu tứ xư”; nếu không muốn nói là anh chưa tìm được người đồng điệu, tri âm, tri kỷ, ít nữa là đồng điệu trong cách suy nghĩ, trong cách diễn đạt, và cả trong cách giải trí giản dị nhất mỗi ngày là anh muốn làm cho thơ mình khác với cái cũ… Và nỗi cô đơn đó, nó còn để lại rất rõ trong câu thơ mà tôi vừa nhắc bên trên:

“Tay ram ráp bụi đường xa thiếu bạn

Anh rớt cuối bươn tràn qua vận hạn”

(à ơi điệu cũ, NLCT, trang 8)

hoặc trong một bài khác:

“Không đủ lực đợi những cái chớp mắt biến ảo

mặc những cơn gió  quậy phá

quẫy đạp đi tìm di chỉ cánh đồng

cánh đồng xanh mơ ở đâu?

anh mải mốt chạy  marathon tìm em mệt nhoài ký ức”

(Canh giấc cánh đồng, NLCT, trang10)

hoặc trong bài “tha phương không tám”có đoạn:

“Thì cứ tống cứ tan ngần ấy tuổi

Biết cùng ai chia sớt chuyện buông tuồng

Chiều tới sáng lục tìm mưa cắm cúi

Ngón với bàn ngong ngóng đến thê lương

Gần rất lạ xa tới tầm tay với

Sợi mong manh riết róng cột âm thầm

Lầu cây khế leo tấm thân chùm gửi

Nhướng lên mù thấy rõ  một xa xăm

Vẫn mụ mị lùng bùng  cơn cớ trước

Và ngơ ngơ ngác ngác những phương chiều

Mùa không hắt tia nắng vàng ,vô phước

Kẻ điêu nào còn léo hánh cô liêu”

(bài tha phương không tám, trang 12

Hoặc như “bước qua thì cũ mới”, anh viết :

“bơi trên sóng sợ sông dài khủng khiếp

thấy lăn tăn đã hú ba hồn bảy vía hà bá ma da

muốn tháo chạy lên bờ ngặt dưới thân toàn nước

cõi trăm năm hơi đâu đủ sức dài cút bắt khánh tận nỗi buồn

mặc cho gã niềm vui đê hèn thiêm thiếp

chắc chắn có kẻ  sẽ gõ cửa cho em lách váy vào thiên thu

dọn sẵn một chỗ tinh tươm chơi trò rơi ngược

nhưng bây giờ có lẽ chỉ một mình anh  đang bơi

các em còn bận lau bàn chân ướt”

(bước qua thì cũ mới, NLCT, trang 20)

Và còn nhiều lắm những vần thơ mang mang nỗi cô đơn hiu quạnh

một bóng hình ngược nước ấy mãi hoài , không kể xiết …

Là tác giả của những bài thơ “nghịch lưu” này, anh nghĩ sao

về mấy ghi nhận nông cạn, thô thiển của một người đọc già

lười suy nghĩ  như tôi, thưa anh ?

NHC:

Anh Hai Trầu ơi!
Anh đã  chịu khó trải lòng mà thẩm thấu thơ NHC nói chung và NLCT nói riêng đó là  sự mừng vui mong ước  rất lớn không dễ gì đạt được của người cầm bút nghịch lưu nầy . Nhất là thơ trong NLCT đúng như anh nhận xét:khô,nghịch nhiều ý còn  hàm hồ nữa.Vô cùng trân quý những nhận xét tinh tường của anh  giúp NHC bừng ngộ nhiều điều trong trò chơi con chữ gian nan  khổ ải nầy .Rất mong nghe được những lời bình sâu, chân xác hơn nữa của anh cũng như bạn đọc về tập thơ NLCT .Điều người làm thơ  hãi sợ nhất khi trình thơ  ra làng đã được NHC thắc thỏm  trong  mấy câu cuối bài làm thơ và múa dao . Xin được mạn phép lặp lại :

”làm thơ khác gì múa dao
nghề càng tinh
càng mệt nhoài số kiếp

cùn tóc râu
thương tích ngữ ngôn
hãi sợ rụng vào trăm năm mất biệt

NHC cả nghĩ :  thơ đừng mất biệt  trong cõi vô tăm  là hạnh phúc không tưởng của bất kể nhà thơ nào ? Có phải thế không anh ! . Nguyễn Hàn Chung xin kính gửi đến anh Hai Trầu lời cảm tạ tri âm nhất.


HT:

Anh Nguyễn Hàn Chung,

Tôi xin được nêu lên một ghi nhận thứ ba nữa trong cách viết tên người, tên nhân vật trong các bài thơ mà anh đề cập tới họ ; đó là anh không bao giờ viết chữ hoa dù anh có cố ý nhắc những tên người, những nhân vật ấy, nhưng anh cứ phớt lờ đi, coi như đó là những chữ bình thường không lấy gì làm quan trọng cho lắm với mục đích là anh muốn dẫn người đọc đi qua một hướng khác không có ai trong thơ anh ráo trọi .

Điều này, anh làm tôi nhớ hồi còn đi trọ học, tôi thường phụ với chủ nhà vô lò nấu heo thợ bạc. Xin kể anh nghe diễn tiến công việc này như sau. Dân chuyên nấu heo vàng họ đi gom mua khắp Sài-Gòn Chợ-Lớn những bụi vàng nơi các tiệm thợ bạc. Gom về như vậy mỗi ngày và trong vòng vài ba tháng, số lượng heo vàng này đủ vô một lò thi bắt đầu vô lò . Trước tiên người ta đem mấy heo thợ bạc này ra trộn với cát nhuyễn và bỏ vào mấy ống vót nắn bằng đất sét trắng đã phơi khô lâu ngày, hình dáng mấy ống vót này giống như hình dạng trái bầu cắt ngang trên mặt . Vô ống vót xong xuôi đâu đấy người ta mới sắp xếp những ống vót này thẳng đứng trong lò đúc bằng xi măng; giữa những ống vót người ta bỏ xen kẻ những cục than đá vừa giữ cho các ống vót thẳng đứng, vừa giúp khi đốt lò lửa than đá sẽ làm cho cát và vàng trong ống vót chảy ra . Sau khi lò đã vô đủ số lượng ống vót heo thợ bạc cho một kỳ nấu heo như vậy, người ta bít nắp lò lại và mồi lửa đốt lò . Khi lửa cháy thì than đá trong lò bắt đầu cháy theo và đốt như vậy trong vòng năm ba ngày, có khi một tuần và coi khói trong lò lên màu trắng là bắt đầu bịt miệng lò lại, vì khói trắng là dấu hiệu các chất tạp đã cháy s ạch hết rồi ; rồi chờ khi nào lò nguội, chủ lò mới khui nắp lò và lấy các ống vót ra . Khi lửa cháy cát và vàng cùng chảy . Vì cát nhẹ hơn vàng nên cát chảy thành thủy tinh, nằm bên trên và vàng nặng hơn cát nên vàng nằm dưới đáy ống vót . Lúc bấy giờ chủ lò mới lấy búa đập ống vót và lấy vàng dưới đáy . Xong đâu đấy, người ta mới dùng acid HCL hoặc acid H2SO4 phân kim số vàng này để lấy ra bạc và vàng nguyên chất.

Sở dĩ tôi kể dông dài với anh về việc nấu heo thợ bạc và phân kim vàng là tôi muốn ví công việc anh viết tên các nhân vật dù quen hay chưa quen đều viết ở dạng chữ thường, giống như anh muốn pha trộn giữa cát và vàng  rồi cho vào lò lửa và rồi vàng và cát sẽ nhờ lửa mà phân biệt được đâu là cát đâu là vàng. Phải chăng đó cũng là cách chơi chữ với nhiều dụng công của anh không, thưa anh Nguyễn Hàn Chung ?

NHC:

Kính anh Hai Trầu !
Anh có lối ví von sao mà thâm thúy rứa ! Chẳng qua là một thủ thuật để tránh những phiền phức có thể xảy ra thôi anh à . Động đến  tài thì không sao chứ đụng đến tật các ông nhà thơ ,nhà văn là lắm chuyện .Tôi  dụng cách viết như vậy để có đường mà biện bác sau nầy  nếu ai dó có chất vấn:tại sao  và tại sao ? Một số bài dạng nầy đã lên
damau.org Người đọc cũng comment lủ khủ đó anh.Hơn nữa mình chỉ cảm một mé chân dung sao dám chính danh, chứ có đãi cát đãi vàng chi mô mà anh nói quá lên rứa.Mà thật ra cũng vui thôi,nào có ác ý với ai đâu !

HT:

Thưa anh Nguyễn Hàn Chung,

Sao tôi cứ miên man nghĩ về cái tựa “Nghịch lưu…” của anh hoài. Như anh biết quê tôi vùng sông nước miền Tây, nên đi đâu cũng gặp sông, gặp rạch, gặp kinh, gặp mương , gặp cồn, gặp bãi, và dường như chỗ nào quanh quanh nơi mình ở cũng nước là nước, mát lạnh cả một vùng … Thành ra nhà nhà đều phải có ít nhứt là một chiếc xuồng để đi lại trong vùng, khi lên ruộng, lúc ra chợ, hoặc cần đi cánh đồng xa xa giăng câu giăng lưới cũng phải nhờ tới chiếc xuồng. Việc nào cần chuyên chở hơi nhiều nhiều một chút thì người ta còn phải có chiếc ghe . Ghe thì có chiếc chở năm ba chục gịa lúa, có chiếc chở cả mấy trăm giạ lúa trở lên . Còn chở đá, chở gạch, chở cát, chở cây, chở gỗ thì ghe lại càng lớn hơn nữa như ghe cui, ghe cà dom, ghe chài, ghe mui lón, chẹt, sà lan và nhiều thứ lắm … Vì đi theo sông, theo nước như vậy, nên dân quê tụi tôi phải lựa con nước mà đi . Khi nào nước xuôi thì  nhổ sào bơi theo nước cho đở tốn sức bơi chèo và khi nào nước ngược thì tấp xuồng ghe vô bờ nổi lửa nấu cơm ăn uống no bụng rồi nằm nghỉ chờ nuớc xuôi đi tiếp cho tới khi về tới bến, tới bờ mình định tới … Tôi còn nhớ hồi học các lớp Sơ Đẳng Tiểu Học, rồi Tiểu Học Bổ Túc những năm 1940, trong các lớp học vách lá nghèo nàn nơi các làng quê thường hay treo câu cách ngôn : ”Học như chèo thuyền ngược nước, không tiến ắt phải lùi”. Nay nhớ lại anh có hơn ba mươi lăm năm dạy học, có lần nào anh dạy học trò câu ngạn ngữ này không, thưa anh ?

Buổi trò chuyện với anh tới đây kể cũng đã dài dù tôi còn muốn hỏi anh thêm nhiều điều nữa về tập thơ “Nghịch Lưu Của Tuổi”, nhưng sợ anh không có nhiều thời giờ, nên đành hẹn lại với anh vào dịp khác vậy . Xin chân thành cảm ơn anh đã giải đáp cho các thắc mắc trong cuộc trò chuyện này rất tận tình . Kính chúc anh có nhiều hứng thú trong con đường ‘nghịch lưu” của mình và chúc anh cùng gia đình nhiều sức khoẻ, vạn an.

NHC:

Kính anhHai Trầu

Qua cuộc chuyện trò thật lý thú giữa ông Hai Trầu và gã Trai già Quảng Nam nầy NHC rút tỉa ra được nhiều điều cần phải hoàn chỉnh hơn khi đưa tập thơ Nghịch lưu của tuổi  tới nhà in. NHC rất trân quý tình cảm trọng thị văn chương của anh nên phải vắt hết tinh lực để trả lời những chất vấn sát sạt của anh về những vấn đề xung quanh đời thơ NHC cũng như NLCT. Có gì NHC trả lời còn hàm hồ ,chung chung mong anh thông cảm thứ lỗi vì không thể làm gì khác hơn . Nghịch lưu của tuổi để mong được hợp lưu của đời chứ chẳng ai muốn ”nghịch thiên giả vong ” đâu anh. Nhưng anh ơi lắm khi  phải chấp chịu mất để mà còn….NHC còn chờ anh vấn nữa nhưng  rất tiếc anh đã tuyên bố ngưng nghỉ rồi nên thôi chờ dịp khác vậy.Một lần nữa Nguyễn Hàn Chung thành thật tri ân anh đa quan tâm nhiều đến tập thơ đầu tiên trên đất Mỹ của NHC .
Kính gứi đến anh chị  lời chúc sức khỏe . Nhân biết anh say mê hoa trái .hằng ngày cặm cụi bên luống cỏ ,chùm hoa NHC quý tặng anh mấy câu cũng để tạm kết cuộc trò chuyên rất  thú vị và bổ ích nầy ;

Cầm trong tay
một chùm hoa
Sắc màu tươi
có phôi pha một vài…
ném tung
vào
cõi trần ai
Mầm xanh
từ cánh hoa phai
cứa mình
Thành thật cám ơn anh vì những trao đổi rất bổ ích chung quanh  bản thảo tập thơ  NLCT của NHC

HT:

Anh Nguyễn Hàn Chung,

Một lần nữa cảm ơn anh viết tặng cho mấy vần thơ mang chút triết lý về nhân sinh nhiều ý nghĩa và cầu chúc anh cùng “Nghịch lưu của tuổi” luôn có mặt giữa dòng đời luôn dời đổi này …

Kinh xáng Bốn Tổng, ngày 26 tháng 3 năm 2011

ĐỌC KÝ NHẬN GIAO MÙA

Huỳnh Minh Tâm
( Nhân đọc tập thơ Ký nhận giao mùaLa Trung, NXB Văn học, 2010)

Gặp gỡ La Trung vài lần, trò chuyện buâng quơ không ra chuyện, bởi tào
lao tùng phèo, nhưng qua đấy tôi có cảm nhận tính tình La Trung bỗ bã,
mộc mạc, hơi “ồn”. Rồi đọc tập thơ ký nhận giao mùa của anh, và thật
sự ngạc nhiên hớn hở, bởi thơ anh kiệm lời, kín đáo, đôi chỗ tinh tế
đến xao xuyến, ngỡ ngàng.

Gió tàn đông ngõ lời giã biệt
Cành biếc xôn xao
Vo ve ngôn ngữ bướm ong
Sợ mất hương trinh hoa vàng gọi nắng xuân về dâng hiến
Nhện cố giăng trận đồ bát quái
Côn trùng ăn đến vô tư
Mặc người sờ nắn âm dương
Mắt cửa vẫn mở thời gian hàng trăm thế kỷ
Hẻm nhỏ cựa mình trở giấc
Nghe đường xưa ký nhận giao mùa
(Ký nhận giao mùa)
Đó là những câu thơ hay, thể hiện tầm quan sát thiên nhiên của La
Trung sâu sắc, cách diễn đạt là lạ, xê dịch ý tưởng bất ngờ. Ký nhận
giao mùa  ở bài thơ trên là ký nhận, giao thoa, hòa quyện giữa thiên
nhiên với thiên nhiên, giữa cái đẹp vô tư ưu ái với cái đẹp ưu ái vô
tư, ở một thời khắc cụ thể đông tàn xuân đến của trời đất mênh mông.
Nhưng ký nhận giao mùa  ở cả tập thơ, theo thiển ý của tôi, là những
ký nhận sâu xa hơn về thời gian, rộng lớn hơn về vũ trụ. Ở một vài
nghiã nào đó, đó là  ký nhận giữa con người và  thiên nhiên, giữa con
người và con người, giữa những điều chưa biết và những điều đã biết,
là hòa quyện trộn trạo trong thức tâm không thời khắc. Và đôi lúc bản
ngã ta cũng không cần hỏi ai ký nhận, ký nhận về điều gì, ký nhận ở
thời khắc nào, ký nhận để làm gì. Bởi khi đặt điều hỏi đáp là ta đã bó
hẹp vào khuôn khổ của lý trí và cảm xúc. Đọc ký nhận giao mùa là đọc
cái hòa quyện khôn dò với hóa công.
Em có về hãy nhẹ bàn chân
Như ngày xưa
Cái thời dưa muối
Kẻo cha ông nửa mừng nửa tủi
Rằng ta lạc dấu cội nguôn!
( Phút thiêng)
Đọc ký nhận giao mùa , bạn đọc đễ dàng nhận ra, thơ La Trung không to
tiếng, ít lý sự thi phi với đời sống-xem như một đối tượng cần đối
đãi, dẫu cuộc đời không phải lúc nào cũng mật ngọt với hoa thơm, mà
dường như phần nhiều là đắng đót chua cay.
Chạm cốc tình say ngỡ bóng thiên đường
Loay hoay dỗ cơn phiền muộn
Cầm tháng năm lên bờ xuống ruộng
Phố xưa mấy bận đi, về
Giọt đắng trái mùa chạm phải nỗi đau
Ngẩn ngơ bên bờ tâm thức…
( Chín tới)

Hành trình đi tìm cốt tủy thơ ca, tình yêu và “ bản lai diện mục”
trong thơ La Trung, tựa những anh hùng tìm đạo thời xưa, đầy công gai,
trắc trở, cũng là những phản tỉnh và cô đơn. Nhưng ở La Trung có vẻ
nhẹ nhàng, điềm đạm hơn, thi ca hơn
Trở giấc cô đơn
Dấn thân theo từng con chữ
Nửa đời duyên với nợ
Lọt lòng mấy cuộc tri âm
Hồn thi nhân tỉnh thức nửa đêm
Tứ thơ đau ứa trên đầu bút
( Cáo trạng không lời)
Hoặc là:    thương nhánh sông quê uốn mình cầm hơi xứ sở
Sư cụ xả thiền vội vã rung chuông
Rớt câu thần chú
Vọng thấu năm căn
( Ngộ)
Thơ La Trung đa tình nhưng ít đa đoan, nhiều chuyện, rối rắm. Có lẽ
anh đã tìm ra chõ tựa vững chắc cuối cùng của cuộc sống ? hoặc là, anh
đã “ ngộ” ra cái bến bờ dừng chân của con thuyền kỳ hồ lang bạt. Bởi
vậy chăng mà giọng thơ anh nhỏ nhẹ, đầm ấm, chứ không cố ý lên gân cốt
dạy đời, thấm dần vào tâm hồn bạn đọc như sự lan tỏa của không khí và
hơi sương, như hương hoa và sắc nắng. Cái lý sự trong thơ anh là cái
lý sự khêu gợi, chủ yếu cho chính mình.

Thiếu nghĩ
Con ôm ghì hiện tại
Nụ cười cha gãy hai
Rơi bên tượng đài…
Giật mình!
Nghiêng tai hứng âm thanh nguồn cội
Tiếng cười ông và cha dội vào trí não
Nhận ra lối mòn
Con tất tả đi tìm…
Nụ cười gãy thiêng liêng
( Nụ cười gãy).
Là người con của đất Điện Bàn nhân kiệt, góp một giọng hót lạ cho quê
nhà,âu đó cũng là nguồn hạnh phúc vô biên. Cái riêng biệt của thơ La
Trung là, không có vẻ riết róng, nghịch ngợm, kỳ ảo ngôn từ như Nguyễn
Hàn Chung; không có chất liệu, ngữ điệu mới mẻ, kiêu sa, trí tuệ như
Nguyễn Minh Hùng; cũng không có vẻ “ tân kỳ hình thức”, những câu thơ
tài hoa như Phạm Tấn Dũng. Có lẽ thơ La Trung giao thoa, gặp gỡ nhiều
với thơ của Nguyễn Nho Khiêm thời trước.  Đó cũng là giọng thơ nhỏ
nhẹ, dịu dàng, đầy suy tư và chiêm nghiệm về lẽ sống, lẽ đời, thường
trực “ quẫy đạp” để “thoát thai’ những ý tưởng, những phát hiện mới,
và anh dần đến độc chín của sáng tạo. Tôi dám chắc rằng, anh tự biết
sức mình, tài mình và không tự huyễn hoặc là bao. Còn với mảnh đất Hội
An, nơi anh đang sinh sống và viết, dường như anh là “người trong
nhà”, đang thể hiện, để lại một dư âm ?

Lan man, dàn trải như thế là tôi muốn mở ra cái quê quán tôi xưa ngẫu
nhĩ đâu đó của tác giả còn tiềm ẩn. Biết đâu tôi lại bỏ sót những hình
ảnh kín đáo, kỳ vĩ nào đó của thơ La Trung. Chẳng hạn, tôi thích những
câu thơ sau mà chẳng biết vì sao:

Chút hương đời ra mắt cuộc trần ai
Mặc tháng năm thì thầm kén chọn
Thôi nhé !
Tình riêng
Riêng tình đã trọn
Khắc lời thương lên sắc màu lận đận
Hát ru người qua ngõ thị phi…
( Tự ru)

So với tập thơ đầu tay Gót quê, thì tập  ký nhận giao mùa  đã có những
bước tiến vượt bậc về cấu tứ, cách diễn đạt và độ chín của ý tưởng.
Tuy nhiên, mặt hạn chế của thơ La Trung là biên độ đề tài còn hạn hẹp
và quen thuộc quá, như : khúc tơ dâng mẹ,ngôi yêu, xưa sau, sóng mơ,
tấc lòng, hậu ca…Những cái đề như vậy dễ làm bạn đọc có cảm giác
“sáo” và “sến”.Ở đây cần phải nói thêm là,cũng với những đề tài ấy,
nhưng anh chưa có hướng nhìn mới hơn, thổi vào bài thơ một cảm xúc mới
hơn, làm độc giả ngỡ ngàng. Quả thật điều này cũng hết sức khó khăn,
hết sức sáng tạo. Ở thể thơ lục bát, thơ của La Trung cũng chưa tạo ấn
tượng cho lắm, ý tưởng còn nghèo, đơn điệu về nhịp điệu, không có
những bước đột phá, sắc sảo về ý đồ nghệ thuật

Có lẽ không thừa, trong các bài viết, nhận định của tôi tôi luôn “ ghi
chú” rằng, trên đây là những  nhận xét, những kiến giải của một cá
nhân cá thể, không đại diện cho một “chân lý”; bởi vậy, trong bài viết
có thể có rất nhiều sai lầm, hạn hẹp, rất ít tính chân thực, tính
khách quan, độ chính xác của biện chứng khoa học; hy vọng “ tài liệu
tham khảo” này đóng góp một phần rất nhỏ để soi rọi vào “ ký nhận giao
mùa” của La Trung. Nơi ấy chưa đựng một vẻ đẹp tâm hồn của một con
người, và một nhà thơ. Để kết thúc bài viết này, cho tôi  bộc bạch vài
lời như một tình yêu :

Vào một thời khắc nào đó của ngày trong năm
Nhưng tốt nhất đẹp nhất có lẽ
Vào một buổi sáng
Của mùa xuân
Anh gánh hoa ra chợ
Mọi người xúm xít vòng quanh rạng rỡ
Người thứ nhất bảo : rau anh thơm quá !
Người thứ hai bảo : rau anh sạch quá !
Người thứ ba bảo : rau anh xanh quá !
Người thứ tư bảo : rau anh non quá !
Người thứ năm bảo : rau anh mềm quá !
Người thứ sáu bảo : rau anh ngọt quá !
Người thứ bảy bảo : rau anh mập quá !
Người thứ tám bảo : rau anh dài quá !
Người thứ chín bảo : rau anh rẻ quá !
Rồi mọi người bỏ đi
Chỉ còn anh
Và gánh hoa
Có thể vào một thời khắc nào đó của ngày trong năm
Nhưng tốt nhất đẹp nhất có lẽ
Vào buổi trưa hoặc buổi chiều
Của mùa hè hoặc mùa thu
Anh gánh hoa ra chợ
Và mọi thứ sẽ khác.

BÓNG LÀNG-ĐẤT VÀ NGƯỜI


 

BÓNG LÀNG-ĐẤT VÀ NGƯỜI

(Nhân đọc tập thơ Bóng làng của Ngô Hà Phương, NXB Đà Nẵng 2010)

Những cảm nhận ban đầu của tôi khi đọc tập thơ Bóng làng của Ngô Hà phương-người con của  Đại Lộc-là gặp quê xứ đất đai Đại Thạnh của anh nói riêng, Đại Lộc Quảng Nam nói chung rất chi thân thiết; và xứ đất của “Cuộc đời bão thổi/ anh đã đi vạn dặm chân trời/ sao có điều rất lạ em ơi/ vẫn chưa đi khuất tiếng gà trưa xao xác/ tiếng mẹ la con tiếng sáo cưỡi diều/ tiếng con trẻ kéo ngày lên ngõ nhỏ/ tiếng gàu khua trăng tiếng lá động chiều/ tiếng nhái nhai đêm tiếng vườn mỏi quả/ tiếng võng vẽ vòng tiếng mọt mài trưa”(bóng làng) ấy lại đầm ấm tình người, tình đất, tình cây. Nơi ấy con người được sinh ra, sau nỗi đau, là tình yêu mơ mộng. “Vẫn chưa ra khỏi bãi bò nhẩn nha gặm cỏ/ chưa ra khỏi bờ tre quẫy gió/khu vườn tiếng chim xanh mãi mái hồn/giếng nước mái đình mắt níu tay ôm/chưa ra khỏi. không bao giờ ra khỏi/ và. Anh vẫn còn đi. Trời rộng. Năm dài…”

Trải lòng mình tươi mới với cỏ cây hoa lá, với suối mát trăng thanh, xuyên suốt tập thơ, Ngô Hà Phương không rời cảm xúc quê nhà chứa chan mật ngọt, mật đắng. Đất quê, hương quê, trời quê như một tiếng gọi cho thơ anh chếnh choáng men nồng. Như rượu hồng đào, để rạo rực từng dòng thơ ấm nóng. “Rớt xuống Khe Tân một chiều hồ say/ núi thả hồn thơ vào đáy thẳm/ mây thả bồng bềnh lên cõi mộng/ thuyền lắt lay một chấm ngang trời/ đồi núi chập chùng say đắm/ khe suối thì thầm bí ẩn/ tầng tầng cú sóng đập vào tim/ lưng ngã khe Mài ngủ quên trên thác đá/ duỗi cẳng vũng ruà ngấm mát vào xương/ Cụng trán dương thông khói sương mờ má lạnh/ vấp mắt vụcĐầm sóng soải những tiên nương.”( Nhấp chén Khe Tân)

Đọc thơ của Ngô Hà Phương, dường như tôi đang nghe, ngửi, nếm, nắm nhẹ nhàng, thoang thoảng đâu đây mùi “hương” của quê lúa và quê núi, của tuổi thơ và tuổi già, của giấc mộng và sự thật. Thơ anh cảm động, chất chứa một tình cảm đôn hậu, gần gũi, truyền thống. “Con đã leo lên gò ông An bước cao bước thấp/ hái trái sim tím bầm bao nỗi nhớ nhung/ gỡ mảnh liềm trăng mẹ đất để cuối trời leo lét/ nhặt ánh mắt tròn xoe trước khoảng rộng chân trời xưa con thả cheo leo/ khựng ánh bùi ngùi trước gò ông Đầu lành lạnh/ …con nhảy tung tăng trên con đường thơm mùi hoa ngõ” ( Con đã về đây )

Có người bảo “thơ là trái tim”, rồi, “thơ là giọt lệ”, hoặc “thơ là vầng trăng thu chênh chếch ngoài song cửa”. Dẫu nói thế nào, đọc Bóng làng, tôi cũng cảm nhận tác giả đã khúc xạ, hoặc là anh đã “trầm thơ” ở trong các nhận xét ấy

 

Vâng, nếu “thơ là trái tim”, thì Ngô Hà Phương đã có trái tim hồng mọng nước, đập đâu đó phập phồng dấu yêu. “Sớm nắng chiều mưa chia dòng trong đục/ mẹ vẫn bốn mùa nuôi một dòng xanh/ khi đứng vọng người bên bờ nỗi nhớ/ mắt dòng sông hay mắt mẹ mênh mông/ tôi bây giờ đã qua nhiều sông suối/ nỗi buồn nhớ quê rười rượu sông người/ sông hỡi sông, hoàng hôn lênh đênh khói sóng/ khiến lòng mình xanh một nét chơi vơi” (Vẫn chảy sông ơi)

Nếu “thơ là giọt lệ”, thì lệ của anh cũng đã lung linh tan vỡ sinh thành những giấc mơ  thổn thức, cho anh niềm hy vọng để sống và yêu . “Giấu tuổi thơ vào cánh ve mắt phượng/ tôi lao về phía không gian chật chội tiếng người/ cơm níu áo, ngày lấn đêm, cơn mơ đè giấc ngủ/ bước mải mê quên lối cỏ mời/ Tôi đã đến tận chân trời khát vọng/…giờ trở lại hè vẫn tươi sắc nắng/ lá vẫn hát đầu cành hoa gạo lắc lư/ biết lấy gì đền ơn người cất giữ/ ngoài hai mái đầu đã sớm hoang vu” ( Vẫn sáng mùa hè ấy)

Nếu “thơ là vầng trăng thu chênh chếch ngoài song cửa”, thì anh đã có bài thơ Thu Xa rất gợi, nhiều hình ảnh đẹp. “núi thờ thẫn đón chân mùa se sắt/ sông lặng lờ phả mát giọt trong veo/ đồng ngọt xớt những câu hò gặt hái/ đường thơm lừng bao trang vở nắng reo/ hang lá trẻ chơi biết thu về, sắc đổi/ cành lạnh vườn thưa bần bật cánh chim sà/ lặng lẽ ao chiều thuyền lá tre bất động/ ngõ nhỏ đi về vàng nhuộm lối phôi pha/ bến vắng chiều nghiêng cha ôm cần tựa mộng/ngút ngát chè đồi mẹ lúi húi hái mơ” ( Thu xa).

Trên một nền ngôn ngữ dân dã, giản dị, một giọng thơ se sẽ, khe khẽ, dịu dàng, “ý được gợi ra nhiều hơn văn tự, chữ xoá đi nhưng hồn chữ ở lại”( Trần Đồng Minh), không a dua theo một xu hướng thơ hiện đại trúc trắc, khó hiểu, khó đọc, cũng không ham hố mang tính triết học về thân phận, chỉ đất và người, cùng đôi lúc ngỡ rặt là tiếng nói phản tỉnh về nỗi buồn sâu xa ( cõi tiềm thức) ( Mỗi lần cầm khăn xoá bảng/ biết là thương trách bàn tay/ những điều mình vừa mới giảng/ lẽ nào thành hạt phấn bay (Phấn bay)), tập thơ đầu tay Bóng làng đã “giội” vào tâm hồn bạn đọc một “cốc chè xanh tươi ngọt ngào”, đáng quí đáng yêu. Thành thật chúc mừng anh thành công, “dày dặn, sâu sắc, cao tầm” như nhà thơ Trúc Thông đã tin cậy.

Thêm góp ý

Thêm góp ý
authimage

Powered by Vnweblogs
© 2007 - Design by Omar Romero (all rights reserved)

Bà Bang Nhãn-Sự nối tiếp trăm năm của nguồn mạch thơ ca nữ Đất Quảng

Nguyễn Hàn Chung

Trang  thơ  Đất Quảng  thực sự được bắt đầu từ giữa thế kỷ XVIII với thơ ca của một người phụ nữ tài hoa : Phạm Lam Anh nữ sĩ nổi tiếng ngang hàng  và có phần sớm hơn ‘’Bà chúa thơ Nôm ‘’ Hồ Xuân Hương theo như nhận định của hai văn thần triều Nguyễn :Trương Đăng Quế và Phạm Liệu .Ngót gần hai trăm năm sau vào cuối thế kỷ XIX mới có một người phụ nữ đất Quảng  làm thơ khác mà đề tài sáng tác cũng lấy cảm hứng từ đất và người Quảng Nam –Đà Nẵng. Đó là bà Bang Nhãn (1853-1927) người ở làng Hà Nha nay là xã Đại Hồng ,huyện Đại Lộc . Trường hợp cuộc đời của bà có hơi giống chút ít với cuộc đời bà Huyện Thanh Quan : Người đời vẫn nhớ tên riêng nhưng lại không thường gọi mà lại gọi bằng chức vị của chồng . Ở đây chồng bà làm bang tá nên bà được quen gọi là bà Bang Nhãn dù tên thật của bà là Lê Thị Liễu .Hiện nay người đời sau cũng chỉ sưu tầm được hai bài thơ của bà: bài Qua Đà Nẵng cảm tác( còn có tên là Thăm Cửa Hàn ) và Vịnh núi Ngũ Hành cảm thán cho nỗi mất mát của quê hương Đà Nẵng khi mảnh đất non trẻ của đất Quảng trở thành nhượng địa cho kẻ thù xâm lược.

Qua Đà Nẵng cảm tác

Rầm rầm ngựa lại với xe qua

Nhượng địa là đây có phải a ?

Liếc mắt nhìn xem phong cảnh lạ

Ôm lòng chạnh tưởng nước non nhà

Nào tay hồ thỉ đi đâu vắng?

Nỡ để giang sơn cực lắm mà!

Nghĩ đến người xưa thương đất cũ

Căm gan riêng giận bác trời già.

Câu khai đề gợi ta nhớ đến một câu khai khác trong bài Thăng Long thành hoài cổ :’’ Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo “ của bà Huyện Thanh Quan song nỗi nhớ  niềm  đau của bà Huyện  là về một tấm cô thành với ‘’nền cũ lâu đài’’  chìm trong cảnh ‘’tang thương, tuế nguyệt ‘’. Nhưng dẫu rằng triều đại có đổi thay chứ giang san Việt vẫn y  nguyên’’nam quốc sơn hà ‘’ thì vẫn còn chấp chịu được,  còn nỗi đau của bà Bang Nhãn không đơn giản là sự giải bày ‘’một mảnh tình riêng’’ mà thật sự là một nỗi xót xa , quặn thắt trước sự đổi thay của non sông mất chủ. Cửa Hàn đã trở thành nhượng địa  ‘’rầm rầm xe ngựa’’ của Pháp với những cảnh trái tai gai mắt  trái với thuần phong mỹ tục nước nhà trở thành ‘’phong cảnh lạ ‘’.Câu thừa tác giả sử dụng dấu chấm hỏi cuối câu nhưng không có dụng ý nghi vấn ,nghi vấn gì nữa  khi lý trí  biết rõ hết rồi nhưng trái tim còn cố  lưu giữ niềm tin mong manh trong âm a ngân dài như muốn trì níu một điều gì khiến ‘’lòng chạnh tưởng’’: ’’Nhượng địa là đây có phải a ?

Hai câu luận vang lên ‘’ Nào tay hồ thỉ đi đâu vắng-Nỡ để giang sơn cực lắm mà !’’có sự đồng điệu với  hai câu kết  của cụ Đồ Chiểu trong bài Chạy Tây’’Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng -Nỡ để  dân đen mắc nạn nầy ‘’. Cũng hàm ý như nhà thơ mù đất Đồng Nai bà kín đáo phê phán những ‘tay hồ thỉ ’’ bình nhật quan lớn huênh hoang khoác lác bây giờ  trước súng gươm xâm lược của cường quyền xâm lược, lộ rõ sự hèn nhát cố hữu  của tầng lớp mình “để giang san cực lắm mà ‘’ Cụm từ ‘’cực lắm mà ‘’ thô mộc  rất Quảng mà không kém phần quặn thắt ,tủi đau.

.Bài Vịnh núi Ngũ Hành  ngôn ngữ thơ có hân hoan hơn thể hiện niềm vui trước thiên nhiên kỳ thú .

‘’Cảnh trí nào hơn cảnh trí này?

Bồng lai thôi cũng hẳn là đây

Núi chen sắc đá màu phơi gấm

Chùa nức hơi hương khói lộn mây

Ngư phủ gác cần ngơ mặt nứơc

Tiều phu chống búa dựa lưng cây

Nhìn xem phong cảnh ưa lòng khách

Khen khéo thợ trời khéo đắp xây!’’

Tứ thơ nằm trong mạch cảm  trước vẻ đẹp  giang san gấm vóc của các thi gia trung đại đậm hơi hướng dân giã tuy vẫn là những thi liệu  Hán -Việt cũ :’’Bồng lai, ngư phủ,tiều phu’’ song sự Nôm hoá đã được tác giả có ý thức vận dụng đa dạng phong phú hơn trong các cụm từ thuần Việt “núi chen sắc đá, chùa nức hơi hương,gác cần,chống búa , ưa, thợ trờivv…’’nhờ vậy trong ngôn ngữ thơ sự trang nhã đài các đã hoà trộn với sự nôm na rất Quảng tạo thơ bà có  một chỗ đứng riêng biệt không lẫn vào đâu, với ai dù đặt  trong mối tương quan với các nhà thơ  làm thơ vịnh cảnh cùng thời hoặc trước sau chút ít của văn lâm đất Quảng nói riêng và văn chương cả nước ,nói chung.

Cùng với nữ sĩ Phạm Lam Anh của thế kỷ XVIII bà Bang Nhãn thật sự đã góp phần làm nên một nét đẹp vô cùng quý giá cho thơ ca nữ đất Quảng trong suốt chiều dài lịch sử hàng  trăm năm.Cho đến hôm nay những người phụ nữ làm thơ đất Quảng vẫn chưa xuất hiện nhiều trên thi đàn cả nước huống hồ thời bấy giờ,cái thời nam tôn nữ ti ấy  đất Quảng địa linh nhân kiệt sản sinh được một người phụ nữ làm thơ Nôm thành thục có bản sắc riêng  như bà Bang Nhãn thật sự là niềm tự hào  vinh dự lớn cho tất cả con cháu chúng ta.

THỜI GIAN KÝ ỨC TRONG THĂNG LONG

THỜI GIAN KÝ ỨC TRONG

THĂNG LONG

Nguyên tác

Tản lĩnh Lô giang tuế tuế đồng

Bạch đầu do đắc kiến Thăng Long

Thiên niên cự thất thành quan đạo

Nhất kiến cô thành một cố cung

Tương thức mỹ nhân khan bảo tử

Đổng du hiệp thiếu tẫn thành ông

Quan tâm nhất dạ khổ vô thuỵ

Đoàn địch thanh thanh minh nguyệt trung

NGUYỄN DU

Bản dịch thơ

Sông Lô núi Tản còn đây

Thăng Long tái ngộ giữa ngày tóc sương

Nhà cao giờ đã là đường

Cung rêu đâu nữa chỉ còn thành trơ

Người xưa bồng bế con thơ

Bạn chơi ngày cũ bây giờ thành ông

Trắng đêm ngẫm sự vô cùng

Tiếng trăng tiếng sáo giưã từng không rơi

Nguyễn Hàn Chung

Mười năm lưu lạc Tố Như mới có dịp trở về lại Thăng Long thành nơi đánh dấu biết bao nhiêu kỷ niệm thời trai trẻ của một câu ấm con nhà thế gia vọng tộc.Mười năm gió bụi lúc làm Hồng Sơn liệp hôj dọc ngang 99 ngọn núi Hồng Lĩnh,lúc xuống biển Đông làm một gã Nam Hải điếu đồ lúc nào nỗi nhớ Thăng Long cũng cồn cào tấc đạ.Bây giờ về lại cõi xưa đứng trước dòng thời gian sông Lô tuôn chảy,núi Tản cao vút từng không nhà thơ thảng thốt:

‘’Tản Lĩnh Lô Giang tuế tuế đồng

Bạch đầu do đắc kiến Thăng Long’’

Non xanh,nước biếc còn trơ ra đó,vẫn như xưa,chỉ có người trở lại đã là khách ‘’bạch đầu’’ may mà còn thấy lại đế đô văn vật .Cụm từ ‘’do đắc kiến’’ với hai thanh trắc đi liền nhau cất lên như một sự reo vui của ngày tái ngộ trong sự phấn cảm về sự nổi trôi,sa sút của một đời người danh sĩ.

Hai câu thực khắc hoạ một nét hiện thực,một cảm thức về bước đi của thời gian ‘’thương hải’’

‘’Thiên niên cự thất thành quan đạo

Nhất kiến cô thành một cố cung’’

Hình tượng thơ gợi nhớ đến ‘’Phụng Hoàng Đài’’ của Lý Bạch:’’Ngô cung hoa cỏ mai u kính-Tấn đại y quan thành cổ khâu’’.Mối đồng cảm cua thi nhân về dòng vận động vô thỉ vô chung của  thời gian dù lúc nào con người cũng sinh tồn trong thời hiện tại.Bao nhiêu ‘’thiên niên,, cự thất ‘’ rồi cũng thành quan đạo cả thôi mà! Cả cố cung Thăng Long với đền đài lâu các vĩ đại là thế nay chỉ còn một tấm cô thành.Thời gian mang dấu ấn của vũ trụ ngược về quá khứ, trào dâng một mối cảm hoài ‘’hoa ốc sơn khâu’’(Chữ dùng của Tào Thực).Cự thất cô thành cố cung chịu sự chi phối của dòng thời gian vô thỉ vô chung có ai tránh khỏi quy luật vận động của thời gian được cho nên:

‘’Tương thức mỹ nhân khan bảo tử

Đổng du hiệp thiếu tẫn thành ông’’

Con người bị sự chi phối của thời gian còn khắc nghiệt hơn cả không gian,bởi thời gian chỉ vận động một chiều ‘’nhất khứ bất phục phản’’.Mỹ nhân hoa nhường nguyệt thẹn,quốc sắc thiên hương ngày nào cũng đã ‘’khan bảo tử’’cả rồi.Nhà thơ hiện đại Hàn Mặc Tử cũng đã hoảng sợ trước bước đi không ngoái lại của thời gian:’’Tôi lạy muôn vì tinh tú nhé-Xin đừng luân chuyển để thời gian-Chậm đi cho kẻ tôi yêu dấu-Vẫn giữ màu tươi một mỹ nhân’’

Và bạn chơi ngày cũ ,ngày kiêu binh chưa nổi dậy phá tan tành cơ nghiệp của ông anh tể tướng bây giờ đã làm ông bỏ lại  sau lưng hùng tâm tráng chí một thuở nào.Nỗi buồn khổ thấm vào trong giấc ngủ

‘’Quan tâm nhất dạ khổ vô thuỵ

Đoàn địch thanh thanh minh nguyệt trung’’

Cái nỗi khổ vô thuỵ trong đêm trùng phùng đất cũ,người xưa cứ dằn dỗi người thơ suốt đêm dài thao thức.Chỉ còn tiếng sáo hoà lẫn ánh trăng man mác một nỗi u hoài.Thân thì tĩnh mà lòng thì dấy động phong ba.

Thăng Long Thành

Thời gian nghệ thuật trong bài thơ Thăng Long thể hiện tư tưởng và cảm xúc chủ đạo của nhà thơ đã trở thành thời gian hình tượng.Cái tế vi của trái tim thơ cụ Nguyễn Tiên Điền hơn ai hết đã cảm thấu bước đi của thời gian tuôn chảy trong mối quan hệ không thể chia tách với không gian Lô Giang,Tản Lĩnh.cố cung.cô thành.Nhà thơ tự đặt mình vào sự luân chuyển của thời gian để hoà nhập không gian tâm tưởng vào thời gian ký ưc

MÂM CHỮ ĐƠN SƠ MỜI KHÁCH MUÔN ĐỜI

Nguyễn Hàn Chung

NGÀY GIỖ VỢ LẦN THỨ HAI

Nhớ em từ một đường khâu

Hai năm vai áo toạc đau xé lòng

Nhớ em từ miếng cơm không

Những năm bát mẻ,đĩa còng chia nhau

Em ở đâu tôi ở đâu ?

Hai năm rễ bén cỏ sâu trên mồ!

Đi thăm bụi đất chiều mưa

Giun kêu thăm thẳm còn ngờ tiếng em

Về đâu tiếng nói em hiền

Thảo thơm biền biệt điệu kèn cõi âm

Em đi một thoáng trăm năm

Nơi đâu em  ngủ tôi nằm lênh đênh

Đầu nghiêng gối nặng tay mình

Chợt rung mắc áo dáng hình cheo leo

Về khuya mê bóng bóng theo

Nhìn chênh thế kỷ bóng vèo qua mi

HOÀNG  CẦM

Độ rung của nỗi nhớ tràn vào thơ ngay từ 4 câu thơ đầu tiên:

‘’  Nhớ em từ một đường khâu

Hai năm vai áo toạc đau xé lòng’’

Nhớ em từ miếng cơm không

Những năm bát mẻ,đĩa còng chia nhau’’

Cũng là sự kể lể về những kỷ niệm vụn vặt  trong sinh hoạt  vợ chồng  thuở   mới ‘’ nâng niu gom góp dựng cơ đồ’’ : ‘’một đường khâu ,miếng cơm không’’ đến ‘’,bát mẻ, đĩa còng ‘’,như bất cứ ông chồng thương vợ ,biết ơn vợ nào khác nhưng ở đây sự chân thành trong ngôn ngữ thơ đã thấm vào người đọc khiến ta không  thấy hình tượng thơ nặng tính chất riêng tư nữa mà dường như mang tính phổ quát hơn ,đời hơn . Những hồi ức nho nhỏ đó trong cuộc sống  khi đủ vợ đủ chồng không mấy ai để ý nhưng khi một đối tượng mất đi rồi thì những chi tiết cỏn con bỗng thăng hoa trở thành hoài niệm ,những việc không đáng ai quan tâm như khâu một đường kim trên vai áo  , ăn chén cơm không  nhường thức nhắm cho chồng mời bạn uống rượu  hay những  vật dụng tầm tầm của cuộc sồng  cơ cầu  vật lộn kiếm miếng ăn nuôi con nuôi cái ngày xưa của hai vợ chồng  bây giờ đã trở thành di vật  và người còn lại làm sao không  thoáng trông đoái tưởng đến người tao khang .cho đặng.

Khổ thơ thứ hai nối tiếp mạch thơ hoài niệm  uất nghẹn:

’Em ở đâu ,tôi ở đâu ?

Hai năm rễ bén cỏ sâu trên mồ !’’

Nhà thơ  cảm nhận nỗi mất  mát  một cách thấm thía  nên thảng thốt  mất phương hướng về không gian  khi sử dụng câu hỏi tu từ  với từ đâu đến những ba lần , thảng thốt nhận ra rằng ‘’đi thăm bụi đất chiều mưa-giun kêu thăm thẳm còn ngờ tiếng em’’.Em chỉ còn là bụi đất chiều mưa ,trong lòng người chồng cồn cào một sự dằn xé giữa tỉnh và mơ giữa thực và hư giữa  tiếng giun  kêu và’’tiếng nói em hiền ‘’ đồng vọng.

Vẫn là nỗi buồn đau chia biệt  tất yếu của quy luật mất còn ai mà không trải qua  chỉ  chậm và sớm đó thôi .Biết vây nhưng kể cả những kẻ lạc quan nhất khi đọc đến đây cũng không khỏi bùi ngùi trước sự vang vọng của ;điệu kèn cõi âm’’.Một lần nữa ta lại thấu cảm một điều :sự chân thành  khi đã cộng hưởng với tài hoa sẽ có  tác động  xuyên tầng khơi gợi tình cảm đẹp trong con người nhiều khi vì một lý do khách quan nào đó đã bị khuất lấp .

Khổ cuối  dòng xúc cảm được đẩy tới cao trào sâu lắng qua những hình ảnh thơ ‘

Đầu nghiêng gối nặng tay mình

Chợt rung mắc áo dáng hình cheo leo’’

Nhà thơ không thể thoát ra được dòng hồi ức lan tỏa theo hoài niệm  nên một lần nữa lại dùng từ đâu’nơi đâu em ngủ tôi nằm lênh đênh’’.’Vế thơ ‘’tôi nằm lênh đênh ‘’ là một ý thơ khẳng định tình yêu bất biến trong lòng chủ thể trữ tình không cần phải nặng lời thề thốt như bất kỳ ai khác .Rõ ràng khi nhà thơ tỉnh thức’’đi thăm bụi đất’’hay lúc chìm vào vô thức ‘’ đầu nghiêng gối nặng tay mình’’ hình bóng người vợ đã quá cố vần  khắc vào tâm khảm người còn lại

.         Hai câu cuối bài  tác giá đặt  hình tượng vào một bối cảnh không gian ‘’khuya’’lúc mà phần huyễn mộng bao giờ cũng lấn  phần thực mộng . Nhà thơ từng sống với huyễn mộng ‘’lá diêu bông ‘’từ lứa tuổi lên mười ấy sử dung điệp từ bóng đến những ba lần trong hai câu cuối một lần nữa lại chìm vào cõi  huyễn :

‘’Vê khuya mê bóng, bóng theo

Nhìn chênh thế kỷ bóng vèo qua mi’’

‘’Về khuya mê bóng ,bóng theo’’ thì người đọc  lờ mờ còn hiểu được sự quấn đuổi của hình và bóng trong  cuộc :’’ trăm năm còn có gì đâu’’nhưng câu thơ cuối cùng thì sự hiểu phải nhường cho sự cảm .Sao  nhìn chênh vào thế kỷ mà không nhìn thẳng  thì mới ‘’bóng vèo qua mi’’nhỉ ? .Nhà thơ dùng từ ‘’chênh’’ ‘’vèo’’ ở đây  thật tài hoa bởi tự ‘’xác chữ’’ đã kín đáo hiển lộ một tình yêu  sâu nặng với người bạn đời không may mệnh một nhưng càng  kín đáo hơn khi ‘’hồn chữ’’ bộc tỏ sự  mất mát  không làm con người chìm đắm trong bi thương .Một ánh’’ nhìn chênh’’,một thoáng ‘’vèo’’ khoảnh khắc ‘’qua mi’’ con người phải  tiếp tục sống cho đáng sống phần đời  còn lại  chứ đâu có thể mãi mãi ‘’nhìn chênh ‘’!

Có thể như thế mà cũng có thể không phải như vậy .Tuy nhiên có một điều   người viết bài này đoan  chắc rằng đọc bài thơ’’ Ngày giỗ vợ lần thứ hai ‘’của nhà thơ Hoàng Cầm người đọc kể cả những người đồng cảnh  vẫn cảm thấy  phần thương lấn át phần bi . Có cần gì phải bày biện tốn kém  mâm cao cỗ đầy , có cần gì phải mời mọc thân bằng quyến thuộc khắp nơi  cho đông đủ nhà thơ giỗ vợ bằng một mâm chữ đơn sơ  mười sáu câu lục bát  cũng đủ thù tiếp  khách chung tình trong khắp thế gian chẳng những bây giờ mà cả ngàn sau.

Nguyễn Du và Long Thành Cầm Giả Ca


Tô Thẩm Huy

Không rõ Nguyễn Du có sinh ra (1765) ở đấy không, nhưng chắc chắn ông đã lớn lên ở Hà Nội, hay đúng ra phải gọi là Thăng Long, vì cái tên Hà Nội ngày ấy chưa có.  Ông hẳn rất mực yêu mến cái kinh đô cổ kính không rõ lúc bấy giờ đã mấy phố, bao phường.  Cậu ấm chiêu, con quan Tể Tướng Xuân Quận Công Nguyễn Nghiễm, em quan Tham Tụng Toản Quận Công Nguyễn Khản, lớn lên giữa lòng đô hội, lòng tràn đầy bao mộng đẹp, tâm tư nuôi bao hoài bão vung kiếm giúp đời.  Rồi đất nước ly loạn, hết nổi trôi nơi Quỳnh Côi, Thái Bình quê vợ, lại ẩn thân về nguyên quán ở Tiên Điền, Hà Tĩnh, ông ngày ngày ngao du trên rặng Hồng Lĩnh, nhìn tóc mình ngày mỗi bạc mà ngậm ngùi thế sự.  Khi Gia Long lên ngôi, ông được vời ra Phú Xuân làm quan, nhưng lòng những chán chường, chỉ muốn lui về ẩn dật.

Năm 1813, Gia Long cử ông làm chánh sứ, đại diện nước Nam sang Trung Hoa.  Trên đường từ Huế sang Bắc Kinh, lần đầu tiên sau mấy mươi năm xa cách mới có dịp về lại Thăng Long, lòng ông hẳn dạt dào bao nỗi niềm xao xuyến.  Từ xa, ta đã nghe tiếng ông reo mừng:  Kìa là rặng Tản Viên, nọ là giòng Lô Giang, ta sắp gặp lại Thăng Long rồi. Nhưng bước chân vào đến năm cửa ô thì than ôi, cảnh đấy người đây luống đoạn trường. Đọc lại hai bài Thăng Long ông viết vào thời kỳ này lại càng thấy nỗi lòng chua xót của ông:

Tản Lĩnh Lô Giang tuế tuế đồng

Bạch đầu do đắc kiến Thăng Long

Thiên niên cự thất thành quan đạo

Nhất phiến tân thành một cố cung

Tương thức mỹ nhân khan bão tử

Đồng du hiệp thiếu tẫn thành ông

Quan tâm nhất dạ khổ vô thuỵ

Đoản địch thanh thanh minh nguyệt trung

Cổ thời minh nguyệt chiếu tân thành

Do thị Thăng Long cựu đế kinh

Cù hạng tứ khai mê cựu tích

Quản huyền nhất biến tạp tân thanh

Thiên niên phú quý cung tranh đoạt

Tảo tuế thân bằng bán tử sinh

Thế sự phù trầm hưu than tức

Tư gia đầu bạch diệc tinh tinh

Vị vua Thế Tổ triều Nguyễn muốn xoá hết dấu tích nhà Lê, đã san bằng thành xưa quách cũ.  Đâu là điện Trung Hoà Đại Nội ?  Đâu là ngõ cũ nơi ông vẫn chơi đùa cùng bè bạn hiệp thiếu, mỹ nhân ?  Đâu là dinh cơ, nhà cửa xây từ nghìn năm trước?  Những thiên niên cự thất nay đã thành quan đạo, những cố cung, cựu tích nay đã bị vùi mất dưới bức tân thành. Cả âm nhạc ngày xưa nay cũng biến đâu mất.  Nằm thao thức giữa lòng kinh đô cũ, ông trằn trọc không sao ngủ, đã khổ vô thuỵ, lại nghe tiếng sáo, nhạc điệu gì xa lạ, trõi cả tai.  Quản huyền nhất biến tạp tân thanh.  Sáo đâu, giây đâu mà tiếng nghe nhốn nháo thế này ?  Chả trách sao lúc ngồi trên chiếu tiệc giữa Thăng Long, nghe lại tiếng đàn người ca kỹ năm xưa, nghe lại giòng nhạc vàng của cung điện Đại Nội Nhà Lê, ông đã xúc động viết “Long Thành Cầm Giả Ca”, Bài Cho Người Gẩy Đàn Thành Thăng Long, mà ngậm ngùi thương xót cho thân phận người ca kỹ lạc loài giữa ba đào, dâu bể.  Hay thật ra ông chỉ mượn hình ảnh người gảy đàn để khóc thương cho bóng ma của một trời hội cũ ?  Nhiều người đã thêu dệt nên mối tình lãng mạn thời trai trẻ giữa Nguyễn Du và người cầm giả ấy.  Thậm chí lại còn trách ông sao lại vì muốn giữ thể diện chánh sứ mà tránh không nhìn mặt người xưa.  Song nhãn trừng trừng không tưởng tượng, Khả liên đối diện bất tương tri.  Tôi không tin là thế.  Tôi không tin là đã có gì giữa họ.  Ai đời nào lại nói về người tình xưa của mình là trán dô, mặt gẫy. Nàng không phải là người tình cũ, cũng không phải chỉ là một người cầm giả đơn thuần, mà chính là biểu tượng của Hà Thành đài các, của mày thanh má thắm, lụa biếc xiêm hồng, của cả một nếp sống thanh lịch ngàn năm xưa nay đã bị dập vùi, tan biến.  Tâm sự Nguyễn Du lúc bấy giờ  ngổn ngang trăm mối, đâu riêng gì chỉ một hồng nhan, mà là cả mùa hội cũ của một thời hùng tâm tráng chí nay đã tàn lụn: Tằng Lăng trường kiếm ỷ thiên thanh tự bao giờ đã thành Liêu lạc tráng tâm hư đoản kiếm. Cây kiếm dài ngày xưa ngạo nghễ tựa lưng vào trời xanh, tự bao giờ đã biến thành cây kiếm cụt vô tích sự ?  Văn tự hà tằng vi ngã dụng ? Chữ nghĩa ích gì cho buổi ấy, hay càng làm mộng thêm đau xót, làm bể dâu thêm thắt ruột chia bào ?  Song nhãn trừng trừng không tưởng tượng, Khả liên đối diện bất tương tri.  Mở trừng hai mắt mà chỉ thấy trống không những mông lung mộng tưởng.  Ngồi đây giữa Thăng Long mà nào có thấy Thăng Long !  Ngồi đây giữa Thăng Long mà nào Thăng Long có thấu cho lòng ta !  Chao ôi, làm người thật chẳng khó lắm sao !

Houston, tháng 2, 2009

Tô Thẩm Huy

Hạc Vàng Khuất Bóng

Tô Thẩm Huy

Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy.  Tôi học với Giáo Sư Nguyễn Đức Hiển cách đây đã mấy mươi năm.  Không học dưới mái trường mà học trên sân nhà ông.  Không học ở Sài Gòn mà học ở Houston.  Không học văn chương mà học võ thuật.  Trong hơn hai mươi năm quen ông tôi cũng không biết là ông đã từng dậy Việt văn tại ngôi trường mà mình đã chạy nhẩy suốt bẩy năm trung học.  Cho đến ngày ông mất.

Tôi quen ông qua người anh cả trong gia đình.  Dạo mới sang Mỹ, ông và người anh tôi định cư tại Pine Bluff, một tỉnh nhỏ kế cận thủ đô Little Rock của Arkansas, rồi rủ nhau  dọn về Houston đầu thập niên 80.  Tôi bắt đầu quen ông từ đấy.  Ông dáng người quắc thước, không vạm vỡ nhưng rắn rỏi.  Cái rắn rỏi của một võ sĩ Đại Hàn.  Cằm vuông, vầng trán cao, đôi mắt sáng, nửa như khiêu khích soi mói, nửa như ân cần thăm hỏi.  Ở ông toát ra cái vẻ vừa nhanh nhẹn lại vừa ung dung, cái ung dung từ tốn của một con cọp đang nằm phơi nắng, vừa rêu phong như những nhân vật xa xưa của Vũ Khắc Khoan, của Nguyễn Tuân, lại vừa quen thuộc như người hàng xóm thân tình kế bên.  Những nét trái ngược ấy đã tìm được cách hài hoà chung sống nơi con người ông.  Và nơi tranh vẽ của ông.  Tranh ông đầy những mầu sắc thuỷ mặc, mềm mại của hội hoạ Trung Hoa, pha trộn với những đường nét mạnh mẽ, góc cạnh của hội hoạ Nhật Bản.  Dạo ấy, hai mươi mấy năm trước, tôi nhìn ông như một người tài hoa, đởm lược, đã từng lang bạt kỳ hồ sang Lào, sang Tân Gia Ba, làm việc cho Sứ quán Viêt Nam, thu nhặt những nét đẹp tinh hoa của Đông Á.  Yêu cây kiểng, say mê đồ cổ, tinh thông chữ Hán, giỏi thập bát ban võ nghệ.  Nhưng tôi đã không nhìn thấy ở ông một tâm hồn thi sĩ.  Người ta quả có thể đối diện mà không tương phùng.  Tôi vốn say mê Đường thi từ những ngày còn trẻ.  Ông lại là người yêu mến cổ văn, từng học Văn Khoa ở Hà Nội.  Thế mà trong bao lần gặp gỡ, chẳng bao giờ ông và tôi nói chuyện văn chương với nhau.  Gặp nhau, chúng tôi nói chuyện về cách thức nấu phở, ông nấu phở cho tôi ăn, phở ông ngon lắm, đậm đà mà thanh tao, nói chuyện về nghệ thuật ăn uống, về hội hoạ, về võ thuật, nhưng không một lần đả động đến văn chương.  Thế mới lạ.  Nhưng không phải vì thế mà không có chuyện.

Số là bẵng đi một thời gian khá lâu không liên lạc, thì cách đây vài năm tôi được một người bạn tặng một tập sách do ông biên soạn, tập Vang Bóng Hạc Vàng, viết về bài thơ Hoàng Hạc Lâu nổi tiếng của Thôi Hiệu và những giai thoại, những bản dịch khác nhau, của ông và của nhiều người khác.  Riêng của ông thì đến những mười mấy bản.  Bài thơ này thì không ai đọc Đường thi mà không biết.  Và cũng không biết bao nhiêu người đã say mê dịch nó sang tiếng Việt.  Trong số những người ấy có Vũ Hoàng Chương.  Đầu năm 1970, trên tờ Văn Học ở Sài Gòn ngày trước, nhân dịp giỗ thi sĩ Tản Đà lần thứ 31, Vũ Hoàng Chương đã nhắc đến và lên tiếng ca ngợi bản dịch của hai người (1).  Một của nhà nho Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục, một của Tản Đà.  Mỗi người một vẻ.  Bản dịch của Tùng Vân thì ít được phổ biến, dù đã đăng trên Nam Phong tạp chí vào thập niên 20.  Có lẽ vì nó đọc lên nghe trúc trắc, không xuôi tai.  Nhưng, như Vũ Hoàng Chương đã chỉ ra cho chúng ta thấy, bản dịch ấy rất công phu, rất già tay.  Công phu ở chỗ nó đã theo sát nhạc điệu của nguyên tác.  Sát cả ở những chỗ sai niêm thất luật.  Bản dịch của Tản Đà thì trái lại, rất bay bướm nhẹ nhàng.  Nó du dương trầm bổng trong cung điệu lục bát.  Bản dịch ấy ắt phải hay lắm, vì đến nay, 70 năm sau, vẫn còn rất nhiều người biết đến và ưa thích.  Nó đã vượt qua được sự thử thách của thời gian.  Nhưng theo tôi, cái hay ấy nó ’Tản Đà’ quá, nó ngọt ngào, hiền lành quá.  Cái không khí mang mang day dứt, nỗi bơ vơ hiu quạnh của thân phận con người lạc lõng giữa trần gian trong một chiều nắng tắt,  mà thiên đường thì đã mù mịt lối về, cái không khí ấy đã bị dịch giả thuần hoá, trở nên nhu mì mềm mại, nhẹ nhàng trôi chẩy trong giòng ca dao.  Cái hay của Tản Đà là ở chỗ ấy.  Nó dễ đến với người Việt vì lẽ ấy.  Nhưng đó, theo cái thiên kiến lệch lạc của riêng tôi, cũng là chỗ hụt hẫng của ông khi dịch Hoàng Hạc Lâu.

Ít lâu sau biến cố 1975, giới yêu thơ ở hải ngoại bỗng nhận được từ trong nước bản dịch Hoàng Hạc Lâu của Vũ Hoàng Chương.  Nghe nói là những dòng chữ cuối cùng của một đời tận tuỵ với chữ nghĩa, gọt dũa nhiều năm đến lúc lìa trần mới hoàn tất.  Tôi đã đọc bản dịch của Vũ Hoàng Chương một cách say đắm.  Nó còn hay hơn cả nguyên tác.  Mà nguyên tác thì đã hay tót vời.  Cái mà Thôi Hiệu phải vận dụng hết mười thành công lực, phá vỡ luật thơ thất ngôn, sử dụng 6 thanh trắc liên tiếp mới nói được:

Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản

Bạch vân thiên tải không du du

đến độ hùng tâm dũng khí như Lý Bạch, đọc xong, tay vung quyền, chân tung cước, vẫn phải gác bút chịu thua, cúi đầu ra đi (2), thì Vũ Hoàng Chương vẫn ung dung rút kiếm giữa trời thơ, phóng con mắt nghìn đời dõi theo đôi cánh hạc đã mù khơi bay mất mà thong thả dẫn dắt nó quay về trong cung bậc thất ngôn niêm luật.  Hai câu thực trong bản dịch của Vũ Quân bay bổng giữa trời thơ ảo diệu:

Vàng tung cánh hạc đi đi mất

Trắng một mầu mây vạn vạn đời

Bạn thấy gì không?  Một mầu vàng loé lên giữa trời rồi vụt tắt, một mầu vàng tung lên rồi vĩnh viễn ra đi không bao giờ trở lại, nhưng mãi mãi lấp lánh trong tâm tưởng và trên thân phận con người.  Còn lại gì chăng, ngoài một cõi thiên thu vàng ngợp đến bất tận!  Đọc đến câu cuối:  Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi, cả một trời Đường thi bỗng lay động.  Thôi Hiệu giá có đọc được câu ấy, nội chỉ một câu ấy thôi, cũng phải ngả nón cúi đầu khâm phục.  Nó nói được điều Thôi Hiệu muốn nói, bằng một cách khác hẳn, một cách rất tài hoa riêng biệt, như một lời ngậm ngùi năn nỉ với hư không:  Sóng ơi, sầu đã chín, xin người thôi giục.  Sóng gì ? Sóng nước ? Hay những lớp sóng của bể dâu hưng phế ?  Ai muốn thấy sự khác biệt tinh tế giữa hai dòng ngôn ngữ Hán, Việt xin cứ thư thả đọc lại hai câu:  Yên ba giang thượng sử nhân sầu … Đừng giục cơn sầu nữa sóng ơi, ắt sẽ rõ. Hoặc giả muốn biết nội công thượng thừa của Vũ Quân thâm hậu đến đâu, xin nhẩn nha ngoảnh lại, thử bầy một cuộc đổi dời di dịch, đọc lại một lần nữa câu vàng tung cánh hạc đi đi mất, nhưng lần này hoán đổi chữ hạc lên đầu câu, hạc vàng tung cánh đi đi mất. Bạn thấy gì không? Cũng bẩy chữ ấy, nhưng lần này, khi chỉ đem chữ hạc lên đầu câu, thì cả một trời thơ đang lung linh sáng bỗng tối sầm lại.  Tô mì Hải Ký đang bốc hương ngào ngạt bỗng lặng lẽ trở thành tô mì gói.  Mì gói một tô cũng thú vị lắm, nhưng chao ôi, tô mì Hải Ký …  Và tôi đã tự nhủ: không ai sau Vũ Hoàng Chương nên ‘dại dột’ dịch Hoàng Hạc Lâu nữa.  Đến Vũ Hoàng Chương thì Hoàng Hạc Lâu đã dịch xong rồi.  Tôi vẫn nghĩ thế.  Cho nên lúc đọc tập Vang Bóng Hạc Vàng của GS Nguyễn Đức Hiển với mười mấy bản dịch khác nhau của ông, tôi đã thầm có ý ‘chống đối’.  Tôi đã đọc mười tám bản dịch của ông bằng con mắt không ‘hạnh phúc’.  Và tôi đã thầm ‘trách’ ông:  Sao lại đi dịch Hoàng Hạc Lâu!

Sau đó ít lâu tôi được anh tôi báo tin ông đã mất.  Rồi các cựu học sinh Võ Trường Toản liên lạc rủ nhau đi dự đám tang GS Nguyễn Đức Hiển.  Lúc ấy tôi mới biết là ông đã từng dậy Việt văn tại trường trung học của mình ngày xưa.  Hôm đưa đám ông tôi lại có việc phải đi xa.  Lại không được nhìn mặt ông lần cuối.  Sau đó, tôi tìm đọc các tác phẩm khác của ông, tập Cổ Thi Nhàn Dịch và tập Trời Sau Nhật Thực.  Lúc ấy tôi mới khám phá ra rằng không những ở cái thú ăn uống, nấu nướng, mà còn ở thi ca, ông và tôi có nhiều say mê giống nhau.  Nhiều bài trong tập Nhàn Dịch của ông tôi cũng đã dịch.  Tôi đã đọc và dịch Đường thi như một niềm hạnh phúc cô độc.  Một mình.  Một mình với người xưa.  Rồi một hôm nọ, tôi bỗng lại bắt gặp chính mình đang ‘dại dột’ ngồi dịch Hoàng Hạc Lâu, như là một ai khác chứ không phải tôi, đang lịch kịch gõ tới gõ lui hình ảnh một cánh hạc rực vàng trong nắng chiều chực tắt, tung cánh bay mất về phương trời vô hạn.  Ngay lúc ấy, tôi thấy khuôn mặt ông hiện ra từ đằng xa nhìn tôi mỉm cười.  Vẫn đôi mắt ấy, nửa như ân cần thăm hỏi, nửa như dịu dàng khiêu khích:  Sao, có còn thầm trách nữa không ? Tôi lên giường nằm, tắt đèn nhắm mắt.  Khuôn mặt ông thấp thoáng chập chờn trong giấc ngủ.  Những câu chuyện trong tập Vang Bóng Hạc Vàng của ông bay lượn trong giấc mộng.  Đêm hôm đó tôi hiểu hơn bao giờ, rằng người ta đôi khi viết như để trò chuyện với một nỗi ám ảnh, như để đùa dỡn với chính mình, như để chẳng làm gì hết.  Viết để viết ra.  Thế thôi.  Hay hay dở cũng chẳng để làm gì hết.  Cứ chịu chơi hết mình một cuộc rồi thì đâu sẽ ra đấy.  Hay hay dở là ở chỗ chịu chơi hết mình hay không hết.  Mọi điều còn lại đều vô nghĩa.  Giữa những người chung một cuộc chơi có một sự cảm thông kỳ bí không nói ra được bằng lời.  Liền cả tháng sau đó, đêm nào tôi cũng dịch tới dịch lui bài Hoàng Hạc Lâu, như là một cách trò chuyện với ông, với một nỗi ám ảnh.  Dịch đến mấy mươi bản khác nhau mà vẫn cứ loay hoay dịch.  Hoàng hạc Lâu chỉ là một cái cớ.  Hoàng hạc Lâu có thể là bài thơ hay nhất Đường thi nhưng điều ấy không quan trọng.  Dịch hay không dịch, hay dịch mấy mươi bản, không quan trọng.  Điều ly kỳ gay cấn là cái sự vụ dịch.  Nó biến khoảnh khắc trở thành vĩnh cửu.  Và vì thế, với người dịch, ngay trước và trong lúc cầm bút dịch, nó đã là sáng tạo, là làm hồi sinh trong hồn cái mầu xanh ban sơ bất tuyệt.  Những lúc ấy tôi không còn một mình, không còn cô độc.  Cũng người một hội một thuyền đâu xa.

Nhiều người lý luận rằng bản dịch thì không thể nào hay hơn nguyên tác, nó chỉ diễn lại cái ‘‘ ý ’’ đã có sẵn.  Những người ấy thực không hiểu gì về thơ.  Họ làm như thơ là cái gì rõ ràng minh bạch lắm, làm như trong thơ ‘‘ ý ’’ là cái gì quan trọng lắm.  Họ không hiểu được rằng cái điều được nói ra và cái điều nói ra được lại là cái điều không đáng nói.  Cách nói mới là điều làm ngậm ngùi tái tê hồn phách.  Vậy là sao?  Xin thưa ngôn ngữ vốn bất lực, cái điều nói ra được chỉ là cơn cuộc bầy ra để tìm cách nói cái điều không nói ra được.  Nói như vậy cũng không hẳn là nghe được.  Chỉ là nói vậy vậy thôi.  Chứ ngôn ngữ, cả chữ lẫn nghĩa, cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, chỉ là cái ngón tay.  Và vầng trăng cổ độ thì mãi mãi chiếu sáng trên thân phận con người.  Trước cái bờ vực thẳm mà ngôn ngữ đã phải cúi đầu hàng phục, phải đứng lại, thì thơ đã chắp cánh, đã nhắc một nhịp cầu để đáo bỉ ngạn, để có thể bước sang cảnh giới bên kia.  Muốn biết cái cảnh giới ấy thế nào thì phải dấn liều một bước mà bước bước qua thì mới có thể chết từ sơ ngộ mầu hoa trên ngàn. Còn cứ đứng tại chỗ vỗ tay khen ngợi, hay lên tiếng đổ lỗi cho nhịp cầu, thì làm sao thấy được những đoá hồng dại đang run rẩy đón chờ buổi tương phùng của một ngày đoàn viên xum họp.  Làm mới ngón tay, trau chuốt nó, là điều cần thiết.  Nhưng chao ôi, cái cách trỏ . . .

Kể ra ông đã thọ, chỉ kém vài năm thì đầy bát tuần.  Ông ra đi đột ngột, để lại bao thương tiếc cho người thân, và những bức hoạ, những vần thơ mê ảo.  Ông vừa dịch cổ thi, vừa sáng tác, bằng Việt ngữ, và bằng cả Hán ngữ.  Thơ ông vừa mới, lại vừa cổ.  Cổ như tiếng nói của con người.  Mới hơn thơ của những người đang đòi làm mới thơ.  Thơ thì bao giờ chẳng mới, thứ thơ tinh khôi đến từ đáy lòng, làm sao mà nó cũ được.  Sao người ta cứ thích tô son thoa phấn cho thơ, mà không chịu làm mới lòng mình, không chịu đưa mảnh hồn mình ra mà dấn liều tang thương một cuộc.  Thử chép ra đây mấy câu thơ của ông:

…Những vụn vặt ảnh hình

Những đê mê hồi tưởng

Ánh tóc ấy xưa dài như con suối

Dẫn lối Đào Nguyên

Huyễn tượng

Ánh mắt ấy chứa chan thần mật

Sáu nẻo mê đồ

Sắc tướng

Làn môi ấy căng lên cánh buồm phơ phất

Lưu thuỷ hành vân

Ngũ âm

Tuyệt xướng

Chữ nghĩa ông thật là say đắm mê đồ.  Ánh tóc ấy, Ánh mắt ấy…thần mật… sắc tướng.  Làn môi ấy căng lên cánh buồm…tuyệt xướng.  Hay tuyệt sướng ?  Nào ai biết…

Một chữ cũng là thầy, nửa thế võ cũng là thầy.  Lúc ông còn ở hồng trần, tôi đã được cái duyên cùng ông đối diện nhiều lần, nhưng lại chẳng được một lần tương phùng.  Nay ông như cánh hạc đã vụt bay bất phục phản, tôi lại gần gụi, thân thiết với ông hơn bao giờ.  Ngày giỗ nhì cũng sắp đến.  Xin thắp nén hương chắp tay lạy ông mấy lạy.  Một lạy để tạ lỗi đã thầm trách ông.  Một lạy nữa để cảm ơn ông đã dậy tôi đôi điều, dăm thế, lúc đương còn ở quán trọ trần gian, cũng như sau lúc đã bay về cõi trời xa tắp.

Như đôi điều tâm sự cùng người đã khuất, xin chép ra đây hai bản dịch của ông và hai bản dịch của tôi, một bản giả vờ tuân theo niêm luật, một bản noi gương cụ Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục, đi theo nguyên tác mà bước ra ngoài luật thơ.

Tô Thẩm Huy

Houston, tháng 9, 2004

Lầu Hoàng Hạc


Bài một

Hạc vàng người cưỡi biết đâu nơi

Gác hạc vàng đây đứng ngóng trời

Một phới hạc vàng không trở lại

Nghìn trùng mây trắng mãi rong chơi

Ngàn cây bến Hán còn ngơ ngác

Lớp cỏ châu Anh vẫn ngậm ngùi

Chiều xuống có quê mà chẳng ở

Để sầu khói phủ với sông trôi

Bài hai

Chuyện xưa người cưỡi lưng hoàng hạc

Bỏ mặc bên đường gác Hạc không

Một chuyến vàng bay chìm bóng hạc

Nghìn đời trắng xoá gợn mây bông

Hán Dương rờ rỡ hàng cây bến

Anh Vũ lê thê lớp cỏ đồng

Chiều xuống nơi nào quê quán nhỉ

Nhớ thương thương nhớ khói đầy sông

Nguyễn Đức Hiển

Bài một

Cưỡi hạc người xưa đã khuất vời

Trơ lầu Hoàng Hạc đứng chơi vơi

Mù tăm cánh vút, vàng bay mãi

Lờ lững mây trôi, trắng ngập trời

Xanh bóng Hán Dương sông loáng nắng

Quạnh bờ Anh Vũ cỏ im hơi

Chiều nay sương khói dâng trên sóng

Sầu thẫm hoàng hôn lạnh xứ người

Bài hai

Người xưa cưỡi hạc bay đi mất

Đây lầu Hoàng Hạc lạnh tầng không

Một đi bóng hạc vàng hun hút

Muôn thuở mầu mây trắng chập chùng

Cây bến Hán Dương in trong nắng

Cỏ bờ Anh Vũ trĩu bên sông

Chiều rơi thoi thóp đâu quê quán

Khói sóng dâng khơi giục não lòng.

Tô Thẩm Huy

Ghi chú:

(1)    Vũ Hoàng Chương, Hoàng Hạc Lâu, in lại trong ‘Tản Đà, Về Tác Giả và Tác Phẩm’, NhiềuTác Giả,

NXB Giáo Dục, 2000, trang 330, 331.

(2)  Nhất quyền đả đảo Hoàng hạc lâu,  Lưỡng cước thích phiên Anh Vũ châu,

Nhãn tiền hữu cảnh đạo bất đắc,  Thôi Hiệu đề thi tại thượng đầu. (Lý Bạch)

Một quyền đấm lệch Hoàng Hạc lâu,  Hai cước đá phăng Anh Vũ châu.

Cảnh đẹp lọ là xin gác bút,  Kìa thơ Thôi Hiệu ngửng ngang đầu. (TTH)


(3) Nguyên tác và một số các bản dịch khác:

Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ

Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu

Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản

Bạch vân thiên tảikhông du du

Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ

Phương thảo thê thê Anh Vũ châu

Nhật mộ hương quan hà xứ thị

Yên ba giang thượng sử nhân sầu

Người xưa đã cưỡi hoàng hạc đi mất

Chốn này luống còn riêng lầu Hoàng Hạc

Hoàng hạc một đi là đi mãi không trở lại

Mây trắng nghìn năm thì cứ lững lờ bay

Sông trong vắt, hàng cây Hán Dương hiện rõ

Cỏ ngun ngút , bờ bãi Anh Vũ ngậm ngùi

Ngày đang tắt, quê hương biết ở phương nào

Khói sóng trên sông giục lòng ta nỗi muộn phiền




Người xưa cưỡi hạc đã lên mây

Lầu hạc còn suông với chốn này

Một vắng hạc vàng xa lánh hẳn

Nghìn năm mây bạc vẩn vơ bay

Vàng gieo bến Hán ngàn cây hửng

Xanh ngút châu Anh lớp cỏ dầy

Trời tối quê nhà đâu tá nhỉ

Đầy sông khói sóng gợi niềm tây

Ngô Tất Tố

Người xưa cưỡi hạc đi đâu

Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ

Hạc vàng đi mất từ xưa

Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay

Hán Dương sông tạnh cây bày

Bãi xa Anh Vũ xanh dầy cỏ non

Quê hương khuất bóng hoàng hôn

Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai

Tản Đà

Người tiên xưa cưỡi hạc vàng tếch

Ở đây còn có lầu hạc trơ

Hạc vàng một tếch chẳng về nữa

Mây trắng nghìn năm còn phất phơ

Sông tạnh Hán Dương cây sát sát

Cỏ liền Anh Vũ bãi xa xa

Trời chiều quê quán đâu chăng nhỉ

Khói sóng trên sông giục nhớ nhà

Tùng Vân

Người đi cưỡi hạc từ xưa

Đất này Hoàng Hạc còn lưa một lầu

Hạc vàng đi mất đã lâu

Ngàn năm mây trắng một mầu mênh mông

Hán Dương cây bóng lòng sông

Bãi kia Anh Vũ cỏ trông xanh rì

Chiều hôm lai láng lòng quê

Khói bay sóng vỗ ủ ê nỗi sầu

Trần Trọng Kim

Ngẫu hứng Valentin

Ánh Tuyết

Valentin với ngưòi ta

Mình đâu còn thuở nhận hoa của người

Bồi hồi ,mình với mình thôi

Bước cao , bước thấp đường đời chênh vênh

Năm qua nhanh , tháng qua nhanh

Mới thôi đã lại mấp mênh cái già

Người như ảo ảnh phía xa

Mải mê, ta vớt trăng ngà đáy sông

Dốc bồ thương kẻ ăn đong

Xót cơn đại hạn, khát trông mưa rào

Hình như… xuân cũng cồn cào

Ngày Tình Yêu vẫn dạt dào tháng hai.

Lời bình của Nguyễn Hàn Chung

Thoạt tiên mới đọc 2 câu thơ mở đầu  bài thơ Ngẫu hứng Valentin của Ánh Tuyết dù chưa hân hạnh quen biết  nữ thi sĩ tôi đã  võ đoán muốn nói  lời đôi co với tác giả   :. Tuổi nào là tuổi còn thuở nhận hoa của người tuổi nào thì mất quyền công dân tình yêu ? Theo thiển ý của kẻ này thì bất kỳ ở thuở tuổi nào cũng ‘’ còn ‘’cả .  Người trẻ  trung tươi như hoa  nhận  cái đẹp của hoa tươi , người già cỗi như hoa úa mà thậm chí hoa tàn nhận cái đẹp riêng của hoa tàn chẳng thế mà cụ Nguyễn Tiên Điền bật đèn xanh  cho chàng Kim thốt một lời nghịch lý mà thuận tình  đó sao :  ‘’hoa tàn mà lại thêm tươi- trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa ‘’ Tình yêu nào phải độc quyền của tuổi trẻ .  Nhà  thơ Phan Khôi đã từng  khơi mở quyền yêu của cặp tình xưa hom hem, héo hắt trong bài thơ Tình già bất hủ ‘’Hai mươi bốn năm sau ,tình cờ đất khách gặp nhauĐôi cái đầu đều bạc’’ thế mà bất chấp cái  dâu bể hai mươi bốn năm trời họ vẫn còn ‘’ liếc đưa nhau đi rồi ,con mắt còn có đuôi ‘’.Còn sâu đậm hơn gấp bội lần việc nhận hoa của đôi trẻ đấy chứ! Thật thế , có khi  tình yêu đã lặm vào phế phủ  nó còn công phá ghê gớm gấp mấy lần cái tình yêu bùng phát mãnh liệt nhưng chóng lụi tàn của nam nữ thanh niên  ! Nghĩ thế mà nghe em than thở ‘’Bồi hồi mình với mình thôi- Bước cao, bước thấp đường đời chênh vênh ‘’anh vẫn thấy một nỗi xót xa không thể kìm nén .Em than oán cái gã thời gian vô tình ‘’ năm qua nhanh tháng qua nhanh ‘’ người con gái  ‘’Mới thôi đã lại mấp mênh cái già ‘’ để rồi bóng hình năm cũ  như ‘’ ảo ảnh phía xa’’ còn chủ thể trữ tình thì lại ‘’mải mê vớt trăng ngà đáy sông ‘’.Ai vớt , tác giả không nói rõ rành em hay là anh ,tác giả lại  hạ đại từ ta như là sự khái quát một quy luật vĩnh hằng tất yếu : không ai đủ sức ‘’lạy muôn vì tinh tú nhé –xin đừng luân chuyển để thời gian – chậm đi……”nên đành phải làm một công việc lãng mạn đấy ,thi vị đấy mà cũng đầy  xót xa cay đắng  bởi có ai dẫu là thi tiên họ Lý chăng nữa vớt bóng tìm xưa đặng nào ?

Câu thơ ‘’Dốc bồ, thương kẻ ăn đong ‘’tác giả cũng dùng lối nói phiếm chỉ không khẳng định ai dốc bồ bố thí cho kẻ ăn đong một chút cho tình yêu nhưng đến câu thơ tiép theo ‘’xót cơn đại hạn ,khát trông mưa rào ‘’thì cái tôi chủ thể buộc phải xuất đầu lộ diện Ai găp cơn đại hạn ,khát khao một trận mưa rào nữa nếu không phải là tác giả sau khi cúi thân vớt cái trăng ngà lên cồn cào một nỗi “xuân đi xuân lại lại’’khi bắt gặp cái ngày tình yêu  dạt dào tuôn chảy vào cái bồ tình yêu trống không trong tâm hồn nữ sĩ .

Mượn cái tiêu đề bài thơ Ngẫu hứng Valentin tác giả muốn  người đọc

hiểu rằng đây chỉ là phút ngẫu hứng nhất thời khi ngày tình yêu tới mà ta đã mấp mênh cái già không còn ai đoái hoài  đón đưa biếu, tặng  nữa phải chua xót thốt  lên ‘’bồi hồi mình với mình thôi ‘’.nhưng rồi cuối cùng vẫn bộc tỏ sự lạc quan đáng kính nể khi tác giả tự khẳng định ‘’ Ngày Tình Yêu vẫn dạt dào tháng hai’’ ..Tháng hai  tình yêu của người  trẻ trung nồng nàn say đắm bao nhiêu thì tháng  hai  tình yêu của  người  già cũng cồn cào không kém đắm say bấy nhiêu mà có phần bền chặt hơn là đằng khác, không hơn sao’’ vẫn dạt dào tháng hai ‘’

Ngẫu hứng Valentin của Ánh Tuyết cũng không đào thoát khỏi  môtip cảm khái tình yêu  ngoái lại thời trai trẻ của những người mải lo toan ‘’ áo xiêm ràng buộc ‘’ chợt một ngày nào đó cảm thấu bước đi không ngoái lại của thời gian mà bồi hồi ngẫm ngợi.  Thôi người ạ!Ai muốn bước cao bước thấp hái  trái cấm vào thời gian nào còn  tuỳ thuộc vào thể trạng tình yêu, bản chất tình yêu của cái đường đời chênh vênh ấy . Tuy nhiên tôi muốn thầm thĩ với tác giả Ngẫu hứng Valentin một câu này :Người nằm dưới đáy mộ sâu cả mấy  nghìn năm  còn thượng hưởng hoa hương của khách đa tình đời sau huống hồ…Đừng’’ hình như’’ , đừng ‘’cũng ,vẫn ‘’nghe nó miễn cưỡng và buồn làm sao ấy’’. Xin được chung vốn với tác giả mấy câu thơ của người bình “Bây giờ có thể người ta chán những người già đang yêu –Khi họ chiều- những người già không dám yêu mới làm ta chán

Bốn mươi năm mang mang hồi ức

Nguyễn Hàn Chung

Những năm  sáu mươi  khi bọn học trò xứ Quảng chúng tôi tập tò làm thơ có một bài thơ mà  hầu như đưa nào  cũng đều ưa thích  và thuộc nằm lòng.Đó lá bài Xa Cách của Châu Liêm mà  ngày  ấy chúng tôi cho đến hơn bốn mươi năm sau cũng không biết tác giả là ai. Tình cờ mới đây  đọc trên Website Da màu tôi mới tỏ tường  Châu Liêm là một trong những bút hiệu của nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp  hiện đang sống ở Dallas Hoa Kỳ.Tôi không còn một văn bản  viết nào đành ghi lại bài thơ theo trí nhớ :

Xa cách

Châu Liêm

Hai dặm cát vàng duyên nối tiếp

Đôi bờ sông rộng mặc ai đưa

Tôi đâu dám bảo Trường giang hẹp

Chỉ hận nghìn năm với bến bờ

Đêm ấy người đi sương xuống lạnh

Trăng mùa tiễn biệt sáng mông lung

Tôi đâu dám hẹn ngày tương ngộ

Người khóc đêm nào người nhớ không?

Tuổi mới hai mươi đời xế nửa

Từ nay đâu dám hẹn tương phùng!

Ai tiễn ta qua vài bến nước

Với hai sào gió bốn sào trăng

Ai tiễn ta rơi vài giọt lệ

Lệ chảy đầy trong đôi mắt trong

Quấn bàn tay lạnh trong tà áo

Từ nay xa cách mấy con sông

Ấu thời đọc bài thơ nầy chúng tôi mê mẩn ghê lắm bởi cái âm điệu trầm bình mà bi tráng của phong cách thơ .Tống biệt hành ,Hành phương nam, tất nhiên trên cả tuyệt vời rồi nhưng Thâm Tâm và Nguyễn Bính tên tuổi lớn quá còn anh Châu Liêm nầy mới toanh  chúng tôi nghĩ có khi xấp xỉ tuổi mình cũng nên lại  có những câu  thơ phấn hứng đến chết người :

’Tuổi mới hai mươi đời xế nửa

Từ nay đâu dám hẹn tương phùng’’

Không khí ‘’Thử địa biệt Yên ,Đan-tráng sĩ phát xung quan –Tích thời nhân dĩ một –Kim nhật thủy do hàn của Lạc Tân Vương như đồng hiện khiến bon trai thời loạn chúng tôi ngứa ngáy tâm can nhưng là sự ngứa ngáy nâng con người lên một tấm cao mới khao khát hướng tới cái lớn lao đích thực mở ra những chân trời cho sự thấu hiểu bằng sự tiếp nhận duy cảm .Những hình tượng thơ thi vị hóa  , lý tưởng hóa  ,cách điệu hóa  mang tính quy phạm  thẩm mỹ của chủ nghĩa cổ điển được tác giả sử dụng xuyên suốt  trườn theo bố cục có sức níu kéo lòng người như các hình ảnh ‘’người đi sương xuống lạnh- trăng mùa tiễn biệt -hẹn ngày tương ngộ -trong đôi mắt trong…’’ .Có thể những hình tượng và ngôn ngữ ấy bây giờ đã quá sáo mòn đến mức người làm thơ lách nó như lái xe lạng lách  các ổ gà chứ thập niên năm, sáu  mươi còn rất thời thượng cuốn hút trái tim các ‘’Tuấn chàng trai nước Việt ‘’đến rứt không ra kia được

Nhưng ma lực của bài thơ dường như không phải các hình ảnh ước lệ ấy , kỳ lạ thật hình tượng thơ  từ trong rừng phong, thu đã nhuốm màu quan san cũ kỹ lại bước ra rũ phong sương nhấn nhá bằng một số từ mang phong cách hiện đại

.Tôi muốn nói đến từ mông lung trong cụm từ sáng mông lung, từ xế, trong cụm từ  đời xế nửa và nhât là từ quấn trong hai câu thơ cuối cùng;
’Quấn bàn tay lạnh trong tà áo

Từ nay xa cách mấy con sông’’

Động từ quấn bình dị dân dã  mở đầu đoạn kết lại có độ hút mà trộm vía tác giả  tôi thiển nghĩ chính anh cũng đâu có ngờ trong suốt  hơn ba mươi lăm năm làm người thầy giáo dạy văn tôi đã dẫn dắt các em học sinh chuyên văn quê nhà bình  nhãn tự trong các câu thơ ấy. Tôi đã cho các em đưa  từ xế,quấn vào trong một trục với các từ đồng nghĩa hoặc gần nghĩa chẳng hạn để thay thế cho các từ ấy nhưng các em và cả người thầy đều bất lực .Tôi không nói ngoa Các từ ấy cũng giống như từ lẻn trong câu thơ Rẽ song đã thấy Sở Khanh lẻn vào trong Truyện Kiều nói như Đỗ Lai Thúy đúng là con mắt thơ không có một từ nào khả dĩ có thể thay thế mà không làm đứt mạch hội ngộ văn chương của người đọc.Tôi nghĩ không ra làm sao một cậu bé học lớp đệ nhị mới mười sáu tuổi ( *l)ại có thể sử dụng từ ngữ điêu luyện dường ấy.Phải chăng  đó là của trời cho và tác giả với tư cách là người sáng tạo vẫn nằm ngoài hệ thống  với các mối liên hệ nghệ thuật  :Người chủ xướng và người đọc cũng chỉ đóng vai trò tham dự mà thôi .

Có những bài thơ tác giả là những nhà thơ lớn ,ngôn ngữ thơ hàm súc  đặc dị,chứng tỏ tác giả uyên bác và trí tuệ cao nhưng sao người đời lại không nhớ mà kỳ lạ bài thơ Xa cách của Châu Liêm tuy không có nhiều sáng tạo về mặt thi pháp nhưng chiều sâu của tiếp nhận thẩm mỹ được  vượt qua được một độ lùi của thời gian chiếm lĩnh và tái tạo hình tượng ngôn từ trở thành hình tượng tâm tư trong lòng người đọc gây hiệu ứng tiếp nhận  bền vững trong lòng tôi và bè bạn một thời ,một đời…

Cái cực sướng nào rồi cũng nhanh chóng qua đi tại sao cái cực sướng văn chương cử đeo dai đeo dính chúng ta  đến mỏn đời làm vậy.

Tôi cũng không biết nữa…

Sugarland City

November 1.2009

(*)Sau này khi có dịp gặp anh Nguyễn Xuân Thiệp tôi mới biết bài Xa cách được anh viết năm hoc đệ nhị  trường Quốc Học  Huế  lúc  mới  mười sáu tuổi.Anh cũng không còn nhớ nguyên vẹn đứa con xa cách bốn mươi năm của mình…

Chim bỏ đàn xa xứ ôm nỗi nhớ tàn phai

Nguyễn Hàn Chung

(nhân đọc tập thơ Đứng dưới trời đổ nát của Phan Xuân Sinh)


Có người cho rằng mạch thơ trong Đứng dưới trời đổ nát của Sinh ít tung tẩy chữ nghĩa như một số bài thơ của anh sau này.Tôi không nghĩ thế ,đọc hết tập thơ ráng căng con mắt thấu thị nhìn vào trong vỉa từ thơ anh tôi cảm thấu trong nội hàm ẩn chứa nhiều phong vị .Trước tiên là phong vị cổ thi’’ta.Trời tây mỏi mắt-người Trời đông chau mày-hai phương mà như một –nào đâu người có hay’’(bên kia nỗi nhớ).Tứ thơ  với những hình ảnh ước lệ ngựa hồ ,đất khách  cố xứ ,chân mây sẽ khá cũ càng  nếu anh  không có những câu thơ  khải truyền cho từ một tải trọng đời sống huyết tận’khẽ chạm vào huyệt lộ-bỗng dưng người mất tăm’’’’bóng đè lên thân phận –ta đang chiêu hồn ai?).

Đắm mình trong nguồn mạch văn chương  khí khái hào sảng ngày trước 1975 anh có những bài thơ thấm đẫm hào khí, ngôn từ trong thơ  nhắm vào đối tượng với tư cách ngôn từ thông thường ít nhiều còn mang tính tượng trưng nhưng  mê đồ chữ nghĩa đã biến dị  hiển lộ bản sắc cá nhân với những luận chứng ,luận cứ làm cơ sở của xúc cảm khẳng định lý tưởng hoài bão ôm ấp của mình (hầu chuyện cùng Ngũ Tử Tư)(một đoạn cho Kiều )(gặp lại bạn ta).Những bài thơ ngóng vọng cố hương của PXS theo tôi đã đạt tới cảnh giới thơ khả thơ phi thường thơ bởi lòng anh và hình tượng thơ đã  hòa mạch vào nhau nói như lời Kim Thánh Thán ‘’chỗ mà lòng tới rồi bút bất tất phải tới nữa’’ .Ta hãy nhâm nhi vài ly chữ của Sinh“nửa đêm còn vọng tiếng ai-nghe oan hồn khóc bên tai rã rời-giật mình chỉ biết ngậm ngùi-

làm sao chia bớt với người nỗi đau’’(bay qua đời khói sương)

Câu thơ cuối cùng kết tứ cho đọan  thơ dường như vô hình trung đã vận, đã mắc vào đời anh với niềm trăn trở làm sao gánh vác bớt nỗi đau bè bạn  ‘’chìm sâu ngàn trùng’’ hoặc ‘’lây lất khốn cùng bến mê’’.(Và theo như tôi biết từ  khi anh còn lăn lóc chốn chợ trời cố  xứ hay  sau khi lăn lộn kiếm được chút của nả xứ người bao bè bạn quê nhà đã được anh cưu mang ,đùm bọc mà anh giống như bậc hành giả dù viết cả một tập truyện ký mang mang hồi ức anh vẫn  kín tiếng không hề  thố lộ cùng ai)

Một số bài thơ  trong ba tập thơ của anh nói như lời nhà thơ Trần Doãn Nho trong bài Vài suy nghĩ về ”sống với thời quá vãng’’ ‘’đã đi vào lòng độc giả với cái chất hiện thực chan hòa trong lối lý sự  rất riêng ‘’cái lối lý sự giận dỗi lửa rơm  mà hầu như  bất cứ ông nhà thơ Quảng Nam kim cổ nào không mắc cũng là mang:‘’muốn may miệng những thằng láu cá-Bợ đỡ tung hô kẻ bất tài ‘’ ‘’khàn hơi chỉ mặt đứa gian manh-bán đứng anh em chơi trò lừa lọc-núp sau lưng đoạt cuộc tranh giành’’ Giận phường bội bạc , ngòi bút anh tung hoành rót về tứ phương để trút cơn phẫn hận  chứ  ngoài đời anh rất hiền, bạn bè chỉ thấy một PXS chưa hề nặng lời với ai kể cả những kẻ không ra gì…

Những bài thơ viết về vợ của anh rất chân thật và cảm động bởi nó không màu mè dối trá như một số nhà thơ khác .Hơn ai hết  anh cảm thấu người bạn đời

là người ‘’cắn răng chịu đời khổ tận –u uất trong lòng-đắng cay chồng chất’’để ông nhà thơ tự thú ‘’ hư thân, bạt mạng ,cuồng ngông, hoang đàng’’lao tâm khổ tứ chơi cái trò phụng hiến con chữ  mà con chữ hỡi ơi vĩnh viễn hay phù du nào ai biết ai hay.Mảng thơ viết về bạn của anh dàn trải trong nhiều bài thơ ‘’chén rượu tạ lòng bạn hiền-gặp lại bạn ta-nói chuyện với bạn hiền …’’thật sự bộc tỏ lòng anh với bạn’’ta gióng chuông kêu lên tức tưởi-những oan hồn vất vưởng đâu đây-âm dương .cùng ngồi chung manh chiếu-bạn,thù .chia nhau chén rượu đầy..(nói chuyện với những bạn hiền )

Thơ PXS đặc dị ở chỗ có những câu anh viết rất trụi trần không câu nệ ngôn ngữ toàn dân hay khẩu ngữ nhưng vẫn có tính hàm súc cao,từng câu đều có tính độc lập nội tại, nhiều câu có chiều hướng hướng tới tính chất và cấu trúc của  những cách ngôn(hầu chuyện cùng Ngũ Tử Tư)(đêm nằm nhớ Ức Trai)(nói chuyện với những người sinh vào thiên kỷ mới).

Đứng dưới trời đổ nát của  PXS dù vẫn chưa thoát ra mô tip thơ  ngất ngây hào khí vang bóng của lớp trai thời loạn một thời nhưng trong thơ anh trời đổ nát đã tái sinh  với những hình tượng huyễn tưởng đan cài .Đọc thơ anh không  chỉ những  tên đồng thị thiên nhai luân lạc nhân , suốt đời vật vã- chạy vòng quanh kiếm tìm trên bước đời lưu lãng chúng ta hắt hiu lòng vọng nhớ những Giếng Bộng,Đò Xu cũ càng,một Cầu Vồng dốc ngược, bến phà Hà  Thân đã chết mà những bè bạn quê nhà  những kẻ đầu non cuối chợ,búa rìu bổ lên đầu lên cổ cũng tìm trong bóng chữ trong thơ PXS một chút bóng dáng an ủy

trong những năm tháng cuối đời.

Cái tài tình của nhà thơ Phan Xuân Sinh trong  tập thơ Đứng dưới trời đổ nát là  tuy vẫn bám vào các thể loại  cấu trúc của truyền thống cũ  nhưng lại nhằm vào những tầng sâu hơn của truyền thống để can dự vào các đề tài vĩnh cữu :tình yêu,quê hương, cái chết ,nỗi đau, niềm tin ,chiến bại… Và  một điều đáng để những ai yêu quý thơ PXS lưu tâm  là bất cứ dự cảm nào trong hình tượng thơ anh cũng bộc tỏ phong cách rất riêng của người nghệ sĩ không lẫn vào bất cứ nhà thơ  hải ngoại nào .Phải chăng đây chính là bản lai chân diện mục của hồn thơ Phan Xuân Sinh!..

Viết tại Lầu Cây khế -Houston Texas

Tháng 10/2009

CƯỠI BÓNG MÌNH QUA GIẤC MƠ HOANG

Nguyễn Chiến

                        

                          

                                              (Đọc tập thơ Trích tôi của Đỗ Thượng Thế)

     Có lần Đỗ Thượng Thế nói với tôi: Rất sợ bị vần nhịp lừa mị làm hỏng í thơ. Người thơ nầy rất có í thức viết mới, viết như thế nào đó để bộc bạch, giải bày cho đến kiệt cùng, chứ không chịu hạ mình để cho vần điệu phỉnh phờ, ràng buộc mà sinh hạ những câu thơ xập xèng, ẻo lả, điệu đàng. Hãy xem trong Trích tôi, Đỗ Thượng Thế đã cố gắng viết mới theo hướng nào?

     Tôi biết Đỗ Thượng Thế còn có những bài thơ rất trữ tình, rất… dễ đọc. Xin ghé lại một chút với những vần thơ ấy:

                            Chìm sâu trong giấc cỏ xanh

                            Ánh biếc chong ngày rờ rỡ

                            Sực mùi giêng xưa hít thở

                            Ấm hơi đánh thức nỗi thầm 

                           Gót gầy ướm dấu chân non

                           Gặp tiếng chim thơm vườn ổi

                           Sông nắng vô tư bơi lội

                           Ao mưa nơm úp ụp òa…

                                                 (Trong giấc cỏ xanh)

                           Chưa từng tát cạn đêm sâu

                           Chưa ngồi nhặt bóng chưa khâu vá hồn

                           …

                           Chưa em chưa cả ta thôi

                           Cả mưa xưa phía cuối trời còn tuôn

                                                  (Như chưa)

Người đọc thơ anh rất thích những bài thơ như thế. Nhưng anh lại để mặc cho chúng nằm xẹp đâu đó trong góc lòng anh. Anh muốn, ở tập thơ đầu tay nầy, giới thiệu một Đỗ Thượng Thế gào khô khản vắng…cỡi bóng mình qua giấc mơ hoang, nhập thân vào con vụ trụi trần cuồng quay, vào bóng cò già…gầy nhom,vào con nít trần truồng bến trưa hò hét, có khi tê dại thèm…đương kì ngực hương dậy mẫy hoặc ngồi hít hà cái mùi hạnh phúc trong: Tã lót bé thơ/Lung linh nét nhạc/Tong tong mặt trời…Anh muốn ra mắt một Đỗ Thượng Thế với những câu thơ bụi bặm, tung hứng, xập xòe, quẫy đạp cho tím bầm hồn vía…

     Cách tân là yêu cầu của văn chương mọi thời đại, là trách nhiệm của người cầm bút chân chính. Xét trên tiêu chí nầy, Đỗ Thượng Thế đã dũng cảm gồng mình “quăng thân vào gió bụi” (chữ của Tố Hữu) giằng co với chữ mà viết những bài thơ không cấu tứ, dồn nén ngôn ngữ không vần không điệu, mở lối cho mình.Tôi nghĩ: muốn viết mới trước hết phải đổi mới cảm hứng. Một khi quan niệm thẩm mĩ thay đổi, điệu hồn thay đổi tất sẽ dẫn tới đổi mới nghệ thuật biểu hiện, cách bộc lộ cảm xúc…Không mới trong mĩ cảm thì cái gọi là cách tân, thể nghiệm chỉ là trò múa may con chữ. Xem cái biểu đạt quan trọng hơn cái được biểu đạt thì khó mà không rơi vào duy mĩ. Cái tôi trong Trích tôi không “đơn ngã” mà nhiều màu, lắm sắc. Lúc là thâm căn cố đế thằng tôi quê bần, lúc “sang trọng” làm đứa con hiểu đến tận cùng đường cày đời cha, đến cuối cùng vụ mùa đời mẹ, khi cao đạo giương cánh phù sinh/ thanh lọc phong trần, khi cũng “phàm trần” sững sờ trước đương kì ngực hương dậy mẫy.  Lúc già như bóng cò già, lúc trẻ như con nít trần truồng, khi như con vụ cuồng quay, khi lắng đáy tâm…Cứ thế, Đỗ Thượng Thế tha hồ khám phá chính mình và “trích” ra cho đời một cái tôi khát khác. Bản ngã được mở ra nhiều hướng, í tưởng bị hút dần về phía những ngõ khuất của vô thức; người thơ mon nem đi vào miền siêu cảm mà tìm bóng mình qua giấc mơ hoang. Vì vậy, hiên thực trong thơ anh tồn tại ở những nét mờ nhòa. Bóng mẹ, bóng cha, bóng cò gầy, bóng vạc giạt dàu thức trắng, con chó và tay săn trộm chó…chỉ thóang qua. Nhiều ám ảnh, ẩn ức khó gọi tên. Gió trong thơ anh là gió không mùa, mưa là mưa Trịnh, mây huyền thọai, trăng héo trong tranh, bươm bướm chuồn chuồn la đà cổ tích, lũ chỉ là biến tấu . Nhiều câu thơ của anh không phải để hiểu. Đọc thấy hay, thấy choi chói nỗi niềm nhưng thấu nghĩa thật khó. Như thế nầy chắc chính anh cũng mơ hồ:

                                 – Giạt rều rềnh lao đao

                                 Mấy mươi năm hồn hanh bụi mốc

                                  Nhịp lửa xới hăng hăng củi rục                                                    Giọt tranh loang đẫm ngực

                                  Âm ẩm bùn vũng trâu

                                  …

                                  Thân dế nhiều khi lụt lội

                                   Áo cơm vắt vẻo ngọn khuya

                                   Khát cứ hà rầm ngập nỗi

                                   Lại cơn úng tóc dàu về 

                                              (Biến tấu lũ)

                                – Nỗi đắm cạn bãi bờ ngày xô sóng lận

                                  Bọt nước vỡ thau những chân trời rựng tím

                                  Những cánh say mù biếc

                                  Những dát hồng nắng mưa

                                  Những thiên lưới dằng dai kiêu bạc

                                 Những mẩy trăng những ngần sao                                                                                Những đẫm ngợp

                                                  (Không đề)

Tôi nhớ ai đó hỏi một nhà thơ: -  Ông định nói gì trong thơ? Nhà thơ trả lời: – Nếu nói gì thì nói chứ làm thơ để làm gì? Người làm thơ nhiều khi viết để giải tỏa một ẩn ức, “viết vì nghe theo một tiếng gọi mơ hồ, bí mật nhưng dai dẳng của ngôn ngữ“(Henry Miller). Đỗ Thượng Thế tập tành đi theo tiếng gọi ấy chăng? 

Í thức thể hiện cái tôi khát khác, nên anh thiên về biểu hiện những chiều kích của tâm hồn hơn là tái hiện thực tại. Anh đã cố gắng mở rộng biên độ cảm xúc và diễn đạt bằng những ám thị, ẩn dụ… Vì thế, trong nhiều câu thơ hình ảnh đan chồng, cảm xúc níu quấn, ‎ í tưởng xô lệch:

     – Thằng nhãi con giương cao chùm nắng mẹ cho, chân ngập điệu mưa non, mê rêu rao trật tự cầu vồng

                                                           (Sắc màu riêng)

     – Những ngọn gió thì đương mùa lên tắt nghỉ

       Một đời hương biết ngát vào đâu khi bướm tiên lũ lượt về trời

      Rêu ám giấc mơ cứ đòi đêm thóat kiếp

     Mà đêm đêm như cái bào thai…kìa người đàn bà đang cơn vỡ ối

                                                           (Hồi âm)

   -  Về phía nào!?

      Phía nào…?

     Trước mặt trời tứ tán

     Trái tim ta vỡ òa như bầy kiến

     Tha chiếc bóng cỏ xanh

     Rân rần tháo chạy…

                                                        ( Mê lộ cỏ)

     Nhiều người viết mới hết sức cực đoan, muốn tung hê truyền thống. Họ không ưa cả những cách nói cho đẹp lời (mĩ từ pháp). Họ cho rằng đó là thứ xảo ngôn của hạng thi sĩ điêu toa, giả dối. Từ đó cứ viết câu thơ đuồn đuột, đến khó chịu. Đỗ Thượng Thế chừng mực. Anh vẫn có thơ lục bát nhưng làm mới đi một tí. Đó là cách vắt dòng và hài thanh phá cách:

                                   Chắt cạn cùng

                                  Lắng đáy tâm

                                 Ưá đầu ngọn bút

                                 Cái thần phiêu diêu

                                 …

                                 Nét cơn khát cánh chim trời

                                Nét lại hồi nét một thời đương xuân

                                                     (Nét)

    Thơ và nhạc là hai chị em sinh đôi(Phan Hùynh Điểu). Thơ có thể dài, có thể ngắn, có vần hoặc không vần, hài thanh hoặc không nhưng không thể không có nhịp điệu. Điệu hồn mới thì thơ tự nhiên có cấu trúc âm nhạc mới. Đỗ Thương Thế “sợ” vần nhưng thơ anh vẫn có tiết tấu, biến tấu:

                                 Em – dịu dàng

                                 Đi qua

                                 Bén!

                                 Lửa!

                                 Từ đôi mắt biếc

                                 Tận tim anh

                                 Cháy!

                                 Bùng!

                                                     (Cấm lửa)

     Thơ đòi hỏi kiệm lời. Tôi đặc biệt ưu ái lối thơ có cảm xúc nén chặt trong những câu thơ tỉnh lược đến mức tối đa. Thơ hay có khi là những mảnh ghép rời nhưng có chất keo cảm xúc kết dính bên trong. Trích tôi không nhiều những vần thơ như thế. Đỗ Thượng Thế khá chắc tay, phả được sắc hồn đẫm ngợp vào thơ; song vẫn còn những câu ngắn nhưng thừa chữ:

                                Mọi kho xăng đều cấm lửa

                                Để đề phòng tai nạn xảy ra

                                                      (Cấm lửa)

Vẫn còn những câu nhưng chưa đọng, í bé hơn lời:

                                Thì một gã khát tình

                                Ngữa mặt

                                Trông mày

                                Lắm ảo tưởng

                                Nhưng không í định…

                                                        (Bóng mưa bay)

Lắm khi người viết không bước khỏi bóng mình:

                                Mỗi thóang thu trôi bến cũ đều rằm

                                                        (Một dòng sông)

                                Thiếu nữ lạnh ngực rằm

                                                       (Kí sự đêm)

                                 Một đêm…

                                 Em dậy rằm

                                                       (Giấc xa xăm)

     Trong cuộc dấn thân đi tìm cái mới, Đỗ Thượng Thế đã dám “bước qua lời nguyền”:

                                Ta hẫng rơi bóng câu thề trắng đất

                                Bước ngày lên…

                                                         (Mê lộ cỏ)

Có thể xem Trích tôi là thể nghiệm ban đầu thành công của Đỗ Thượng Thế. Anh đã làm mới được mình bằng những bài thơ với một cái tôi khát khác;  người đọc có thể ngã hồn lên tin cậy. Vội mừng cho anh…

                                                                                 Cuối năm 2008

                                                                                           NC

Nói hộ phù du – Cảm thức tro bụi và ý thức bền bĩ về tính hữu hạn tồn sinh

Liêu Thái 
Anh đã sống ở một phương trời xa lắc xa lơ quê nhà, những câu thơ anh bắt gặp cũng mang một màu da khác. Nhưng dường như đâu đó nơi khuất lấp tâm hồn, những đồng vọng của hôm qua vẫn còn đọng lại trên đỉnh chữ, âm ỉ chảy thành lời trong cuộc dấn tồn sinh…
Trong những người cầm bút, sáng tác thơ của Điện Bàn và Quảng Nam,có thể nói rằng làm cho thơ hay thì không phải ít, nhưng làm cho mới thơ thì quả thực đếm trên đầu ngón tay. Đất Quảng Nam vốn nằm trên bản đồ những miền đất yêu thơ, “làm cách mạng thơ”… Nhưng đó là chuyện của một số quá ít ỏi những con người có ý thức tìm tòi cái mới. Dường như phần còn lại là những nghệ sĩ thị trấn, tỉnh lẻ khư khư ôm cái cũ, tiếc nuối cái mà lẽ ra nó đã được yên vị trong viện bảo tàng… Đào cái cũ, hòng làm mới lại nó chẳng khác nào việc chăm sóc một xác chết với hy vọng nó tươi rói và tiếp tục nói chuyện (hoặc chí ít thì nó cũng “thị phạm” được những gì nó từng nói trong quá khứ!) là một chuyện hi hữu và vô bổ. Nhưng người ta đã làm và làm không ít! Chưa bao giờ khái niệm Truyền thống lại đủ vững mạnh và sức sống như tình trạng văn nghệ tại cái tỉnh nhỏ bé – khúc ruột miền Trung như bây giờ. Có lẽ do vậy mà bất kỳ một người cầm bút nào có ý thức cách tân đều để lại một ấn tượng nào đó trong bạn đọc và thi hữu. Nguyễn Hàn Chung cũng nằm trong số ít ỏi này. Dường như ý thức cách tân vốn đã có từ rất sớm, manh nha trong Tìm tôi trong bóng và hiện rõ hơn trong Nói hộ phù du. Tuy không triệt để, nhưng chí ít anh cũng có một thái độ khước từ những giá trị sáo mòn và tìm một lối đi mới. Một lối đi có nhiều gai góc, cạm bẫy trong cảm thức tro bụi và ý thức bền bĩ về hiện hữu.
Tôi tin loài phù du bị hàm oan
bởi kiếp tồn sinh quá ngắn
Nếu không hiến đời mình bằng
đường bay ánh sáng
Sao kịp thành thiêu thân?
Cuộc chạy đua nào không vòng quanh
Nhưng chỉ cánh phù du biết
làm sáng lên ngọn lửa
mới mong chiết ra chất tinh ròng.
(Nói hộ phù du – NHPD)
Nếu không hiến đời mình bằng đường bay ánh sáng/ sao kịp thiêu thân? Hỏi nhưng mà cũng là trả lời. Trả lời bằng chính sự bất lực, bất khả giải của một hiện tượng không phải là của con người nhưng lại có sức biểu cảm, chở thân phận con người trên “đường bay” của nó. Phải chăng hiến (dù trên phương diện nào) là một bất khả kháng trong cõi tồn sinh, là một khả thể trên lộ trình bất định của sinh – thành – bại – diệt? Và hành vi hiến cũng là trạng thái tìm về bản thể hư vô mang nặng bản năng, định mệnh hơn là lí trí, dự tính?! Dường như Nói hộ phù du nhưng cũng là nói hộ ai đó đã, đang đi qua mặt dất này, nói hộ ai đó cũng là đang nói hộ mình, nói hộ mình cũng là đang nói hộ cho im lặng, nói hộ cho im lặng cũng là đang nói hộ cho cát bụi vô thường! Ở đó, người nghệ sĩ bắt gặp cái hữu hạn giữa cái hư vô và cái không cùng giữa cái nhỏ bé mong manh, ý thức cộng sinh, dun rủi con người tiếp tục đi tìm để tái sinh, sáng tạo ra mình thêm lần nữa trong ý nghĩa phù du…
Em múa những đường mây của trời
trong đất nung
qua gió mưa từ bấy
những chùm rêu chưa kịp tỏ tình
em múa đến bao giờ vậy
thần SiVa lặng thinh…
(trích Với người vũ nữ Chăm trên tháp Mỹ Sơn – NHPD)
Dường như đó là lời tự luận, tự vấn, tự trấn… những ý hướng thường thấy trong thơ lãng mạn. Tuy nhiên, sự phản tỉnh đã được thổi vào đó hơi hướm của thời đại, sinh khí của hiện đại bởi âm hưởng lãng mạn có dính những hạt li ti ngôn ngữ siêu thực thông qua kĩ thuật ngắt dòng, định vị từ và sử dụng nhiều hình ảnh mới (tuy rằng chất liệu và chủ đề hoàn toàn không có gì mới mẽ) đậm tính phồn thực, hiện thực huyền ảo của thi ca trong đất nung, qua gió mưa, những chùm rêu chưa kịp tỏ tình với thế giới quanh nó, với cơn khát thèm được sống đang cháy mãnh liệt bên trong nó… Dường như đến đây, ý thức cách tân về hình thức lẫn nội dung trong thơ Nguyễn Hàn Chung đã bắt đầu hé lộ – một sự hé lộ hàm ẩn nhiều hệ lụy cho kẻ trót đa man với con chữ, dự báo một nỗi cô đơn rình rập…
Nhận tặng vật của đêm
Biết không còn yên ổn
Món quà rẻ rúng khao khát kia!

gã tình quất ngựa truy phong
đứa bé đói bấu ngực cha tìm mụn vú
đêm có tội tình chi…
(trích Biến tấu đêm – NHPD)
Ý thức tha nhân, ý thức về nỗi đau nhân tình thế thái, ý thức về những hệ lụy của đời sống luôn là niềm day dứt khôn nguôi trong thơ anh, dường như ở đâu người đọc cũng bắt gặp những dòng thơ mang mang nỗi buồn thế sự, âm âm một mối cảm hoài về sự yếu đuối, bất lực của sự sống trước qui luật khắc nghiệt thời gian, trước những tàn phai và phụ rẫy, trước những hy vọng và bi thảm khôn nguôi… Những dòng ý niệm bên trong được thác vào một cấu trúc ngôn từ mở rộng mang tính đa chiều được định dạng bởi kĩ thuật ngắt dòng tự do, đột ngột, tạo độ trường cấu tứ và ý niệm, mở ra không gian đa chiều kích của thơ.

Người đàn bà hết duyên
vắt lòng đẻ ra những đứa con bụ bẫm
rồi lặng lẽ gục giữa tro than
níu những giọt mưa kì ảo của thế gian
nước mắt không còn đủ ấm
những lời ca vẫn bay thấu địa đàng.
Những chuyến tàu cắm vào thời gian
không ga nào đỗ lại
chồi non ra hoa rồi kết trái

nghiến lên đường ray
vĩnh hằng khúc tráng ca.
(trích Dưới mưa – NHPD)
Dường như khi đọc những bài thơ trong Nói hộ phù du, tôi có cảm giác vẫn còn thấp thoáng những hình ảnh, ý tứ, không gian tâm lý của Tìm tôi trong bóng. Và điều này ít nhiều tạo cảm giác khó chịu về tính liên văn bản hơi “sống” của những tác phẩm thơ anh. Tuy nhiên, đây cũng là “căn bệnh” không thể tránh khỏi của bất kì một người nghệ sĩ nào trên con đường sáng tạo. Vấn đề nằm ở chỗ mức độ và dung lượng phản chiếu của cái cũ (do chính anh tạo ra) lên cái mới đậm hay nhạt, khả dĩ chấp nhận được hay không và tạo ra hiệu ứng nào cho độc giả. Với Nói hộ phù du, vẫn còn âm vang đâu đó cái âm hưởng của Lãng mạn – Nhân văn, vẫn còn khuất lấp nơi ngóc ngách của “căn nhà mới” một cái bóng của ca dao, dân ca, vè bởi nỗ lực làm mới lục bát bằng cách tận dụng tối đa vần lưng, tạo nhịp theo một qui thức hoàn toàn mới: 2 – 2 – 3 – 1; 4 – 2 – 3 – 1; 5 – 3 – 1; 1 – 1 – 5 – 1…
Đó cũng là cách chơi khá mới mẽ của anh trong lục bát – một thể thơ cũ và dễ dẫn đến sáo mòn cho người sử dụng, khai thác, đó cũng là cái bẫy. 

Nếu như cái vẻ nhu mì
Rớt về ta đạn bom thì…hiểu không?
Muốn cho biển lặng trời trong
Thì thôi, gửi gió bế bồng, thế thôi!
Phải chăng có những kiếp người
Suốt đời lấy cái xa xôi làm gần.
(trích Tự thức – NHPD)

Chưa bao giờ tới Pleiku
Mà sao nhớ quắt quay như nhớ nhà
Nhớ làn môi bỏ bùa ta
Nhớ con mắt hạt dẻ già đắm sông

(trích Nhớ Pleiku – NHPD)
Với một dung lượng mỏng, chi phối không đáng kể trong toàn tập, nhưng lối viết thả lơi cảm xúc chảy theo dòng tự nhiên, không gắn gượng áp đặt một cấu tứ nhất định nào lên tác phẩm – viết automatic – giúp cho tập thơ có những khoảng rơi, những khúc phiêu dẫn dụ cảm giác vào một cảm quan mới lạ, thuần tính và chứa sức nặng suy tư… trong không gian mở của thơ văn xuôi, thơ hoạt tính…
Giọt trời xanh không ngoái lại cuối sông, cửa Đợi đang chờ. Đại ngàn lốm đốm lá vàng tơ theo con nước dập dềnh sóng vỗ. gặp Vu Gia sông chia đôi nhánh ghé Điện Bàn tắm táp vườn dâu. Tiếng thoi đưa lách cách đuổi nhau. Sự sống bừng bừng tở mở…
(trích Thu Bồn – NHPD)
Những chùm rêu bầu bạn áo xiêm em, cuộc hôn phối thời gian và cổ tháp. Điệu múa ấy làm hồi sinh phế tích, trong vô thanh phản phất nét ca Chàm. Cỏ bàng hoàng từ mấy trăm năm, em vẫn múa sá chi màu dâu bể. Đã tro bụi những hoàng triều chuyên chế, mọi trò chơi phù phiếm bậc quân vương. Người về đây để được tái sinh em, sự già cỗi hóa thanh xuân quyến rũ. Những gót nhảy tay xòe hông múa, không dễ tìm đâu trên thế gian này. Đừng hao mòn vì một thoáng mưa mây, Chiêm nữ ạ! Em vĩnh hằng tĩnh tại. Cứ vũ lộng hồn em đi, cô gái, thời gian xanh quì rạp trước em thôi.
Đừng bắt những chùm rêu phải nhận chịu đổi dời, xin van vỉ kẻ nguôi lòng cổ tích. Tôi muốn hóa thành rêu để ôm em thật chặt, mốc meo nhau ngôn ngữ không lời. trong hoang tàn diễm lệ…
(trích Mỹ Sơn – NHPD) 
Dù đứng ở góc độ nào, triển hạn trên phương diện nào nhằm tạo ra những mới lạ trong thi pháp, cấu trúc, ngôn ngữ thơ, vẫn bàng bạc đâu đó một dòng hoài niệm lẩn khuất dưới đáy câu chữ, bên trong những vỉa từ của Nói hộ phù du. Có lẽ sự bắt gặp nhiều nhất trong thơ Nguyễn Hàn Chung không nằm trong hình thức mới lạ và cũng không khu biệt trong những nỗ lực thay đổi hệ qui chiếu của chủ đề mà lại hàm chứa dáng dấp, chân dung của một con người luôn tha thiết sống, tha thiết yêu, tha thiết đau và cả tha thiết đón nhận nỗi đau như một người bạn cưu mang trong đời sống vốn mang nhiều hệ lụy và phi lý.
Phía trái căn nhà tôi ở
Có ông lão già quắt queo
Các con chia nhau vạt đất
Chia cho ông vạt nắng chiều
Phía phải căn nhà tôi ở
Có người đàn bà năm con
Mỗi con có riêng một bố
Bơ vơ đến sáu linh hồn
Phía trước căn nhà tôi ở
Lấp ló mươi nàng mắt xanh
Có người đạo cao như núi
Đến đây cũng biến mất hình
Phía sau căn nhà tôi ở
Có lối thông ra bến ngang
Tôi rủ chiều ra sau ngõ
Ngó đăm đắm lũy tre làng
Không thể chia lòng bốn phía
Nên còn nặng gánh đa đoan.
(Cạnh nhà tôi ở – NHPD)
Và viết, sáng tạo giống như là hành vi khẳng quyết sự tồn tại, khẳng quyết những bất an, trăn trở tử sinh được kí thác trên ngôn ngữ để rồi trả nó về với gió bụi không cùng. Khi những lời phù ảo bay lên, cũng là lúc người nghệ sĩ đối diện với bản ngã lao lung trên những bước hành hương dõi tìm diện mục, dõi tìm bóng dáng chân như… Và, trong mỗi sát na đi qua thường hằng sự sống, những câu thơ gắn trên hệ lụy đời người như một thoại đầu bất tận. Những nhận định chỉ mang tính chất võ đoán (nhận định của tôi cũng không nằm ngoài qui luật này) và làm rối mù hiện hữu. Nhưng dẫu sao, người đọc vẫn có quyền suy ngẫm, ôn lại những ấn tượng còn chìm khuất trong sương mù kí hiệu và bản ngã, dấu hiệu và tồn sinh, hiện tượng và vô cùng… như một lời tri âm trên mặt đất hoang vu này!
Anh đã để lại cho bạn đọc quê nhà một hình ảnh đẹp về người nghệ sĩ – nhà giáo tóc muối tiêu có đôi mắt sâu thẳm, ánh nhìn tinh nghịch và nhân hậu luôn quắt quay thoát khỏi những ràng buộc của sáo mòn để tìm đến không gian mới của sáng tạo.  
 
 

Bình thơ Trần thị Mỹ Hạnh

  TIẾNG CƯỜI TRONG TRẺO
Khi không khóc được thì cười

Cười nghiêng ngửa trước đầy vơi tủi hờn
Nỗi mình lắm cái đa đoan
Nỗi nhà đau đáu mênh mang tuổi đời

Tưởng dòng nước mắt cạn rồi
Đâu ngờ nước mắt khi cười trào tuôn

Ngọt ngào mặn đắng hoàng hôn
Chát chua bươn trải càng thương yêu mình

Đất trời vốn chẳng yên lành
Dòng trong bến đục , ân tình,lo toan
Không khóc được thì cười vang
Tiếng cười trong trẻo át ngàn nỗi đau
                                               
Trần Thị Mỹ Hạnh
     ( Báo Văn Nghệ ngày 28/5/2005)

Lời bình của Nguyễn Hàn Chung

      ‘’
Trái tim phụ nữ vốn dĩ đa thanh , phức điệu lắm rồi ,phụ nữ mà ‘’giời  bắt làm thi sĩ ‘’ thì mức độ tăng tiến lại càng  hơn gấp bội,thế nhưng mở đầu bài thơ nữ sĩ họ Trần lại phán một câu gọn ơ khẳng định ;
   ‘’ Khi không khóc được thì cười’’
 Thoạt  nghe có vẻ đơn giản  kiểu nói lấy được ,không khóc thì cười  chớ sao,nhưng là loại đơn giản đã được trui  trong lò bát quái nhân sinh quan của người  từng’’ bươn trải ‘’bao nhiêu đắng cay ,thất bát của cuộc đời mới luyện thành bản lĩnh khóc cười như ý làm vậy.Khóc lóc có giải quyết được gì đâu , ông cha đã chẳng từng căn dặn  cháu con đó sao:’’khóc nhục,rên hèn ,van yếu đuối’’.Thế thì cười lên đi ,tiếng cười tạm thời  xua tan bóng tối ,oán thù , ,nói theo y học tiếng cười là liều thuốc bổ, tiếng cười làm giãn nếp nhăn giúp quý ông ,quý bà cãi lão…’’trước đầy vơi tủi hờn’’.Nói như vậy nhưng hàm ẩn trong cái động  thái ‘’cười nghiêng ngửa ‘’ ấy có một cái gì đó xót xa cố nén  ‘’.Mà đúng rồi ‘’tủi  hờn, đa đoan, mênh mang nỗi đời’’ thì đố ai mà cười vô tư cho được  .Giá như tác giả đừng quá bộc bạch :’’Tưởng dòng nước mắt cạn rồi-Đâu ngờ nước mắt khi cười trào tuôn ‘’thì độ nén của tứ thơ sẽ ngấm sâu hơn vào lòng người đọc .Thật ra’’ cười nghiêng ngửa ‘’để’’nước mắt khi cười trào tuôn ‘’thì cũng không có gì là ghê gớm lắm đâu bởi đó là chuyện thường ngày ở…phim ,ở báo  !Phải đạt đến cảnh giới ‘’cười là tiếng khóc khô không lệ ‘’ kia mới tổng hoà các mối quan hệ xã hội trong quá trình sống ‘’ ngọt ngào mặn đắng-chát chua bươn trải’’thì cái độ yêu mình mới không gói gọn trong tính cá thể nhỏ nhoi  mà ít nhiều đã vươn ra ngoài cuộc sống .Có thế sự yêu mình mới phát sáng hơn , đáng quý hơn.
 Khổ cuối  tác giả khái quát một vấn đề không có gì mới ,một quy luật muôn đời bất biến với hàng loạt các sáo từ ‘’dòng trong, bến đục, ân tình,lo toan’’ đã được chẳng những thơ ca mà các loại hình nghệ thuật khác đề cập đến từ thuở nảo thuở nao rồi  .Tuy nhiên  Trần Thị Mỹ Hạnh không rườm lời đâu ,chị chỉ muốn mượn hai câu đầu của khổ cuối như lưỡi dao để vót nhọn từ ‘’cười vang’’  trong câu ‘’ Không khóc được thì cười vang ‘’cứa vào tim những con người yếu đuối ,thiếu bản lĩnh dễ đầu hàng nghịch cảnh . Tôi nghe như từ hai chữ ‘’cười vang‘’có  cả hình ,cả ảnh có  âm sắc, âm giai đủ để thôi thúc con người phát tán nỗi đau trong tiếng cười vang tràn đầy tinh thần lạc quan của kẻ đã thấu triệt lẽ đời bi,hoan,ly,hợp . Tôi mãnh liệt tin rằng những con người  yếu  đuối ấy khi đọc bài thơ Tiếng cười trong trẻo ngấm câu này, thấm từ  ‘’cười vang’’ này ,nếu  đang  ‘’tủi hờn,  chát chua đớn đau’’ định sẽ làm một việc dại đột nào đấy  sẽ mau chóng  cười vang . Và khi đã cười vang được rồi thì tội gì mà không sống ,chiến đấu  kia chứ .Cuộc đời dài lắm mà !
 Từ những  suy ngẫm mang tình chủ quan, ở góc độ người đọc cố gắng thấu cảm,chiếm lĩnh tác phẩm  tôi mạo muội nghĩ rằng giá như  tác giả cắt câu thơ cuối cùng đi để tiếng cười vang trong câu áp chót làm nhiệm vụ kết bài thì âm hưởng của tiếng cười vang ấy sẽ ngân nga  đồng vọng mãi trong lòng người đọc .Lý giải’’Tiếng cười trong trẻo át ngàn nỗi đau ‘’  làm gì  khi ‘’lòng đã tới rồi bút bất tất phải nói nữa ‘’  (Kim Thánh Thán) .
Bài thơ thuần lục bát ,giản dị ,từ không mới ,tứ không mới mà để lại dư ba cuốn hút người đọc phải chăng  là vì con chữ bình thường đã được nhà thơ điểm nhãn trở thành ‘’con mắt thơ’’?

   

Làm sao thấy lại dung nhan một người

            img.jpgimg.jpgimg.jpg                                         
                                                                                   Thanh Thảo
                                                                                   ( Quảng Ngãi )

 ( Bình bài thơ Trước tiệm phục hồi ảnh cũ  của  Nguyễn Hàn Chung  – KTGĐ số 42)

           Người ta chỉ có thể đi tìm thời gian đã mất  trong tâm tưởng .Cứ ngỡ thế .Nhưng bây giờ thời khoa học phát triển ,người ta còn hứa phục hồi dung nhan ngày cũ nữa .Nhưng làm sao đây hè ?
 

‘’ Cụ già tới tiệm phô tô
Mang theo tấm ảnh một cô gái làng
Chỉ còn là bóng thời gian
Cụ mong thấy lại hồng nhan một người

Phục hồi ảnh cũ.Dễ thôi
Đưa vô máy quét qua rồi là xong
Vẫn còn đôi má tươi non
Vẹn nguyên khoé mắt liếc mòn tim ta

Mặc chàng thợ ảnh ba hoa
Cụ chăm chắm đón người xa sắp về

Nhưng …rồi đâu tấm váy quê
Đâu rồi chiếc nón nghiêng che tóc người
Một cô ăn ảnh tươi cười
Rất xinh.Nhưng chẳng phải người trông mong

Cụ ôm ảnh cũ vào lòng
Dòng sông tưởng tiếc đầy trong mắt loà
Mặc chàng thợ ảnh lu loa
Cụ rơi về phía sân ga đợi chiều ‘’

Ấy ,cái kỹ thuật số thuật siếc gì đó bây giờ ,hiện đại thì rõ rồi ,nhưng nhiều khi cũng hại điện lắm .Vì anh thợ ảnh ba hoa kia muốn cho cô gái ( nay chắc đã thành …bà) tươi dòn một chút model một chút,nên chắc đã thêm vào bộ trang phục tân thời ,lại mông má  cho đẹp quá lên một chút , thế là …“Một cô ăn ảnh tươi cười – Rất xinh .Nhưng chẳng phải người (cụ mong ) hiện lên .Cụ già tá hoả ngây người còn anh thợ ảnh vẫn chưa ngớt ba hoa về tính hiện đại trong nghệ thuật thời nay.
           Bài thơ kễ chuyện rất dễ thương hơi hóm một chút ,hơi đau một chút nhưng cũng vừa phải  không quá nghiêng về phía nào .Nghiêng quá về phía hài cũng không được ,mà không đành .Còn nghiêng lắm về phía bi  thì có vẻ hơi… sến .Cứ tưng tửng thế ,chơi chơi thế ,giọng thơ lại khiến người ta đọc thấy vào mà cũng có chút gì ngẫm ngợi chút gì tiếc nuối .Cũng như bây giờ người ta làm thơ lục bát nhưng cái dung nhan của lục bát Nguyễn Bính thì dĩ nhiên không còn .Và thực ra cũng không nên còn .Mỗi thời một khác ,tâm trạng con người thời nay không thể giống y với người  đã cách đây bảy tám mươi năm . Dù cái hồn vía lục bát thì vẫn vậy ,không nên như anh thợ ảnh thay cái áo đầm cho cô gái váy… sồi . Nhưng…
                        ( Trích Tạp chí Kiến thức gia đình )

LỠ YÊU RỒI THÌ MẮC …CŨNG LÀ MANG…

                                          Nguyễn Hàn Chung


Chung ô

Trời đêm chợt đổ cơn mưa
Hình như
Trời chỉ muốn đùa chút thôi
Đường quê đi chật hai người
Chưa thân…
Mà dám đi đôi 
cũng liều !
Ai xui mưa tưới xiêu xiêu
Cái ô nghiêng nhẹ
theo chiều giọt mưa
Mình về……mang nợ cái ô
Còn ta mắc nợ
cơn mưa quê người .

                                       PHI TUYẾT BA
 

Trời mưa hai đứa che chung một chiếc ô thì đã có vẻ ‘’văn minh tiến hoá ‘’ở mức cao rồi! Ông cụ bà kỵ ta xưa chỉ che chung một tàu lá chuối non thậm chí một cộng khoai môn bứt vội mà một ngày nào đấy không xa cũng quấn quýt vợ chồng .Có điều tại sao hai người lại che chung một cái ô trong cái thời gian môi giới tuyệt diệu’’trời đêm’’ nhỉ? Lai thêm’’chợt đổ cơn mưa ‘’nữa thì mới khéo làm sao ! Dẫu ông trời chỉ ‘’muốn đùa chút thôi’’ hay đùa dai cặp trẻ này cũng quá chừng  hạnh phúc  bởi ông đã làm tròn nhiệm vụ tạo dựng cơ sở ban đầu cho hai trẻ:
‘’Chưa thân
  mà dám đi đôi
    cũng liều !’’
Tôi cho rằng đợi đến đêm ông trời đùa cợt ‘’đổ cơn mưa’’ tạo cơ hội ‘’đường quê đi chật’’ không phải chỉ là sự khao khát  mong đợi của riêng anh chàng rắp ranh bắn sẻ mà có cả dụng tâm của cô nàng nữa vì cớ phụ nữ họ ý tứ lắm không đuểnh đoảng như cánh đàn ông  gặp vui là cứ ba hoa thiên địa để đến khi đêm dần buông, mưa mù bay mới quýnh quíu ra về .Cái cơ hội tạo đà cho sự gặp gỡ xem ra có vẻ rất tình cờ mấy anh con trai’’khờ khạo lắm ngu ngơ quá’’ làm sao mà phát hiện ra sự kín kẽ của cô nàng cho dược .
   ‘’Đường quê đi chật hai người’’
Đường quê ngày xưa thường chỉ nho nhỏ xinh xinh mấy khi có được con đường thênh thang mà dù có rộng bao nhiêu đi nữa cũng phải ‘’đi chật’’ trong hoàn cảnh chiéc ô che cho phép, nếu không muốn một trong hai người bị ướt.Chắc chắc không anh chàng galăng nào lại để cho người chung ô bị ướt dĩ nhiên phải hứng chịu cơn’’mưa tưới xiêu xiêu’’ về phía mình.Còn cô gái đi nhờ ô người ta lại nỡ nào  chiếm phần tiện nghi để người bạn đường ướt át thì coi sao tiện dù anh ta có tự nguyện chăng nữa thì sự nhân hậu của một người phụ nữ có văn hoá cũng không cho phép cô làm thế.Vì thế cho nên’’đi chật’’ là một việc làm phải đạo không ai cảm thấy mình không nên không phải trong tình huống này.Ai đã qua cái thời tuổi trẻ đi chung ô bên em trên con đường quê mưa tuôn, mưa xối  giưa trời đêm, mùi hương chanh hương bưởi trên tóc nàng bị gió quê truy đuổi phải trốn vào lồng ngực vạm vỡ  đầy khát khao của chàng trai mới  thấu cảm được giây phút thần tiên mà nhiều năm sau ‘’tuổi cao tóc bạc cái râu bạc’’ muốn tìm lại chỉ còn trong tuổi thơ ký ức xa mù.
   ‘’Cái ô nghiêng nhẹ
      theo chiều giọt mưa’’
‘’Gió mưa là bệnh của trời mà’’ nó rơi theo chiều nào mà chả được ,bổn phận anh con trai là phải nghiêng nhẹ cái ô theo chiều giọt mưa để em khỏi ướt.Mỗi lần nghiêng nhẹ như vậy…Phi Tuyết Ba không nói gì thêm bởi lòng tới rồi bút bất tất tới nữa mà chi ..Hãy để nó ở ngoài lời.
  ‘’Mình về …mang nợ cái ô
     Còn ta mắc nợ
    Cơn mưa quê người ‘’
Hai người chung ô ai cũng nợ cả ,một người mắc một người mang.Có gì khác nhau trong cách dùng từ của tác giả? Không khéo sự suy diễn của chúng ta trước đây  sai trật cả.Vì sao cô gái phải mang nợ mà chàng trai chỉ mắc nợ mà thôi? Bởi vì mắc nợ thì còn có ngày trả được chư nợ đã  mang  thì ‘’xuống tuyền đài’’ cũng vẫn chưa tan.Niềm vui đang rộ bỗng vội cắt ngang bởi một nét buồn ,hỉ kịch nhuốm màu bi kịch :Có thể một ngày không xa em sẽ lên xe hoa với người do mẹ cha em lựa chọn, đêm nay trời giúp em tạo ra cơ hội cho hai đứa được gần nhau một lần,chưa thân chớ nào phải chưa yêu  chắc  cô gái ấy có yêu chàng trai lắm lắm mới dám liều đi đôi như vậy.Cô sẽ mang nợ cái ô suốt đời mà không bao giở trả được.Cô mong người con trai ấy sẽ trả được món nợ ‘’cơn mưa quê người’’ với một hình bóng khác.Ấy là tôi nghĩ cô gái tự an ủi như vậy chứ chàng trai sẽ không bao giờ trả được. Suy cho cùng trong tình yêu đích thực mắc cũng là mang.

LỠ YÊU RỒI THÌ MẮC …CŨNG LÀ MANG…

                                          Nguyễn Hàn Chung


Chung ô

Trời đêm chợt đổ cơn mưa
Hình như
Trời chỉ muốn đùa chút thôi
Đường quê đi chật hai người
Chưa thân…
Mà dám đi đôi 
cũng liều !
Ai xui mưa tưới xiêu xiêu
Cái ô nghiêng nhẹ
theo chiều giọt mưa
Mình về……mang nợ cái ô
Còn ta mắc nợ
cơn mưa quê người .

                                       PHI TUYẾT BA
 

Trời mưa hai đứa che chung một chiếc ô thì đã có vẻ ‘’văn minh tiến hoá ‘’ở mức cao rồi! Ông cụ bà kỵ ta xưa chỉ che chung một tàu lá chuối non thậm chí một cộng khoai môn bứt vội mà một ngày nào đấy không xa cũng quấn quýt vợ chồng .Có điều tại sao hai người lại che chung một cái ô trong cái thời gian môi giới tuyệt diệu’’trời đêm’’ nhỉ? Lai thêm’’chợt đổ cơn mưa ‘’nữa thì mới khéo làm sao ! Dẫu ông trời chỉ ‘’muốn đùa chút thôi’’ hay đùa dai cặp trẻ này cũng quá chừng  hạnh phúc  bởi ông đã làm tròn nhiệm vụ tạo dựng cơ sở ban đầu cho hai trẻ:
‘’Chưa thân
  mà dám đi đôi
    cũng liều !’’
Tôi cho rằng đợi đến đêm ông trời đùa cợt ‘’đổ cơn mưa’’ tạo cơ hội ‘’đường quê đi chật’’ không phải chỉ là sự khao khát  mong đợi của riêng anh chàng rắp ranh bắn sẻ mà có cả dụng tâm của cô nàng nữa vì cớ phụ nữ họ ý tứ lắm không đuểnh đoảng như cánh đàn ông  gặp vui là cứ ba hoa thiên địa để đến khi đêm dần buông, mưa mù bay mới quýnh quíu ra về .Cái cơ hội tạo đà cho sự gặp gỡ xem ra có vẻ rất tình cờ mấy anh con trai’’khờ khạo lắm ngu ngơ quá’’ làm sao mà phát hiện ra sự kín kẽ của cô nàng cho dược .
   ‘’Đường quê đi chật hai người’’
Đường quê ngày xưa thường chỉ nho nhỏ xinh xinh mấy khi có được con đường thênh thang mà dù có rộng bao nhiêu đi nữa cũng phải ‘’đi chật’’ trong hoàn cảnh chiéc ô che cho phép, nếu không muốn một trong hai người bị ướt.Chắc chắc không anh chàng galăng nào lại để cho người chung ô bị ướt dĩ nhiên phải hứng chịu cơn’’mưa tưới xiêu xiêu’’ về phía mình.Còn cô gái đi nhờ ô người ta lại nỡ nào  chiếm phần tiện nghi để người bạn đường ướt át thì coi sao tiện dù anh ta có tự nguyện chăng nữa thì sự nhân hậu của một người phụ nữ có văn hoá cũng không cho phép cô làm thế.Vì thế cho nên’’đi chật’’ là một việc làm phải đạo không ai cảm thấy mình không nên không phải trong tình huống này.Ai đã qua cái thời tuổi trẻ đi chung ô bên em trên con đường quê mưa tuôn, mưa xối  giưa trời đêm, mùi hương chanh hương bưởi trên tóc nàng bị gió quê truy đuổi phải trốn vào lồng ngực vạm vỡ  đầy khát khao của chàng trai mới  thấu cảm được giây phút thần tiên mà nhiều năm sau ‘’tuổi cao tóc bạc cái râu bạc’’ muốn tìm lại chỉ còn trong tuổi thơ ký ức xa mù.
   ‘’Cái ô nghiêng nhẹ
      theo chiều giọt mưa’’
‘’Gió mưa là bệnh của trời mà’’ nó rơi theo chiều nào mà chả được ,bổn phận anh con trai là phải nghiêng nhẹ cái ô theo chiều giọt mưa để em khỏi ướt.Mỗi lần nghiêng nhẹ như vậy…Phi Tuyết Ba không nói gì thêm bởi lòng tới rồi bút bất tất tới nữa mà chi ..Hãy để nó ở ngoài lời.
  ‘’Mình về …mang nợ cái ô
     Còn ta mắc nợ
    Cơn mưa quê người ‘’
Hai người chung ô ai cũng nợ cả ,một người mắc một người mang.Có gì khác nhau trong cách dùng từ của tác giả? Không khéo sự suy diễn của chúng ta trước đây  sai trật cả.Vì sao cô gái phải mang nợ mà chàng trai chỉ mắc nợ mà thôi? Bởi vì mắc nợ thì còn có ngày trả được chư nợ đã  mang  thì ‘’xuống tuyền đài’’ cũng vẫn chưa tan.Niềm vui đang rộ bỗng vội cắt ngang bởi một nét buồn ,hỉ kịch nhuốm màu bi kịch :Có thể một ngày không xa em sẽ lên xe hoa với người do mẹ cha em lựa chọn, đêm nay trời giúp em tạo ra cơ hội cho hai đứa được gần nhau một lần,chưa thân chớ nào phải chưa yêu  chắc  cô gái ấy có yêu chàng trai lắm lắm mới dám liều đi đôi như vậy.Cô sẽ mang nợ cái ô suốt đời mà không bao giở trả được.Cô mong người con trai ấy sẽ trả được món nợ ‘’cơn mưa quê người’’ với một hình bóng khác.Ấy là tôi nghĩ cô gái tự an ủi như vậy chứ chàng trai sẽ không bao giờ trả được. Suy cho cùng trong tình yêu đích thực mắc cũng là mang.

XÁC CHỮ HỒN ÂM

 Nhân đọc HOÀ ÂM ÂM ÂM ÂM  

        của Nguyễn Lương Vỵ  (Thư Ấn Quán 2007)
                                                                          Nguyễn Hàn Chung

Ngày còn ở Việt Nam  tôi chưa từng  quen biết Nguyễn Lương Vỵ dù cùng quê Quảng Nam  với anh ,khi sang Mỹ tôi cũng chưa hề gặp anh thi thoảng có email hoặc phone cho nhau ít câu thăm hỏi . Ấy là về người ,còn thơ thì tôi  có đọc anh theo lối cách không điểm huyệt  nghĩa là bài nào tôi thấy thâm hậu hồn nhiên ‘’ thấu tử cung cuộc sống’’  thì đào bới  ngôn âm  bài nào tôi thấy anh buông tuồng chữ nghĩa thì xin kính nhi viễn chi vậy . Anh mần thơ ra răng  xin mời bạn đọc  thấu thị xuyên tầng  cõi thơ ta bà tá hoả  anh  xào  xáo  ‘’theo cái máy động của trời đất’’
Thơ Vỵ  bỡn cợt một cách nghiêm cẩn giống như cô gái giang hồ say rượu nắm chắc cái lai quần trinh nguyên môt thuở bời bời dậm đạp :
‘’ Ta thấy ta quá cỡ sặc sừ
Câm trời nín đất nứ nừ nư
Ngọng nghịu mà thâm như cái đó
‘’(Một mình )
Đúng như tên gọi tuy  tập thơ đến  mấy chục bài chữ là chữ  Việt có ,Tây có,Quảng Nam pha rề có  nhưng  dường như chữ hơi bị  chìm trong huyệt tuyết  tinh  mà trỗi lên  chân khí huyền âm ,tinh âm, âm hao , âm mao  , âm sấm chẻ,hồn âm ,nhú âm cuồng , âm thạch động, âm đáy vực ,hoài âm hoài …. Nhưng trên hết ,cao hết  anh đã sử dụng vô lượng sát na thần công  hoà âm âm âm âm thành ảo âm  đến mức ‘’thơ dầm buốt nguyệt – tuyệt cùng như em tắt kinh’ . Tắt kinh để hoài thai  những câu thơ   ấm  ớ  cho vui  nhưng  đủ  lực  ngạo thị đất trời  vùi sinh dập tử lau chùi mênh mông .
Thi thoảng anh có những câu thơ động rung buốt lạnh từ sống lưng những thằng thơ lưu lãng ‘’ Một tiếng đàn vô thanh…Sợ xác no hồn đói ‘’ (Độc tấu I , Âm âm đáy vực )
 Nguyễn Tôn Nhan rất  thấu cảm thơ Vỵ  khi cho rằng chỉ thấy tính linh phải  đâu  là chữ . Chữ chỉ là xác ‘’tinh âm chìm trong dây-Hoà âm ghìm trong tay-Nở ra hoa tinh khí….Một vệt dài sinh tử ‘’(Hoà âm độc huyền cầm )
Phải có một cơ duyên nào đấy Nguyễn Lương Vỵ mới ngộ âm từ ‘’hạt bụi réo sinh linh’’ phải chăng từ một sợi lông của càn khôn tuý luý  anh làm thơ như ngẫu nhĩ trùng lai không vị bất cứ cái gì  mà là vị tất. Từ ngữ trong thơ anh cũ rích một cách vô cùng mới mẻ anh đi hồn nhiên trên lối mòn vần điệu của một gã tuý tiên hát âm thơ bằng giọng điệu quê nhà   xanh lè  ,sặc máuthương tưởng đến linh lung . Các bài ‘’Chân dung, Lửa và chữ, Hoà âm đại hồ cầm ,Hoà âm dương cầm xanh ,Bất tuyệt , nhân đọc  Thuỷ  mộ  quan … theo tôi đã đủ độ ‘’khạc hết máu tinh hoa-khạc hết máu tinh ma ‘’ trong  hồn âm  Nguyễn Lương Vỵ .
 Tôi cùng Vỵ một lứa bên trời lận đận trong nghề thợ đụng mưu   sinh trên đất Mỹ . May mà còn lại ít câu thơ để rồi đây tý ngọ  mẹo mùi xương tàn cốt rụi còn có cái để mà leo lét bay . Tôi cạn nghĩ chữ còn có thể mất chứ rốn âm rên rền tức tửi vẫn còn .

 Houston TX
08/11/07

ĐI TÌM ẨN SỐ TRONG MỘT BÀI CA DAO

’Ngó lên Hòn Kẽm đá dừng
Thương cha nhớ mẹ quá chừng bạn ơi
Thương cha nhớ mẹ thì về
Nhược bằng thương kiểng  nhớ quê thì đừng’’
    (Ca Dao Quảng Nam)

Rõ ràng ẩn số không hiện diện trong ba câu mở đầu,bởi sự nhắn nhủ đã rõ ràng minh bạch quá rồi.Nhìn lên đỉnh Hòn Kẽm với những vách đá dựng đứng nhấp nhô chạnh nỗi lòng thương cha nhớ mẹ quá chừng là một lẽ tự nhiên rất người.Ai xa quê mà không nhớ,chẳng những nhớ người thân mà còn nhớ đến từng gốc cây ngọn cỏ quê nhà.Người xưa chẳng đã từng ” Vân hoành Tần lĩnh gia hà tại” Tạm dịch ( Mây bay ngang núi Tần Lĩnh không biết nhà ta nơi nào- Địch Nhân Kiệt) được Nguyễn Du vận vào truyện Kiều ‘’Hồn quê theo ngon mây Tần xa xa ‘’đó sao!
             Dẫu là thi nhân hay một bác thường dân mộc mạc lúc lưu lạc quê người đối diện thiên nhiên hùng vĩ hoặc hoang sơ liêu tịch đều có thể :’’ nhớ quê nhà –nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương ‘’cả.Vì thế trong câu thơ thứ ba tác giả bài ca hồn nhiên khẳng định một cách chân chất rất Quảng ‘’thương cha nhớ mẹ thì về’’.Điều ấy không có gì để mà bàn song đến câu bốn thì xuất hiện ẩn so mà nếu không giải mã thì khó có thể tiếp nhận vào kho tàng ca dao đất Quảng. Sao lại có thể nói ‘’nhược bằng thương kiểng nhớ quê thì đừng’’.Đặt trong mối quân hệ ngữ nghĩa các điệp từ thương ,nhớ làm nhiệm vụ liên kết câu bằng phép lặp từ vựng ta không thể nghĩ tránh trớ nào khác về ngữ ‘’thì đừng’’.Đừng là đừng về quê kiểng dù có nhớ thương bao nhiêu chăng nữa chứ còn sao nữa?Lâu nay trong một số bài viết về Văn học dân gian đất Quảng khi có dịp nhắc đến bài ca dao này nhiều người lờ đi hai câu cuối vì thấy sự nghịch nghịch trai trái đó.Tôi trân trọng cách nói của  ông Mai Thúc Lân khi khơi mở cảm nhận về hai câu cuối này:’’Câu ca dao này nhắn nhủ những người xa quê một điều gì đó rất thâm thuý tế nhị mà mình không hiểu hết cái thâm thuý tế nhị đó.Vì sao thương cha nhớ mẹ thì về còn nhớ cảnh nhớ quê thì đừng.Vì đi lại tốn kém hay nguy hiểm chăng,hay vì một lẽ gì đó chỉ có người trong cuộc mới hểu được’’.Từ sự khơi gợi  ấy tôi xin đưa ra một cách tiếp cận 2 câu cuối bài ca dao này theo kênh cảm nhận mang tính chủ quan của riêng mình mong được các nhà nghiên cứu văn học và tất cả bạn viết trao đổi thêm.
        Tôi nghĩ đối tượng nhớ quê ,chủ thể trữ tình trong bài ca dao này chỉ có thể là người con gái miền xuôi hay miền biển gì đó bị cha mẹ gả chồng trên miền ngược .Cơ sở nào tôi dám xác định như thế? Nếu chỉ dừng lại ở 3 câu đầu thì không sao định vị đối tượng nhớ quê một cách chính xác .Ai mà không hoài nhớ quê hương cớ gì chỉ là một cô gái, khẳng định đối tượng thế này là khiên cưỡng.Chính vì sự thâm thuý tế nhị đó mà ta mới tìm ra ẩn số bài ca dao nằm trong cặp từ ‘’kiểng,quê’’.Tác giả đã hồn nhiên sử dụng thủ pháp mà lý luận mỹ học hiện đại gọi là phép ‘’lạ hoá’’ theo đó hiện tượng được miêu tả hiện ra không phải như ta quen nhìn nhận nó. ‘’quê.kiểng’’ phải được tiếp nhận theo một hàm nghĩa khác.Đó là những mối tình giữa trai và gái diễn ra trong bối cảnh cây đa, bến nước, sân đình của quê kiểng năm xưa ngày cô gái ấy còn son rỗi ,còn hẹn hò dấm dúi với tình lang.Bây giờ’’em đã có chồng-như chim vào lồng như cá cắn câu’’ dù có thương nhớ người xưa bao nhiêu chăng nữa thì cũng đừng về.Đặt bài ca dao trong bối cảnh xã hội phong kiến mới thấy lời nhắn nhủ ấy mang tính nhân văn sâu sắc. Người đàn ông sa chân thì còn gượng dậy được ,bởi họ có cái trật tự ngàn đời của xã hội phong kiến Nho giáo xúm vào đỡ chứ còn đàn bà nhất là đàn bà đã có chồng(dù là có chồng trong mối hôn nhân ép buộc )thì cái xã hội ấy sẽ nhân danh tiết hạnh vùi dập một cách không thương tiếc.Nhưng nói trắng ra thế nào được,tác giả bài ca dao đành nói tránh ra vậy.Sự thâm thuý tế nhị chính là ở đó.Muốn khám phá chiều sâu ẩn tàng của ngữ nghĩa phải nắm bắt đúng bản chất vấn đề .Có thế mới tránh cho con chữ khỏi bị hàm oan.

Thì em sẽ hiểu những lời lá dăm

TÂM TÌNH VỚI NGƯỜI ĐẾN SAU

Chắc là em giống tôi xưa
Dễ buồn vui với nắng mưa với mình
Chắc là em trẻ em xinh
Tóc mây một sợi kéo đình đổ xiêu
Chắc là em hạnh phúc nhiều
Khi ôm hoa tặng nhận điều hứa cho
Chắc là…
  sao ta đắn đo
Thương em,nói thật mà lo bời bời
Rồi mai hoa cải về trời
Thì em sẽ hiểu những lời lá dăm
                                                        Nguyễn Thị Mai

Từ giọng đến điệu không hề thấy một thoáng tưng tức nào chứ đừng nói đến những lời mỉa mai thường gặp ở những người phụ nữ đến trước rồi không hiểu vì một lẽ nào đó mà đường ai nấy đi.
  ‘’Chắc là em giống tôi xưa
Dễ buồn vui với nắng mưa với mình’’
Nói với tình địch nhưng người phụ nữ đến trước.chẳng chua ngoa một chút nào mà trái lại dịu dàng  khuyên răn em gái : Chị của em đã qua cái thời nông nỗi dễ buồn vui,ngày xưa chị cũng xinh  cũng trẻ như em ,cũng làm xiêu đình đổ quán’’tóc mây một sợi kéo đình đổ xiêu’’.Biết bao lần chị đã ngất ngây trong hạnh phúc khi người ấy’’ôm hoa tặng nhận điều hứa cho’’.Thế rồi…Nhưng chuyện ấy không thể tái diễn,chị không cam lòng dứt áo ra đi mà còn chờ đợi,chớ đợi điều gì em có biết không? Chờ người đến sau đấy! Chị không phải hạng đàn bà không ăn được thì đạp đổ, chị chờ em tới để thổ lộ với em một điều:””Rằng hồng nhan tự nghìn xưa’’ cũng là một kiếp đàn bà như nhau chị đã lỡ để ‘’sóng tràng giang lật thuyền’’ chị sợ rồi em lại dẫm lên con đường hạnh phúc đau khổ chị đã đi nên nán lại đợi em để gửi gấm một đôi lời …
 Có thể tất cả những điều nói trên đều là suy đoán chủ quan của một con chim bị tên hễ thấy cành cây nào cong cong là sợ hãi nếu tác giả không hạ một câu thơ gãy đôi:
  ‘’Chắc là…
    sao ta đắn đo’’
Điệp ngữ xuyên suốt là trong sáu câu thơ đầu đi liền một mạch tuy có giả định mà thật ra đã khẳng định cái điều tất yếu đã xảy ra với chị ngày trước-với em bây giờ song ngữ ‘’chắc là’’ở câu thứ bảy cộng thêm dấu chấm lửng mang tính chất giả định( chứ nếu lần này mà vẫn khẳng định thì chẳng còn gì để nói với em nữa đâu?) Tuy thế người phụ nữ nhân hậu ấy vẫn còn đắn đo,không biết người đến sau có hiểu lòng chị mà không vấp ngã hay vẫn xem chị’’ghen tuông  la øchuyện người ta thường tình’’.Chị tìm cách nói khéo bằng lối ví von của ca dao cổ:’’Rồi mai hoa cải về trời-Thì em sẽ hiểu những lời lá dăm’’.Cải biên một vài hình ảnh của người xưa gợi cho người đến sau cảm hiểu những lời lá dăm sẽ đắng cay, chua xót biết ngần nào nếu em nghĩ sai về chị để tấm thân trong trắng phải rơi vào bẫy tình.
 Trong bài thơ không thấy  bóng dáng một người đàn ông nào dẫu là thấp thoáng đi nữa thế mà tính cách nhân vật ẩn tàng nầyvẫn lộ rõ…Chị em nhỏ nhẹ nhắc nhau mà làm những tên chuyên nước trước bẻ hoa rồi sau đó quất ngựa truy phong phải giật mình vì chân tướng đã bại lộ.Những cô gái’’tóc mây một sợi’’trên đời này cũng đừng chủ quan nhan sắc của mình đủ sức ‘’kéo đình đổ xiêu’’ mà lơ là mất cảnh giác để đến khi hiểu đươc.’’những lời đã dăm’’ thì sự đã rồi.
Đọc ‘’Tâm tình với người đến sau ‘’của Nguyễn Thị Mai gợi người đọc nhớ đến người phụ nữ bao dung nhân hậu trong bài thơ ‘’Con đường’’ của Phan Thị Thanh Nhàn‘’Nếu cùng người mới dạo chơi -Xin anh tránh nẻi đường vui ban đầu’’ Có khác là một người van xin người đàn ông của cuộc tình không vẹn đừng làm khổ người ta như từng làm khổ em xưa,còn một người không thèm đá động đến người ấy mà chỉ nhắc nhở khuyên răn em mình…
Cả hai người phụ nữ  đều đáng yêu ,đáng quý bởi dù nói với ai,nói như thế nào tấm lòng thương yêu con người vô hạn của họ cũng đáng cho chúng ta khâm phục cảm kích..

binh trai tim mac can

TRÁI TIM MẮC CẠN

Dòng đời con nước vèo qua
Trái tim mắc cạn trong tà áo bay
Cỏn con một sợi lông mày
Mà đem cột trái đất này vào anh

Trần Mạnh Hảo
  

    ‘’Dòng đời con nước vèo qua’’
Câu lục đàu tiên là một lời nói thông thường ,nêú không nói môtíp so sánh khá mòn cũ.Ai có một chút chiêm nghiệm việc đời đều có thể  buông ra một lời cảm khái nhân sinh như thế huống hồ là nhà thơ –người nhạy cảm nhất với bước đi không ngoái lại của thời gian.Câu thơ đầu chỉ có giá trị dẫn dụ người đọc nhích tới gần nơi có đạo phục binh bằng phục bút.
     ‘’Trái tim mắc cạn trong tà áo bay’’
Câu bát này dụng ý kỹ thuật quá rõ.Hình ảnh thơ cũng không mới hơn cách nói của Nguyên Sa’’Hay là em gói mây trong áo’’.Mạch thơ đã lộ ra ngay từ hàm nghĩa từ vựng đầu tiên.Tuy nhiên kỳ binh mai phục vẫn còn ẩn tàng chưa lộ diện.Người đọc còn khổ công kiếm tìm.
   ‘’Cỏn con một sợi lông mày
Mà đem cột trái đất này vào anh’’
Hai câu cuối mới thực sự là ngón ‘’đà đao, là nhát thiên tài loé ở cuối câu’’(Chế Lan Viên ) tuôn trào ẩn ngữ trong mối quan hệ biến hoá mà đồng nhất.Tứ thơ không phải đã khác thường nhưng cách ngoa dụ khá độc đáo.Tác giả sử dụng động từ ‘’cột’’ thật diệu.Sợi lông mày cỏn con của một hình bóng tha nhân nào đó đã ‘’cột người mắc cạn với trái đất này.Đây là sự cột bắt buộc của tự nguyện nếu con người còn muốn sống cho đáng sống.Hình tượng ngôn từ có đôï sáng rõ, xuyên thấm,có sức khơi gợi,tác động vào những vỉa tầng khao khát ,cống hiến vốn là một thuộc tính cố hữu của  bất cứ con người nào. Mối quan hệ tương tác giữa hai vật thể cực nhỏ’’một sợi lông mạy’’ với một vật thể cực lớn’’trái đất này’’ có sự mê hoặc của từ ‘’cột’’ kết dính làm tăng độ phấn hứng của người cảm thụ.hoá giải sự xói mòn về đạo đức ,sự tha hoá về nhân cách của một số người thờ ơ vô trách nhiệm đối với chức năng người cao quý chỉ nhằm thoả mãn bản năng con đầy dục vọng.
 Bài thơ có 4 câu nhưng có đến 3 câu làm nhiệm vụ dọn đường để câu bát cuối cùng thực thi  sứ mệnh ‘’cột’’ lãng mạn và vinh quang.Tác dụng giáo dục của bài thơ rất lớn,giá trị nhân văn rất cao thế nhưng không hề thấy sự cao giọng giáo huấn nào trong ngôn ngữ thơ.Tác giả dẫn dắt chúng ta từng bước cảm nhận sự luân chuyển của thời gian,chiếm lĩnh cái đẹp hình thể đến cái đẹp vĩnh hằng,tự nguyện cột đời mình vào bao nhiêu ngang trái bất công trên trái đất này.
Bài thơ Trái tim mắc cạn sở dĩ neo đậu lâu dài trong người đọc chính là nhờ ở sự mắc cạn đến độ rất sâu của tấm lòng thi sĩ.Và khi đã thực thi sứ mạng ‘’giải bày tâm sự và tuyên truyền niềm tin’’(Phùng Quán) ta còn có thể đòi hỏi gì ở nhà thơ hơn nữa.

Năm mươi năm sợi tóc vẫn còn đen

SỢI TÓC

Em tặng tôi sợi tóc của em
Rồi ngày tháng vèo trôi em không nhớ nữa

Năm mươi năm sau
Khi tìm về chốn cũ
Tôi gặp một bà già tóc bạc
Bà chẳng biết tôi
Tôi tặng bà sợi tóc

Bà khóc

Sợi tóc vẫn còn đen

                                   Phạm Đình Ân
Bài thơ có vỏn vẹn có chín câu lại được tách thành 4 đoạn ,sự dồn nén năng lượng ở đoạn nào cũng có.Đoạn càng ít câu sự dồn nén càng mãnh liệt ép hình tượng ngôn từ đến độ tối giản rồi bung ra phía ngài lời.Dư ba ẩn tàng đâu đó xuyên thấm vào trái tim đa cảm của con người.Nấp sau lối kể, tả làm ra vẻ bình thường là nỗi nhớ đã được cao lại thành khối trong lòng chủ thể trữ tình.
  ‘’Em tặng tôi sợi tóc của em
  Rồi năm tháng vèo trôi ,em không nhớ nữa’’
Không phải chàng trai già ấy đoán sai đâu.Đọc tiếp đoạn sau mới thấy chàng trai cho rằng ‘’em không nhớ nữa’’ là có căn cứ hẳn hoi’’bà chẳng biết tôi mà’’! Mà em không nhớ người xưa cũng là một lẽ hằng thường bởi khi người con gái đã gánh giang san nhà chồng cũng là lúc gánh chất chồng bổn phận.Có khi sinh kế quẩn bách thuốc thang cơm cháo cho chồng, con và cả mình nữa mướt mồ hôi choán hết quỹ thời gian rồi làm gì còn nhớ đến cái buổi’’tơ liễu bóng chiều thướt tha ‘’ấy nữa.Chỉ có anh chàng ấp iu kỷ vật thì không bao giờ quên được .Anh lại đi tìm.

‘’ Năm mươi năm sau
Khi tìm về chốn cũ
Tôi gặp một bà già tóc bạc
Bà chẳng biết tôi
Tôi tặng bà sợi tóc’’
Nếu như người phụ nữ ấy quên sợi tóc của em(những năm mưôi năm vèo trôi kia mà) thì chẳng có gì để nói,bởi nửa trăm năm là khoảng thời gian quá dài đủ khẳng định đôi lứa ngày sấy đã ngót nghét lứa tuổi ‘’cổ lai hi’’.Khuôn mặt điển trai của chàng cũng đã muôn trùng sóng vỗ.Năm mươi năm vinh nhục thăng trầm cái đẹp hình thể tan biến mấy ai còn nhận ra nhau.Thế nhưng tại sao:
‘’Bà khóc’’
Bà khóc. Điều đó chứng tỏ kỷ vật năm xưa còn hằng đọng trong nỗi nhớ.ký ức dẫu rêu phong chứ không vùi lấp.Chàng đã nghĩ oan về nàng.Tiếng khóc của bà ẩn chứa biết bao hoài niệm,một khoảnh khắc đã trở thành vĩnh cữu.Có thể hình , tiếng vật chất của chàng trai ngày cũ bà không còn nhớ nữa nhưng sợi tóc tình ái ấy chắc bà không bao giờ quên.Nước mắt của những bà lão tóc sương không dễ gì rơi trong những trường hợp như thế này cho nên tiếng khóc bật ra như là hệ quả tất yếu của một nỗi niềm khắc khoải .
 Một lý do nữa để tiếng của bà lão vang lên là khi bà nhìn thấy’’sợi tóc vẫn còn đen’’,sợi tóc thanh xuân hay chính là sự vụt mất đã bền vững trước sự công phá của thời gian,còn sự gắn kết hữu hình phải  chấp chịu quy luật tàn phai  năm tháng’’có gì lạ quá đi thôi-khi gần thì mất xa xôi lại còn’’(Nguyễn Duy).Không biết sao khi đọc bài thơ này tôi cứ đoán bừa người vừa được tặng ‘’sợi tóc của em’’ trong bài thơ phải là thi sĩ mới đúng bởi nòi thi sĩ vừa lắm huê tình vừa rất chung tình.Họ có thể thay tình nhoay nhoáy với nhiều người nhưng vẫn khát tưởng ,đau đáu nhớ mong một người trong mối tình mù khơi vô vọng.Có phải thế chăng?
 

Kết thúc bài thơ ít nhiều có yếu tố kịch, một lớp kịch rất ấn tượng chắp cánh cho thơ ca.Bài thơ không thuyết lý dài dòng mà thông qua hình tượng ngôn từ bộc tỏ hình tượng tâm tư khẳng định cái đẹp vĩnh hằng của tình yêu chân chính.Câu thơ cuối cùng chồng khít lên doạn thơ là sự ngưng kết của tứ thơ,đọng lại và tan biến nhưng là sự tan biến xuyên thấm ,níu giữ sự thăng hoa trong tình yêu vủa mỗi đời người.

Bình Nhà khác của Nguyễn Thái Dương

                                     

      
Ba đã dặn lòng mình
Rằng phút hân hoan ấy
Cái phút giây con đi về nhà khác
Nơi không ba,không má,không em mình.

Không được buồn,không được nhớ,không nên…
Không thì không lòng không sao …không được !
Chỗ con ngủ,giờ,em con đến thức

Nó hôn vào hơi gối của chị Hai.
Má vẫn ngồi kia,hạt lệ má lăn dài

Theo tấm ảnh con đang ngồi trên vách

Cả nhà mình một niềm buồn rất thật

Cứ như hồn đang ở tận nhà kia
Rượu vu quy ba ngồi rót…đầm đìa

Môi chưa nhắp mà lòng ba đã cạn
Đêm đầu tiên xa con,ba bầu bạn
Với bóng mình để thầm nguyện đến khuya
Rằng người dưng trong ngôi nhà
chưa từng thân thuộc kia
Đối với con sẽ ruột rà yêu dấu
Bởi con sống một tuổi thơ hồn hậu
Thì theo chồng,con hạnh phúc-cố nhiên!

Khuya thì khuya mà đêm hãy còn đêm
Ai cũng thức cách gì ba chợp mắt.
Nhà đã khác,may lòng con không khác

Điện thoại reo,cả nhà cuống lên …giành.
                                                                  

Chuyện con gái lấy chồng để lại nỗi cô đơn trống vắng cho cả gia đình là chuyện quá đổi đời thường , ai có con gái đi lấy chồng nhất là lấy chồng xa mà không trải qua cảm giác điệp điệp… không… ấy của tác giả .Có điều nói lên thành thơ tạo đươc xúc  cảm thẩm mỹ trong lòng bạn đọc mới là cái tài của Nguyễn Thái Dương .Cả những chi tiết vụn vặt có tính kể lể rất nữ tính người ta đã dùng mòn cả thơ thế mà vào tay tác giả bỗng như mới :

‘’Chỗ con ngủ,giờ,em con đến thức
Nó hôn vào hơi gối của chị Hai.’’

Tôi nói không ngoa đâu, giả như tác giả không khéo xây dựng hình ảnh đứa em “đến thức’’mà cho nó đến ngủ nơi chị nó từng ngủ khi chưa đi lấy chồng ,  hôn vào gối của chị, hình ảnh thơ sẽ rơi vào độ nhàm của lối kể lể thông tục

.Mấy đoạn thơ sau  tuy chỉ thuần kể tả mà vẫn không rơi vào vần quen,điệu trống một chút nào.

                  ‘’Rượu vu quy ba ngồi rót… đầm đìa
                       Môi chưa nhắp mà lòng ba đã cạn’’

Mẹ của tân nương thì nhà thơ cho khóc thoải mái’’hạt lệ má lăn dài’’còn tác giả khóc nhớ con mà sợ bị quê nên giấu dòng nước mắt  trong dấu chấm lửng sau từ rót tuy có hay nhưng chưa được kỹ nên người đọc nào  dù vô tâm đến mấy cũng có thể nhận ra một cách dễ dàng.Theo tôi nghĩ  nhà thơ bớt dấu chấm lửng thì mạch thơ kín kẽ hơn nhiều bởi câu thơ kế tiếp đã nói hết  rôì’’môi chưa nhắp’’ thì rượu đâu mà đầm đìa kia chứ nếu không phải là nước mắt. Chỗ mà lòng tới rồi bút bất tất phải tới làm chi  nữa? Cũng chính vì thương con nên tác giả khẳng định một cáh võ đoán:

‘’Bởi vì con  sống một tuổi thơ hồn hậu

Thì theo chồng,con hạnh phúc-cố nhiên!’

Người cha ấy rất mực thương con ,hơn ai hết hiểu tính hạnh con gái mình nên mới dám khẳng định con mình làm dâu nhà ai cũng sẽ trong ấm ngoài êm sẽ có  hạnh phúc  bên chồng tuy nhiên khẳng định mà vẫn còn lo nên mới thêm vào sau dấu gạch ngang một từ’’cố nhiên’’.bênh ngay con gái khi chưa xảy ra cớ sự gì.
 
 
Chi tiết thú vị nằm ở cuối bài thơ ‘’Điện thoại reo,cả nhà cuống lên …giành’’.Đêm đã khuya lắm rồi,ai cũng thức có ai chịu ngủ đâu ? bởi ai cũng tưởng tượng ra cảnh con gái rượu của mình, chị Hai mình đang sống trong nhà khác không biết  buồn vui ra sao, ứng phó thế nào với ‘’những người dưng trong ngôi nhà chưa từng thân thuộc’’ Cả nhà không ai bảo ai đều  chăm bẳm chờ đợi tín hiệu từ máy điện thoại bởi vậy mới xảy ra cảnh ‘’cả nhà cuống lên giành’’ .Không cần viện đến nước mắt nó hơi có vẻ nghiêng về chất bi  một cách không cần thiết,chỉ cần một chi tiết nhỏ này người đọc đã cảm thấu được tình cảm ruột thịt của cả nhà với con sáo sang sông.

Một chuyện đời thường không có gì mới mẻ, nếu không nói là được đề cập rất  nhiều ở hầu hết các báo, tạp chí viết về đời sống gia đình đang phổ biến hiện nnay nhưng bằng tài hoavà sự chân thật xuất phát từ đáy lòng của người cầm bút, Nguyễn Thái Dương đã đánh động xúc  cảm, nói hộ điều ấp ủ trong lòng các bậc làm cha làm mẹ khi tiễn con về nha øchồng trong lòng người đọc .Sự thành công của Nhà khác chính là ở đó.
 
 
 
 

Cái hồng nhan tìm lạc trong bi

                                              Nguyễn Hàn Chung

Tự tình II

Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn
Trơ cái hồng nhan với nước non
Chén rượu hương đưa say lại tỉnh
Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn!
Xiên ngang mặt đất rêu từng đám
Đâm toạc chân mây đá mấy hòn
Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại
Mảnh tình san sẻ tí con con
   
                                Hồ Xuân Hương
Câu phá chưa có gì ghê gớm cả bởi trách nhiệm của nó là làm nền cho tứ thơ, một loại nền bị cơn lốc thời gian thúc giục ’’văng vẳng trống canh dồn’’ câu thừa kia mới bắt đầu khuấy động  kiếp nạn dập vùi vốn là dĩ mệnh của phận đàn bà lẽ mọn.
  ‘’Trơ cái hồng nhan với nước non’’
Ném từ trơ vào đầu câu là đã bức bối xót xa lắm rồi.Không ,thời gian ấy một người phụ nữ lẻ loi cô độc nghe tiếng trống sang canh dồn đuổi,ức hiếp nụ xuân tình rạo rực đã phản ánh  nỗi khát khao hạnh phúc vốn là một đặc quyền được hưởng của con người.Nhưng còn kinh khủng hơn khi tác giả kéo theo cụm từ ‘’cái hồng nhan’’ làm bổ ngữ cho động từ trơ tạo thành một vế câu ‘’trơ cái hồng nhan’’.Không còn là mảnh, tấm mà chỉ còn cái hồng nhan trơ tráo ,chai lì  mọi sự bởi chỉ cần cất lên hai tiếng hồng nhan đã thấy nỗi bạc mệnh ,đa truân hiển lộ ngay trong hàm nghĩa ngôn từ, huống hồ nữ sĩ lại dùng từ’’ cái’’ áp giải người đàn bà đi suốt tháng năm tuổi trẻ trong cảnh lạnh lùng của phận đời làm mướn không công.Chính vì thế người phụ nữ trong bài thơ mới ‘’dục phá thành sầu’’ bằng việc mượn chút hương nồng làm pháo thủ’:
  ‘’Chén rượu hương đưa say lại  tỉnh’’
Cổ nhân đã trải cảnh nâng chén tiêu sầu mà đời nào đặng bởi say rồi cũng đến lúc tỉnh’’khi tỉnh rượu lúc tàn canh’’ chính là lúc trái tim tỉnh thức hơn lúc nào hết.Nỗi sầu ngỡ như tiêu tán lúc này lại hiện về .Bệnh sầu sau mỗi lần tái phát sức công phá càng tăng lên gấp bội nhất là khi ‘’Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn’’.Tròn làm sao được khi cái ách nam quyền phong kiến đồ sộ ngàn đời cứ đày đoạ những mảnh  hồng quần liễu yếu đào thơ.Càng thương Bà chúa thơ Nôm biết bao khi bà dùng từ ‘’chưa’’. Chưa chứ đâu phải là không,trong tận cùng tâm thức của bà vẫn cứ le lói một niềm tin vào cái sự ‘’tròn’’ không tưởng ấy.Tuy nhiên chỉ cần một chút lạc quan kín đáo loé lên đã làm nhà thơ phấn chấn:
  ‘’Xiên ngang mặt đất rêu từng đám
            Đâm toạc chân mây đá mấy hòn’’
‘’Xiên ngang,đâm toạc’’những động từ cực mạnh phản ánh sự vùng cựa quẫy đạp của một con người ngồn ngộn sức sống,tràn trề sinh lực thế mà phải cam chịu ‘’trơ cái hồng nhan’’ trước một hiện thực khách quan tàn nhẫn không làm sao cải biến.Nỗi khát khao mãnh liệt không có đường đào thoát tác giả đành trốn lánh vào các từ ‘’xiên,toạc.đám.hòn’’.Phải chăng đó cũng là một thứ rượu chữ để làm khuây nỗi khát? Mà cũng nhờ thế đời mới  hưởng được chút dư hương của chủ nhân Cỗ Nguyệt Đường.
    ‘’Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại
                       Mảnh tình san sẻ tí con con’’
Người ta thường nói’’xuân bất tái lai’’ nữ sĩ họ Hồ lại nói ngược ‘’xuân đi xuân lại lại’’.Từ xuân đã được bà dùng một cách biến hoá ,xuân mà lạï ‘’ngán nỗi’’,xuân mà’’ lại lại’’ thì chắc hẳn từ xuân phải được cảm theo một hàm nghĩa khác có khi tương phản hoàn toàn với nghĩa vốn có của từ.Ta nghe đâu đây tiếng thở dài chua chát ‘’mảnh tình’’ chứ nào phải khối tình đồ sộ gì cho cam mà cũng bị san sẻ còn một ‘’tí con con’’.Tí con con thì làm sao bù đắp nỗi sự quẫy đạp bạo liệt của một trái tim khao khát sống,khao khát yêu đến độ muốn ‘’xiên ngang ’’muốn ‘’ đâm toạc’’ mọi ràng buộc khắt khe của thói đời.
 Tiềng gà, tiếng trống canh văng vẳng,tiếng mõ cốc, tiếng chuông om vang lên trong ba bài thơ Tự Tình của Hồ Xuân Hương khuấy động từ cổ nhân đến lai giả .Người phụ nữ tuy bị bao vây tứ phía bởi những tập tục cổ hủ, khắt khe truyền đời của xã hội nam quyền phong kiến, trong nỗi chua xót lẽ mọn trào dâng vẫn hóm hỉnh ,trào lộng.Và điều đó  cũng là cách thế sống của những ‘’cái hồng nhan ‘’ trong bi kịch đời mình.
                                           
 

Ban tron van chuong mang

Nhà thơ Triệu Từ Truyền (bìa phải): “Văn chương mạng vượt qua các rào cản”. Ảnh: PV

TTO – Với chủ đề “Văn chương mạng và website vannghesongcuulong.org”, Bàn tròn văn chương do Hội nhà văn Việt Nam (tại TP.HCM) tổ chức hôm 21-4 đã đánh giá nhiều mặt của dòng văn chương trên mang Internet hiện nay với các tác động trong đời sống văn chương nước nhà.

Văn chương mạng - có không?

Nhà thơ Lê Thiếu Nhơn mạnh dạn phát biểu rằng: Nếu nói văn chương mạng như chúng ta ở đây là nói cho sang thôi, chứ Việt Nam chưa hề có văn chương mạng. Văn chương mạng hiện nay thực chất chỉ là văn chương được chuyển lên mạng, và mạng Internet chỉ có tác dụng chuyển tải tác phẩm văn chương. Điều này gặp phải các phản ứng từ phía cử tọa là các blogger.

Một blogger đến từ diễn đàn ngoisaoblog.com cho biết hiện nay ở Việt Nam có nhiều người sáng tác văn chương trên mạng, họ không nhất thiết phải in thành sách, và họ vẫn chia sẻ đến được với các độc giả của mình. Điều này chứng tỏ có hiện tượng văn chương tồn tại trên mạng, được hình thành trên mạng, được tiếp nhận thông qua mạng, và như thế, có thể cho rằng loại hình văn chương mạng đang tồn tại.

Nhà thơ Inrasara - chủ trì hội thảo - nhận định thêm rằng: “Hiện nay người viết có “tâm thế mạng” và “tâm thế giấy”. Ở mỗi loại hình xuất bản, người viết có những cảm hứng khác nhau.

Nhà thơ Hồ Thi Ca trong tham luận của mình có bày tỏ một ý kiến rằng hầu hết các nhà văn Việt Nam hiện nay ít tham gia mạng Internet, ít biết sử dụng Internet và ông tích cực kêu gọi mọi người tham gia: “Tôi nghĩ bất kỳ tác giả nào cũng cần tối thiểu là trình độ lướt net phổ thông”. Nhấn mạnh hơn, Hồ Thi Ca cho rằng “có hai loại người không thể không lướt net là nhà thơ và nhà lãnh đạo”.

Điều này được đúc kết từ thực tế xử lý công việc hàng ngày của ông, nhưng nhà văn Lý Lan - người đọc trước tham luận của Hồ Thi Ca và e-mail về từ Mỹ – phản biện rằng: Việc “xài” mạng Internet hay dùng cây bút tờ giấy để viết văn thì cũng như nhau thôi, “cũng vò đầu bứt tóc rồi viết ra”, Lý Lan giải thích như vậy. Và chị nói thêm: “Chất lượng thành phẩm khi viết trên máy tính và viết trên giấy bằng bút bi thì có cái hay hơn có cái dở hơn, có lẽ là do sự trồi sụt của cảm hứng, chứ máy tính hay cây viết không đóng vai trò quan trọng lắm”. Lý Lan cũng nói: mình phân biệt giữa dùng máy tính và sử dụng Internet, máy tính tiện dụng cho nhà văn viết, còn Internet tiện dụng cho xuất bản.

Và một định nghĩa “xài được”

Văn chương mạng là gì? Mặc dù được nêu rõ trong thư mời, nhưng ban tổ chức đã bỏ quên khái niệm “văn chương mạng là gì ?” trong tham luận đề dẫn của nhà thơ Vũ Trọng Quang. Ông nêu lên “yếu tính của văn chương mạng hiện nay là sự nhanh nhạy của công nghệ Internet đang đối lập với tình hình chậm chạp của giới văn nghệ sĩ Việt Nam”, nhưng không làm rõ cái khái niệm “Văn chương mạng” đem ra bàn tròn lần này được hiểu như thế nào?

Điều này khiến cho nhà văn Triệu Xuân không đồng tình với nhà thơ Hồ Thi Ca và cho rằng: Việc nhà văn tham gia mạng Internet và chuyển tải văn chương lên mạng là những việc”sau văn chương”, vì “cái tôi muốn biết là văn chương mạng được hình thành thế nào, và nó khác với các thể loại văn chương truyền thống khác ra sao”.

Nhà thơ Hồ Thi Ca nêu ra sự khác nhau, ông chỉ ra: “Điểm khác biệt cơ bản nhất của văn học mạng là tính phổ biến rộng rãi của nó. Con số 500 hay 1.000 ấn bản của báo in chỉ là số lẻ của lượt người đọc 1 website văn học bình thường trên mạng. Và nếu đó là 1 trang web được thiết kế hoàn chỉnh thì độc giả ở bất kỳ nơi đâu trên trái đất này đều có thể ngay lập tức gởi góp ý, phê bình của mình đến tác giả. Đó là đặc điểm khác của văn học mạng: tính tương tác rất cao”. Nhưng cũng chính Hồ Thi Ca từ chối không nói về việc văn chương mạng phát sinh như thế nào.

Một nhà báo cho rằng: văn chương mạng là loại văn chương được sáng tác trên mạng, tồn tại trên mạng. Cách hiểu này được nhà văn Triệu Xuân đồng tình, và bổ sung: ”Văn chương trên mạng trước hết phải là văn chương, sau đó mới tới đặc điểm xuất bản đầu tiên trên mạng”.
Như vậy, một định nghĩa “hòm hòm” về văn chương mạng đã được bàn tròn đề xuất và thống nhất.

Ứng xử với “biển thông tin”

Mọi người đều nhìn nhận Internet mang lại tiện ích cho việc tra cứu tư liệu, góp phần tích cực cho sáng tác của các nhà văn. Nhưng ông Nguyễn Trung Bình - giám đốc Hội chợ quảng cáo Advfair.com - cho rằng với việc tung các tác phẩm văn chương lên mạng, người viết nhiều khi tập trung tâng bốc, nâng đỡ nhau, làm cho người ta ngộ nhận đó là văn chương đích thực.

Tuy nhiên, bà Nguyễn Thị Hậu - phó viện trưởng Viện nghiên cứu xã hội TP.HCM - cho rằng “văn chương mạng có sự bình đẳng về cơ hội xuất hiện trước công chúng và bình đẳng trong chịu đựng các va đập. Nếu tác phẩm nào “sống còn” qua va đập, thì đó là thành công”. Quả thật, đây cũng là một đặc tính thú vị của văn chương mạng.

Nhà văn Triệu Xuân lo ngại văn chương mạng dễ dàng gây cho tác giả sự ngộ nhận rằng có nhiều người đọc văn của mình, khi thấy số lượt truy cập vào trang web rất lớn. “Văn chương mạng còn đem lại sự bùng nổ về xuất bản trong tình hình hiện nay, nó chỉ có một rào cản, đó là rào cản về lương tri của người cầm bút, liệu thì anh có dễ dãi với chính anh không? Anh có tự bằng lòng với việc xuất bản quá dễ dàng mà đưa ra các tác phẩm tồi không? Nếu người cầm bút vượt qua được rào cản này thì quá tuyệt vời”.

Trong khi đó, nhà thơ Triệu Từ Truyền đưa ra “ba mặt của văn chương mạng” là: không lệ thuộc vào thời gian, quá khứ, hiện tại đều có thể đồng hiện trên một trang web; chia sẻ thông điệp văn chương cho khắp hành tinh, một người Việt ở Chile cũng có thể vào trang web vannghesongcuulong.org và biết ngay tình hình văn chương nước nhà; và văn chương mạng có khả năng vượt qua các rào cản (về tôn giáo, tư tưởng chính trị). Ông khẳng định đây là những ưu thế của văn chương mạng khiến cho loại hình này còn tiếp tục phát triển mạnh trong thời gian tới.

Vấn đề cuối cùng còn đọng lại chính là chuyện bản quyền của văn chương mạng. Môt blogger phát biểu tại hội thảo rằng: “Lúc đầu, tác giả muốn chia sẻ cho nhiều người tác phẩm của mình, nhưng sau khi đưa lên mạng, và trong tình trạng copy trích đăng như hiện nay, dần dần tác quyền bản gốc có nguy cơ bị mất và không kiểm soát được”.

Dù vậy, bàn tròn văn chương lần này cũng khép lại với một cách hiểu về văn chương mạng và những đánh giá tích cực dành cho loại hình văn học hãy còn mới mẻ ở Việt Nam nhưng hứa hẹn không ít triển vọng và đột phá.

Một số website văn chương hiện nay:

Ngẫu hứng Valentin

Nguyễn Hàn Chung

                                Ngẫu hứng Valentin

                                                               Ánh Tuyết
Valentin với ngưòi ta
Mình đâu còn thuở nhận hoa của người
Bồi hồi ,mình với mình thôi
Bước cao , bước thấp đường đời chênh vênh

Năm qua nhanh , tháng qua nhanh
Mới thôi đã lại mấp mênh cái già
Người như ảo ảnh phía xa
Mải mê, ta vớt trăng ngà đáy sông

Dốc bồ thương kẻ ăn đong
Xót cơn đại hạn, khát trông mưa rào
Hình như… xuân cũng cồn cào
Ngày Tình Yêu vẫn dạt dào tháng hai.
                                                 (Đánh thức than hồng –NXB Hội Nhà Văn 2005)
Thoạt tiên mới đọc 2 câu thơ mở đầu  bài thơ Ngẫu hứng Valentin của Ánh Tuyết in trên báo Văn Nghệ dù chưa hân hạnh quen biết  nữ thi sĩ tôi đã  võ đoán muốn nói  lời đôi co với tác giả   :. Tuổi nào là tuổi còn thuở nhận hoa của người tuổi nào thì mất quyền công dân tình yêu ? Theo thiển ý của kẻ này thì bất kỳ ở thuở tuổi nào cũng ‘’ còn ‘’cả .  Người trẻ  trung tươi như hoa  nhận  cái đẹp của hoa tươi , người già cỗi như hoa úa mà thậm chí hoa tàn nhận cái đẹp riêng của hoa tàn chẳng thế mà cụ Nguyễn Tiên Điền bật đèn xanh  cho chàng Kim thốt một lời nghịch lý mà thuận tình  đó sao :  ‘’hoa tàn mà lại thêm tươi- trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa ‘’ Tình yêu nào phải độc quyền của tuổi trẻ .  Nhà  thơ Phan Khôi đã từng  khơi mở quyền yêu của cặp tình xưa hom hem, héo hắt trong bài thơ Tình già bất hủ ‘’Hai mươi bốn năm sau ,tình cờ đất khách gặp nhau – Đôi cái đầu đều bạc’’  thế mà bất chấp cái  dâu bể hai mươi bốn năm trời họ vẫn còn ‘’ liếc đưa nhau đi rồi ,con mắt còn có đuôi ‘’.Còn sâu đậm hơn gấp bội lần việc nhận hoa của đôi trẻ đấy chứ! Thật thế , có khi  tình yêu đã lặm vào phế phủ  nó còn công phá ghê gớm gấp mấy lần cái tình yêu bùng phát mãnh liệt nhưng chóng lụi tàn của nam nữ thanh niên  ! Nghĩ thế mà nghe em than thở ‘’Bồi hồi mình với mình thôi- Bước cao, bước thấp đường đời chênh vênh ‘’anh vẫn thấy một nỗi xót xa không thể kìm nén .Em than oán cái gã thời gian vô tình ‘’ năm qua nhanh tháng qua nhanh ‘’ người con gái  ‘’Mới thôi đã lại mấp mênh cái già ‘’ để rồi bóng hình năm cũ  như ‘’ ảo ảnh phía xa’’ còn chủ thể trữ tình thì lại ‘’mải mê vớt trăng ngà đáy sông ‘’.Ai vớt , tác giả không nói rõ rành em hay là anh ,tác giả lại  hạ đại từ ta như là sự khái quát một quy luật vĩnh hằng tất yếu : không ai đủ sức ‘’lạy muôn vì tinh tú nhé –xin đừng luân chuyển để thời gian – chậm đi……”nên đành phải làm một công việc lãng mạn đấy ,thi vị đấy mà cũng đầy  xót xa cay đắng  bởi có ai dẫu là thi tiên họ Lý chăng nữa vớt bóng tìm xưa đặng nào ?
Câu thơ ‘’Dốc bồ, thương kẻ ăn đong ‘’tác giả cũng dùng lối nói phiếm chỉ không khẳng định ai dốc bồ bố thí cho kẻ ăn đong một chút cho tình yêu nhưng đến câu thơ tiép theo ‘’xót cơn đại hạn ,khát trông mưa rào ‘’thì cái tôi chủ thể buộc phải xuất đầu lộ diện Ai găp cơn đại hạn ,khát khao một trận mưa rào nữa nếu không phải là tác giả sau khi cúi thân vớt cái trăng ngà lên cồn cào một nỗi “xuân đi xuân lại lại’’khi bắt gặp cái ngày tình yêu  dạt dào tuôn chảy vào cái bồ tình yêu trống không trong tâm hồn nữ sĩ .
Mượn cái tiêu đề bài thơ Ngẫu hứng Valentin tác giả muốn  người đọc
hiểu rằng đây chỉ là phút ngẫu hứng nhất thời khi ngày tình yêu tới mà ta đã mấp mênh cái già không còn ai đoái hoài  đón đưa biếu, tặng  nữa phải chua xót  thốt  lên ‘’bồi hồi mình với mình thôi ‘’.nhưng rồi cuối cùng vẫn bộc tỏ sự lạc quan đáng kính nể khi tác giả tự khẳng định ‘’ Ngày Tình Yêu vẫn dạt dào tháng hai’’ ..Tháng hai  tình yêu của người  trẻ trung nồng nàn say đắm bao nhiêu thì tháng  hai  tình yêu của  người  già cũng cồn cào không kém đắm say bấy nhiêu mà có phần bền chặt hơn là đằng khác, không hơn sao’’ vẫn dạt dào tháng hai ‘’
                   Ngẫu hứng Valentin  của Ánh Tuyết cũng không đào thoát khỏi  môtip cảm khái tình yêu  ngoái lại thời trai trẻ của những người mải lo toan ‘’ áo xiêm ràng buộc ‘’ chợt một ngày nào đó cảm thấu bước đi không ngoái lại của thời gian mà bồi hồi ngẫm ngợi.  Thôi người ạ!Ai muốn bước cao bước thấp  hái  trái cấm vào thời gian nào còn  tuỳ thuộc vào thể trạng tình yêu, bản chất tình yêu của cái đường đời chênh vênh ấy . Tuy nhiên tôi muốn thầm thĩ  với tác giả Ngẫu hứng Valentin một câu này :Người nằm dưới đáy mộ sâu cả mấy  nghìn năm  còn thượng hưởng hoa hương của khách đa tình đời sau huống hồ…Đừng’’ hình như’’ , đừng ‘’cũng ,vẫn ‘’nghe nó miễn cưỡng và buồn làm sao ấy’’. Xin được chung vốn với tác giả mấy câu thơ của người bình “Bây giờ có thể người ta chán những người già đang yêu –Khi họ chiều- những người già không dám yêu mới làm ta chán ‘’.

XIN ĐỪNG ĐI VỚI MỘT NGƯỜI KHÁC EM

CON ĐƯỜNG

Nếu anh đi với người yêu
Chỉ xin anh nhớ một điều nhỏ thôi
Con đường ta đã dạo chơi
Xin đừng đi với một người khác em
Hàng cây nay đã lớn lên
Vươn cành lá để êm đềm chạm nhau
Hai ta ai biết vì đâu
Hai con đường rẽ xa nhau xa hoài

Nếu cùng người mới dạo chơi
Xin anh tránh nẻo đường vui ban đầu

                                         PHAN THỊ THANH NHÀN

 

Đã chia xa rồi ,yêu ai  đi với ai là quyền của anh,em có quyền gì đâu mà can thiệp vào chuyện riêng tư của ngươiø khác.Chỉ xin anh nhớ cho một điều’’một điều nhỏ thôi’’.Nhỏ mà lhông nhỏ một chút nào:’’Con đường ta đã dạo chơi-Xin đừng đi với một người khác em’’

 Đâu phải là sự ghen tuông đầy hệ luỵ của thói đàn bà? Sao người cũ lại nghiệt đến thế.Van xin mà còn hơn là cấm đoán.Con đường ta đã dạo chơi ấy là cõi riêng của cuộc tình đã mất là thánh địa tình yêu mà em là một tín đồ ngoan đạo.Anh không có quyền ‘’đi với một người khác em’’ để phá vỡ sự thiêng liêng em hằng cát giữ. Con đường ,hàng cây-chứng nhân của cuộc tình hai ta ‘’nay đã lớn lên’’ đã’’ vươn cành lá để êm đềm chạm nhau’’.Thế nhưng hai con người ‘’chân bên chân ,hồn bên hồn ‘’ấy lại ‘’rẽ xa nhau xa hoài’’.Thật buồn mà không biết vì đâu ! Từ con đường trong ký ức tác giả nâng lên thành con đường hình tượng của hai người bắt đầu từ ngã rẽ chia xa.

 Lan man trong chiều sâu kỷ niệm song cô gái không quên quay về hiện thực với lời nhắn nhủ’’Nếu cùng người mời dạo chơi-Xin anh tránh nẻo đường vui ban đầu’’.Vẫn là nẻo đường vui của mối tình đầu vụng dại dù nẻo đường vui ấy rồi cũng dẫn đến sự ly tan.Với em nẻo đường xưa ấy vô cùng quý giá.Xin anh đừng cùng với ai kia dẫm lên trái tim em.

 Có thể những lời tán trên đây là một hướng tiếp cận bài thơ “”Con đường’’ lâu nay của bạn đọc.Người viết bài này lại nghĩ đến một hướng tiếp cận khác.Cô gái nhỏ nhẻ ‘’xin’’ người tình cũ đến những ba lần.Lần đầu ‘’xin anh nhớ’’,lần thứ hai’’xin đừng đi’’ và lần thứ ba ‘’xin anh tránh’’.Quả có hơi lạ,thường những cuộc tình đã tan vỡ dù cho vì bất cứ nguyên nhân nào đi nữa người ta cũng tránh chạm mặt nhau hoặc gặp nhau là để  mát mẻ, trách móc, chua chát với nhau chứ mấy ai lại hạ mình ‘’xin’’ nhiều lần như vậy.Rõ ràng không phải xin  cho mình ,phẩm cách của người phụ nữ không cho phép cô gái làm thế.Lời xin lại có vẻ quyết liệt chứ không chịu nân nhượng một chút nào? Chỉ có một cách lý giải duy nhất là cô gái không  xin cho mình mà cho tha nhân –một cô gái  nào đó trong giả thiết là người mới của anh.Anh đã cùng em dạo chơi trên nẻo  đường vui dẫn đển sự ‘’xa nhau xa hoài’’ lại còn muốn tái diễn bi kịch với một người con gái khác nữa sao? Con đường ấy chỉ vui ban đầu và khổ về sau và người nhận chịu nhiều nhất vẫn là người phụ nữ.Vì thế van xin anh đừng đi,van xin anh tránh nó dể khỏi làm khổ người ta .

 Bài thơ thấm một sự cảm thông’’chút phâïn đàn bà’’ giữa hai người phụ nữ hoàn toàn xa lạ vì thế mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc.

Ngẫu hứng Valentin

  Ngẫu hứng Valentin

                                                                                                               Ánh Tuyết

Valentin với ngưòi ta
Mình đâu còn thuở nhận hoa của người
Bồi hồi ,mình với mình thôi
Bước cao , bước thấp đường đời chênh vênh

 

Năm qua nhanh , tháng qua nhanh
Mới thôi đã lại mấp mênh cái già
Người như ảo ảnh phía xa
Mải mê, ta vớt trăng ngà đáy sông

 

Dốc bồ thương kẻ ăn đong
Xót cơn đại hạn, khát trông mưa rào
Hình như… xuân cũng cồn cào
Ngày Tình Yêu vẫn dạt dào tháng hai.
 (Đánh thức than hồng –NXB Hội Nhà Văn 2005)

Thoạt tiên mới đọc 2 câu thơ mở đầu  bài thơ Ngẫu hứng Valentin của Ánh Tuyết in trên báo Văn Nghệ dù chưa hân hạnh quen biết  nữ thi sĩ tôi đã  võ đoán muốn nói  lời đôi co với tác giả   :. Tuổi nào là tuổi còn thuở nhận hoa của người tuổi nào thì mất quyền công dân tình yêu ? Theo thiển ý của kẻ này thì bất kỳ ở thuở tuổi nào cũng ‘’ còn ‘’cả .  Người trẻ  trung tươi như hoa  nhận  cái đẹp của hoa tươi , người già cỗi như hoa úa mà thậm chí hoa tàn nhận cái đẹp riêng của hoa tàn chẳng thế mà cụ Nguyễn Tiên Điền bật đèn xanh  cho chàng Kim thốt một lời nghịch lý mà thuận tình  đó sao :  ‘’hoa tàn mà lại thêm tươi- trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa ‘’ Tình yêu nào phải độc quyền của tuổi trẻ .  Nhà  thơ Phan Khôi đã từng  khơi mở quyền yêu của cặp tình xưa hom hem, héo hắt trong bài thơ Tình già bất hủ ‘’Hai mươi bốn năm sau ,tình cờ đất khách gặp nhau – Đôi cái đầu đều bạc’’  thế mà bất chấp cái  dâu bể hai mươi bốn năm trời họ vẫn còn ‘’ liếc đưa nhau đi rồi ,con mắt còn có đuôi ‘’.Còn sâu đậm hơn gấp bội lần việc nhận hoa của đôi trẻ đấy chứ! Thật thế , có khi  tình yêu đã lặm vào phế phủ  nó còn công phá ghê gớm gấp mấy lần cái tình yêu bùng phát mãnh liệt nhưng chóng lụi tàn của nam nữ thanh niên  ! Nghĩ thế mà nghe em than thở ‘’Bồi hồi mình với mình thôi- Bước cao, bước thấp đường đời chênh vênh ‘’anh vẫn thấy một nỗi xót xa không thể kìm nén .Em than oán cái gã thời gian vô tình ‘’ năm qua nhanh tháng qua nhanh ‘’ người con gái  ‘’Mới thôi đã lại mấp mênh cái già ‘’ để rồi bóng hình năm cũ  như ‘’ ảo ảnh phía xa’’ còn chủ thể trữ tình thì lại ‘’mải mê vớt trăng ngà đáy sông ‘’.Ai vớt , tác giả không nói rõ rành em hay là anh ,tác giả lại  hạ đại từ ta như là sự khái quát một quy luật vĩnh hằng tất yếu : không ai đủ sức ‘’lạy muôn vì tinh tú nhé –xin đừng luân chuyển để thời gian – chậm đi……”nên đành phải làm một công việc lãng mạn đấy ,thi vị đấy mà cũng đầy  xót xa cay đắng  bởi có ai dẫu là thi tiên họ Lý chăng nữa vớt bóng tìm xưa đặng nào ?

Câu thơ ‘’Dốc bồ, thương kẻ ăn đong ‘’tác giả cũng dùng lối nói phiếm chỉ không khẳng định ai dốc bồ bố thí cho kẻ ăn đong một chút cho tình yêu nhưng đến câu thơ tiép theo ‘’xót cơn đại hạn ,khát trông mưa rào ‘’thì cái tôi chủ thể buộc phải xuất đầu lộ diện Ai găp cơn đại hạn ,khát khao một trận mưa rào nữa nếu không phải là tác giả sau khi cúi thân vớt cái trăng ngà lên cồn cào một nỗi “xuân đi xuân lại lại’’khi bắt gặp cái ngày tình yêu  dạt dào tuôn chảy vào cái bồ tình yêu trống không trong tâm hồn nữ sĩ .

Mượn cái tiêu đề bài thơ Ngẫu hứng Valentin tác giả muốn  người đọc hiểu rằng đây chỉ là phút ngẫu hứng nhất thời khi ngày tình yêu tới mà ta đã mấp mênh cái già không còn ai đoái hoài  đón đưa biếu, tặng  nữa phải chua xót  thốt  lên ‘’bồi hồi mình với mình thôi ‘’.nhưng rồi cuối cùng vẫn bộc tỏ sự lạc quan đáng kính nể khi tác giả tự khẳng định ‘’ Ngày Tình Yêu vẫn dạt dào tháng hai’’ ..Tháng hai  tình yêu của người  trẻ trung nồng nàn say đắm bao nhiêu thì tháng  hai  tình yêu của  người  già cũng cồn cào không kém đắm say bấy nhiêu mà có phần bền chặt hơn là đằng khác, không hơn sao’’ vẫn dạt dào tháng hai ‘’

Ngẫu hứng Valentin  của Ánh Tuyết cũng không đào thoát khỏi  môtip cảm khái tình yêu  ngoái lại thời trai trẻ của những người mải lo toan ‘’ áo xiêm ràng buộc ‘’ chợt một ngày nào đó cảm thấu bước đi không ngoái lại của thời gian mà bồi hồi ngẫm ngợi.  Thôi người ạ!Ai muốn bước cao bước thấp  hái  trái cấm vào thời gian nào còn  tuỳ thuộc vào thể trạng tình yêu, bản chất tình yêu của cái đường đời chênh vênh ấy . Tuy nhiên tôi muốn thầm thĩ  với tác giả Ngẫu hứng Valentin một câu này :Người nằm dưới đáy mộ sâu cả mấy  nghìn năm  còn thượng hưởng hoa hương của khách đa tình đời sau huống hồ…Đừng’’ hình như’’ , đừng ‘’cũng ,vẫn ‘’nghe nó miễn cưỡng và buồn làm sao ấy’’. Xin được chung vốn với tác giả mấy câu thơ của người bình “Bây giờ có thể người ta chán những người già đang yêu –Khi họ chiều- những người già không dám yêu mới làm ta chán ‘’.

Ngẫu hứng Valentin

  Ngẫu hứng Valentin

                                                                                                               Ánh Tuyết

Valentin với ngưòi ta
Mình đâu còn thuở nhận hoa của người
Bồi hồi ,mình với mình thôi
Bước cao , bước thấp đường đời chênh vênh

 

Năm qua nhanh , tháng qua nhanh
Mới thôi đã lại mấp mênh cái già
Người như ảo ảnh phía xa
Mải mê, ta vớt trăng ngà đáy sông

 

Dốc bồ thương kẻ ăn đong
Xót cơn đại hạn, khát trông mưa rào
Hình như… xuân cũng cồn cào
Ngày Tình Yêu vẫn dạt dào tháng hai.
 (Đánh thức than hồng –NXB Hội Nhà Văn 2005)

Thoạt tiên mới đọc 2 câu thơ mở đầu  bài thơ Ngẫu hứng Valentin của Ánh Tuyết in trên báo Văn Nghệ dù chưa hân hạnh quen biết  nữ thi sĩ tôi đã  võ đoán muốn nói  lời đôi co với tác giả   :. Tuổi nào là tuổi còn thuở nhận hoa của người tuổi nào thì mất quyền công dân tình yêu ? Theo thiển ý của kẻ này thì bất kỳ ở thuở tuổi nào cũng ‘’ còn ‘’cả .  Người trẻ  trung tươi như hoa  nhận  cái đẹp của hoa tươi , người già cỗi như hoa úa mà thậm chí hoa tàn nhận cái đẹp riêng của hoa tàn chẳng thế mà cụ Nguyễn Tiên Điền bật đèn xanh  cho chàng Kim thốt một lời nghịch lý mà thuận tình  đó sao :  ‘’hoa tàn mà lại thêm tươi- trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa ‘’ Tình yêu nào phải độc quyền của tuổi trẻ .  Nhà  thơ Phan Khôi đã từng  khơi mở quyền yêu của cặp tình xưa hom hem, héo hắt trong bài thơ Tình già bất hủ ‘’Hai mươi bốn năm sau ,tình cờ đất khách gặp nhau – Đôi cái đầu đều bạc’’  thế mà bất chấp cái  dâu bể hai mươi bốn năm trời họ vẫn còn ‘’ liếc đưa nhau đi rồi ,con mắt còn có đuôi ‘’.Còn sâu đậm hơn gấp bội lần việc nhận hoa của đôi trẻ đấy chứ! Thật thế , có khi  tình yêu đã lặm vào phế phủ  nó còn công phá ghê gớm gấp mấy lần cái tình yêu bùng phát mãnh liệt nhưng chóng lụi tàn của nam nữ thanh niên  ! Nghĩ thế mà nghe em than thở ‘’Bồi hồi mình với mình thôi- Bước cao, bước thấp đường đời chênh vênh ‘’anh vẫn thấy một nỗi xót xa không thể kìm nén .Em than oán cái gã thời gian vô tình ‘’ năm qua nhanh tháng qua nhanh ‘’ người con gái  ‘’Mới thôi đã lại mấp mênh cái già ‘’ để rồi bóng hình năm cũ  như ‘’ ảo ảnh phía xa’’ còn chủ thể trữ tình thì lại ‘’mải mê vớt trăng ngà đáy sông ‘’.Ai vớt , tác giả không nói rõ rành em hay là anh ,tác giả lại  hạ đại từ ta như là sự khái quát một quy luật vĩnh hằng tất yếu : không ai đủ sức ‘’lạy muôn vì tinh tú nhé –xin đừng luân chuyển để thời gian – chậm đi……”nên đành phải làm một công việc lãng mạn đấy ,thi vị đấy mà cũng đầy  xót xa cay đắng  bởi có ai dẫu là thi tiên họ Lý chăng nữa vớt bóng tìm xưa đặng nào ?

Câu thơ ‘’Dốc bồ, thương kẻ ăn đong ‘’tác giả cũng dùng lối nói phiếm chỉ không khẳng định ai dốc bồ bố thí cho kẻ ăn đong một chút cho tình yêu nhưng đến câu thơ tiép theo ‘’xót cơn đại hạn ,khát trông mưa rào ‘’thì cái tôi chủ thể buộc phải xuất đầu lộ diện Ai găp cơn đại hạn ,khát khao một trận mưa rào nữa nếu không phải là tác giả sau khi cúi thân vớt cái trăng ngà lên cồn cào một nỗi “xuân đi xuân lại lại’’khi bắt gặp cái ngày tình yêu  dạt dào tuôn chảy vào cái bồ tình yêu trống không trong tâm hồn nữ sĩ .

Mượn cái tiêu đề bài thơ Ngẫu hứng Valentin tác giả muốn  người đọc hiểu rằng đây chỉ là phút ngẫu hứng nhất thời khi ngày tình yêu tới mà ta đã mấp mênh cái già không còn ai đoái hoài  đón đưa biếu, tặng  nữa phải chua xót  thốt  lên ‘’bồi hồi mình với mình thôi ‘’.nhưng rồi cuối cùng vẫn bộc tỏ sự lạc quan đáng kính nể khi tác giả tự khẳng định ‘’ Ngày Tình Yêu vẫn dạt dào tháng hai’’ ..Tháng hai  tình yêu của người  trẻ trung nồng nàn say đắm bao nhiêu thì tháng  hai  tình yêu của  người  già cũng cồn cào không kém đắm say bấy nhiêu mà có phần bền chặt hơn là đằng khác, không hơn sao’’ vẫn dạt dào tháng hai ‘’

Ngẫu hứng Valentin  của Ánh Tuyết cũng không đào thoát khỏi  môtip cảm khái tình yêu  ngoái lại thời trai trẻ của những người mải lo toan ‘’ áo xiêm ràng buộc ‘’ chợt một ngày nào đó cảm thấu bước đi không ngoái lại của thời gian mà bồi hồi ngẫm ngợi.  Thôi người ạ!Ai muốn bước cao bước thấp  hái  trái cấm vào thời gian nào còn  tuỳ thuộc vào thể trạng tình yêu, bản chất tình yêu của cái đường đời chênh vênh ấy . Tuy nhiên tôi muốn thầm thĩ  với tác giả Ngẫu hứng Valentin một câu này :Người nằm dưới đáy mộ sâu cả mấy  nghìn năm  còn thượng hưởng hoa hương của khách đa tình đời sau huống hồ…Đừng’’ hình như’’ , đừng ‘’cũng ,vẫn ‘’nghe nó miễn cưỡng và buồn làm sao ấy’’. Xin được chung vốn với tác giả mấy câu thơ của người bình “Bây giờ có thể người ta chán những người già đang yêu –Khi họ chiều- những người già không dám yêu mới làm ta chán ‘’.

SÓNG CỦA XUÂN QUỲNH

 SÓNG

Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ
Sóng không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể

Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thế
Nỗi khát vọng tình yêu
Bồi hồi trong ngực trẻ

Trước muôn trùng sóng bể
Em nghĩ về anh, em
Em nghĩ về biển lớn
Từ nơi nào sóng lên?

- Sóng bắt đầu từ gió
Gió bắt đầu từ đâu?
Em cũng không biết nữa
Khi nào ta yêu nhau

Con sóng dưới lòng sâu
Con sóng trên mặt nước
Những con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được
Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức

Dẫu xuôi về phương Bắc
Dẫu ngược về phương Nam
Nơi nào em cũng nghĩ
Hướng về anh – một phương

Ở ngoài kia đại dương
Trăm nghìn con sóng đó
Con nào chẳng tới bờ
Dẫu muôn vời cách trở
Cuộc đời tuy dài thế
Năm tháng vẫn đi qua
Như biển kia dẫu rộng
Mây vẫn bay về xa
Làm sao được tan ra
Thành trăm con sóng nhỏ
Giữa biển lớn tình yêu
Đễ ngàn năm còn vỗ  

                                                                     XUÂN QUỲNH
Hình ảnh sóng trong thơ ca vốn không xa lạ gì với người yêu thơ nên không nói là quá quen thuộc đến độ nghĩ tới sóng lànghĩ tới tình yêu.Chọn một hình ảnh không mấy mới mẻ như thế để gửi gấm ‘’Nỗi khát vọng tình yêu-Bồi hồi trong ngực trẻ’’Xuân Quỳnh đã rất tự tin vào bản lĩnh nghệ thuật của mình đủ lực phả hồn vào sóng tạo sự xuyên thấm,khắc sâu vào tâm khảm người đọc về một tình yêu đích thực.
 Dữ dội ,dịu êm.ồn ,ào,lặng lẽ –một loạt các tính từ là thuộc tính đối sánh nhau của sóng.Thế nhưng sóng hay là hoá thân của cái tôi trữ tình vẫn ‘’không hiểu nổi mình vẫn tìm ra tận bể’’.Thủ pháp nghệ thuật lấy quen nói lạ tạo cho người đọc sự ngạc nhiên hiếu kỳ trước một cách nhìn mới ẩn tàng một sự khao khát mãnh liệt nào đó.Xuân Quỳnh phả hồn vào sóng nhưng chị không hiếp đáp ngôn từ chị trao sóng vào tay em để cả hai cùng là ẩn dụ song hành.Bằng chứng rõ ràng nhất là sau khi nêu hàng loạt dụ ngôn về sóng nhà thơ thảng thốt :’’Oâi con sóng nhớ bờ-Ngày đêm không ngủ được ‘’.Chị lại dìu em lên trang giấy’’Lòng em nhớ đến anh-Cả trong mơ còn thức’’.Người hời hợt tưởng chị rườm lời nhưng khi đã đọc được đời chị với những nếm trải đổ vỡ mới hiểu cách nói trực tiép của chị  là để thoả một tình yêu phụng hiến.Biện pháp ngoa dụ tăng cấp thu hút sự đồng cảm của con người vào trạng thái hưng phấn của chủ the åta còn gặp ở Thuyền và Biển ‘’Nếu từ giã thuyền rồi-Biển chỉ còn sóng gió-Nếu phải cách xa anh-Em chỉ còn bão tố’’.Có người cho rằng Xuân Quỳnh gặp cái điều mà Xuân Diệu từng băn khoăn tự hỏi’’Làm sao cắt nghĩa được tình yêu’’.Tôi nghĩ Xuân Quỳnh có gặp nhưng rồi chị rẽ đi hướng khác.Xuân Diệu nói không thể mà có thể bởi ông đã nêu ra cái hệ quả tất yếu’’Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt –Bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu’’ còn Xuân Quỳnh phủ định cái nầy để khẳng định cái kia ‘’Em cũng không biết nữa- Khi nào ta xa nhau’’.Sự độc đáo của Sóng còn ở chỗ Xuân Quỳnh tháo tung ngược xuôi phương hướng của không gian dể  khắc cốt một phương hướng con người’’Dẫu xuôi về phương Bắc-Dẫu ngược về phương Nam-Nơi nào em cũng nghĩ-Hướng về anh một phương’’Xuân Quỳnh đã tuyệt đối hoá sự thuỷ chung trong tình yêu thành tấm gương soi cho bao đôi lứa.Vẻ đẹp của tứ thơ làm sáng giá bài thơ.
 Sóng của Xuân Quỳnh chính là sự thăng hoa những cảm xúc trầm sâu của người  nghệ sĩ.Mỗi câu thơ đều có tính độc lập nội tại trở thành mô hình tâm hòn của người sáng tác.Chỉ ở Sóng Xuân Quỳnh mới đủ lực tái tạo giọng thơ mang sắc thái cá nhân rõ nét :Chất hồn nhiên đằm thắm mà không kém phần khát khao bạo liệt.Những tố chất ấy đã tạọ Xuân Quỳnh một chỗ đứng vững chãi trong làng thơ tình Việt Nam đương đại một dáng vẻ độc đáo thật sự riêng biệt.Tài nghệ của chị là với một đề tài muôn thuở với những sáo mòn  quen thuộc chị đã thành một biển sóng với những thăng hoa mới mẻ chắp cánh cho những đôi tình nhân trên đời sóng bước vào thế giới vĩnh cữu của tình yêu.

SÓNG CỦA XUÂN QUỲNH

 SÓNG

Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ
Sóng không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể

Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thế
Nỗi khát vọng tình yêu
Bồi hồi trong ngực trẻ

Trước muôn trùng sóng bể
Em nghĩ về anh, em
Em nghĩ về biển lớn
Từ nơi nào sóng lên?

- Sóng bắt đầu từ gió
Gió bắt đầu từ đâu?
Em cũng không biết nữa
Khi nào ta yêu nhau

Con sóng dưới lòng sâu
Con sóng trên mặt nước
Những con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được
Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức

Dẫu xuôi về phương Bắc
Dẫu ngược về phương Nam
Nơi nào em cũng nghĩ
Hướng về anh – một phương

Ở ngoài kia đại dương
Trăm nghìn con sóng đó
Con nào chẳng tới bờ
Dẫu muôn vời cách trở
Cuộc đời tuy dài thế
Năm tháng vẫn đi qua
Như biển kia dẫu rộng
Mây vẫn bay về xa
Làm sao được tan ra
Thành trăm con sóng nhỏ
Giữa biển lớn tình yêu
Đễ ngàn năm còn vỗ  

                                                                     XUÂN QUỲNH
Hình ảnh sóng trong thơ ca vốn không xa lạ gì với người yêu thơ nên không nói là quá quen thuộc đến độ nghĩ tới sóng lànghĩ tới tình yêu.Chọn một hình ảnh không mấy mới mẻ như thế để gửi gấm ‘’Nỗi khát vọng tình yêu-Bồi hồi trong ngực trẻ’’Xuân Quỳnh đã rất tự tin vào bản lĩnh nghệ thuật của mình đủ lực phả hồn vào sóng tạo sự xuyên thấm,khắc sâu vào tâm khảm người đọc về một tình yêu đích thực.
 Dữ dội ,dịu êm.ồn ,ào,lặng lẽ –một loạt các tính từ là thuộc tính đối sánh nhau của sóng.Thế nhưng sóng hay là hoá thân của cái tôi trữ tình vẫn ‘’không hiểu nổi mình vẫn tìm ra tận bể’’.Thủ pháp nghệ thuật lấy quen nói lạ tạo cho người đọc sự ngạc nhiên hiếu kỳ trước một cách nhìn mới ẩn tàng một sự khao khát mãnh liệt nào đó.Xuân Quỳnh phả hồn vào sóng nhưng chị không hiếp đáp ngôn từ chị trao sóng vào tay em để cả hai cùng là ẩn dụ song hành.Bằng chứng rõ ràng nhất là sau khi nêu hàng loạt dụ ngôn về sóng nhà thơ thảng thốt :’’Oâi con sóng nhớ bờ-Ngày đêm không ngủ được ‘’.Chị lại dìu em lên trang giấy’’Lòng em nhớ đến anh-Cả trong mơ còn thức’’.Người hời hợt tưởng chị rườm lời nhưng khi đã đọc được đời chị với những nếm trải đổ vỡ mới hiểu cách nói trực tiép của chị  là để thoả một tình yêu phụng hiến.Biện pháp ngoa dụ tăng cấp thu hút sự đồng cảm của con người vào trạng thái hưng phấn của chủ the åta còn gặp ở Thuyền và Biển ‘’Nếu từ giã thuyền rồi-Biển chỉ còn sóng gió-Nếu phải cách xa anh-Em chỉ còn bão tố’’.Có người cho rằng Xuân Quỳnh gặp cái điều mà Xuân Diệu từng băn khoăn tự hỏi’’Làm sao cắt nghĩa được tình yêu’’.Tôi nghĩ Xuân Quỳnh có gặp nhưng rồi chị rẽ đi hướng khác.Xuân Diệu nói không thể mà có thể bởi ông đã nêu ra cái hệ quả tất yếu’’Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt –Bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu’’ còn Xuân Quỳnh phủ định cái nầy để khẳng định cái kia ‘’Em cũng không biết nữa- Khi nào ta xa nhau’’.Sự độc đáo của Sóng còn ở chỗ Xuân Quỳnh tháo tung ngược xuôi phương hướng của không gian dể  khắc cốt một phương hướng con người’’Dẫu xuôi về phương Bắc-Dẫu ngược về phương Nam-Nơi nào em cũng nghĩ-Hướng về anh một phương’’Xuân Quỳnh đã tuyệt đối hoá sự thuỷ chung trong tình yêu thành tấm gương soi cho bao đôi lứa.Vẻ đẹp của tứ thơ làm sáng giá bài thơ.
 Sóng của Xuân Quỳnh chính là sự thăng hoa những cảm xúc trầm sâu của người  nghệ sĩ.Mỗi câu thơ đều có tính độc lập nội tại trở thành mô hình tâm hòn của người sáng tác.Chỉ ở Sóng Xuân Quỳnh mới đủ lực tái tạo giọng thơ mang sắc thái cá nhân rõ nét :Chất hồn nhiên đằm thắm mà không kém phần khát khao bạo liệt.Những tố chất ấy đã tạọ Xuân Quỳnh một chỗ đứng vững chãi trong làng thơ tình Việt Nam đương đại một dáng vẻ độc đáo thật sự riêng biệt.Tài nghệ của chị là với một đề tài muôn thuở với những sáo mòn  quen thuộc chị đã thành một biển sóng với những thăng hoa mới mẻ chắp cánh cho những đôi tình nhân trên đời sóng bước vào thế giới vĩnh cữu của tình yêu.

LẶNG THẦM MÀ CHÍN VÀO TRONG

Nhan sắc ,thường do trời ban cho
Người đàn bà coi như báu vật
Họ thường tiêu xài nhan sắc của mình
Tuỳ theo mỗi số phận

Nhan sắc em là giấc ngủ nồng của con
Là sự tảo tần đêm mưa chờ chồng
Là sớm khuya thân cò lặn lội
Một đời dầm dãi gió sương

Nhan sắc em chín lịm vào trong
Như quả ngọt đồng làng
Như tầng tầng câu thơ đa nghĩa
Mơ hồ một cõi mênh mang

Em đâu phải hồng nhan
Mà trời trao phận bạc
Thơ tôi không làm  thêm nhan sắc
Em cứ lặng thầm mà chín vào trong

Trời không cho đời không ban
Em làm nên nhan sắc riêng mình…

   Nguyễn Ngọc Hạnh
  ( Thơ tình Việt Nam TK XX)

 

‘’Thường do trời ban cho
Người đàn bà coi như báu vật’’

Cứ tưởng tác giả nói ra cái điều mà nam phụ lão ấu biết rõ mười mươi như thế này là không kiệm lời nhưng ngẫm sâu ,suy kỹ mới thấy hai câu mở làm tốt sự phân vai người dẫn chuyện  để đi đến kết tứ nâng tầng hàm nghĩa nhan sắc lên một chiều kích khác biểu lộ ý đò nghệ thuật của tác giả:

   ‘’Họ thường tiêu xài nhan sắc của mình 
    Tuỳ theo mỗi số phận’

Thông thường cái gì mà người đàn bà coi như báu vật  thì không bao giờ họ tiêu xài phung phí đã đành mà còn gìn vàng giữ ngọc ghê lắm cớ sao tác giả lại sử dụng động từ ‘’tiêu xài’’ để gán cho họ nhỉ ? Cho dù tác giả có giải thích thêm ‘’tuỳ theo mỗi số phận’’ thì thiển nghĩ những người phụ nữ cũng không chấp nhận đâu! .Rõ đây là một cách nói thách để quý bà quý cô buộc phải thâm nhập sâu vào ngôn ngữ thơ bởi có thâm nhập sâu vào mới  hiểu sự đối sánh các ý niệm  về các hiện tượng của thực tại đã được  tác giả biểu đạt theo lối nghịch dị, hàm nghĩa từ vựng không dừng lại ở cấp độ câu ,đoạn mà còn bao quát chỉnh thể  tác phẩm vượt qua lối duy danh định ghĩa thông thường để xuất hiện một nội dung ý nghĩa mới :

‘’ Nhan sắc em là giấc ngủ nồng của con
  Là sự tảo tần đêm mưa chờ chồng’’
   ‘’ Như quả ngọt đồng làng
 Như tầng tầng câu thơ đa nghĩa’’

Thế là ta đã cảm thấu hàm nghĩa phúng dụ của nhan sắc,nó không còn đơn thuần là cái đẹp hình thể mà đã ‘’chín lịm vào trong’’.Tác giả trưng ra hai tấm nhan sắc họ và em đối sánh nhau .Họ không biết dành dụm cái vốn trời ban kia còn em của tác giả đã hoá thân thành đức hạnh ‘’đánh chết cái đẹp’’ hình thể .Có điều tôi hơi phân vân là khi tác giả viết ‘’em đâu phải hồng nhan –mà trời trao phận bạc’’ phải chăng tác giả muốn ca ngợi sự ‘’lặng thầm mà chín vào trong’’ của em nhưng không khéo có khi sẽ làm em giận mà giận cả đời nữa cơ đấy! .Trời có trao phận bạc chăng nữa thì em vẫn cứ chấp nhận ‘’năm thì mười hoạ hay chăng chớ’’ gồng gánh gian nan chứ tước đi cái hồng nhan thì tôi đoan chắc không một người phụ nữ nào cam chịu .Tước đi cái báu vật ấy thì tạo hoá sinh hạ cái đẹp của nữ nhân còn để làm gì ? .Họ đâu phải hồng nhan thật đấy nhưng phải để họ tự bạch chứ anh nhà thơ mà nói hộ là không xong vơi họ đâu.Nhưng thôi mong quý bà quý cô  cảm thông cho thi sĩ ‘’chỉ vì yêu quá đấy mà thôi’’
  
Tài hoa như cụ Nguyễn Tiên Điền còn phải ‘’Đẻ Thuý Kiều ra từ trái tim mình “(Xuân Diệu) để gửi gấm niềm riêng nữa là  …. ‘’Trời không cho đời không ban’’  thì dù có là anh hay là em cũng phải tự thân vận động làm nên’’ nhan sắc của riêng mình ‘’.Nhan sắc nào mà chẳng phù du tiêu ma chỉ tấm nhan sắc  vắt ra từ trái tim phụng hiến cuộc đời hoạ khi còn có chút cơ may tồn tại…

THỜI GIAN KÝ ỨC TRONG THĂNG LONG

THỜI GIAN KÝ ỨC TRONG
  THĂNG LONG
Nguyên tác
Tản lĩnh Lô giang tuế tuế đồng
Bạch đầu do đắc kiến Thăng Long
Thiên niên cự thất thành quan đạo
Nhất kiến cô thành một cố cung
Tương thức mỹ nhân khan bảo tử
Đổng du hiệp thiếu tẫn thành ông
Quan tâm nhất dạ khổ vô thuỵ
Đoàn địch thanh thanh minh nguyệt trung
  NGUYỄN DU

Bản dịch thơ

Sông Lô núi Tản còn đây
Thăng Long tái ngộ giữa ngày tóc sương
Nhà cao giờ đã là đường
Cung rêu đâu nữa chỉ còn thành trơ
Người xưa bồng bế con thơ
Bạn chơi ngày cũ bây giờ thành ông
Trắng đêm ngẫm sự vô cùng
Tiếng trăng tiếng sáo giưã từng không rơi
 

Mười năm lưu lạc Tố Như mới có dịp trở về lại Thăng Long thành nơi đánh dấu biết bao nhiêu kỷ niệm thời trai trẻ của một câu ấm con nhà thế gia vọng tộc.Mười năm gió bụi lúc làm Hồng Sơn liệp hôj dọc ngang 99 ngọn núi Hồng Lĩnh,lúc xuống biển Đông làm một gã Nam Hải điếu đồ lúc nào nỗi nhớ Thăng Long cũng cồn cào tấc đạ.Bây giờ về lại cõi xưa đứng trước dòng thời gian sông Lô tuôn chảy,núi Tản cao vút từng không nhà thơ thảng thốt:

  ‘’Tản Lĩnh Lô Giang tuế tuế đồng
  Bạch đầu do đắc kiến Thăng Long’’

Non xanh,nước biếc còn trơ ra đó,vẫn như xưa,chỉ có người trở lại đã là khách ‘’bạch đầu’’ may mà còn thấy lại đế đô văn vật .Cụm từ ‘’do đắc kiến’’ với hai thanh trắc đi liền nhau cất lên như một sự reo vui của ngày tái ngộ trong sự phấn cảm về sự nổi trôi,sa sút của một đời người danh sĩ.
Hai câu thực khắc hoạ một nét hiện thực,một cảm thức về bước đi của thời gian ‘’thương hải’’

  ‘’Thiên niên cự thất thành quan đạo
  Nhất kiến cô thành một cố cung’’

Hình tượng thơ gợi nhớ đến ‘’Phụng Hoàng Đài’’ của Lý Bạch:’’Ngô cung hoa cỏ mai u kính-Tấn đại y quan thành cổ khâu’’.Mối đồng cảm cua thi nhân về dòng vận động vô thỉ vô chung của thời gian dù lúc nào con người cũng sinh tồn trong thời hiện tại.Bao nhiêu ‘’thiên niên,, cự thất ‘’ rồi cũng thành quan đạo cả thôi mà! Cả cố cung Thăng Long với đền đài lâu các vĩ đại là thế nay chỉ còn một tấm cô thành.Thời gian mang dấu ấn của vũ trụ ngược về quá khứ, trào dâng một mối cảm hoài ‘’hoa ốc sơn khâu’’(Chữ dùng của Tào Thực).Cự thất cô thành cố cung chịu sự chi phối của dòng thời gian vô thỉ vô chung có ai tránh khỏi quy luật vận động của thời gian được cho nên:

  ‘’Tương thức mỹ nhân khan bảo tử
  Đổng du hiệp thiếu tẫn thành ông’’

Con người bị sự chi phối của thời gian còn khắc nghiệt hơn cả không gian,bởi thời gian chỉ vận động một chiều ‘’nhất khứ bất phục phản’’.Mỹ nhân hoa nhường nguyệt thẹn,quốc sắc thiên hương ngày nào cũng đã ‘’khan bảo tử’’cả rồi.Nhà thơ hiện đại Hàn Mặc Tử cũng đã hoảng sợ trước bước đi không ngoái lại của thời gian:’’Tôi lạy muôn vì tinh tú nhé-Xin đừng luân chuyển để thời gian-Chậm đi cho kẻ tôi yêu dấu-Vẫn giữ màu tươi một mỹ nhân’’
Và bạn chơi ngày cũ ,ngày kiêu binh chưa nổi dậy phá tan tành cơ nghiệp của ông anh tể tướng bây giờ đã làm ông bỏ lại sau lưng hùng tâm tráng chí một thuở nào.Nỗi buồn khổ thấm vào trong giấc ngủ

  ‘’Quan tâm nhất dạ khổ vô thuỵ
  Đoàn địch thanh thanh minh nguyệt trung’’

Cái nỗi khổ vô thuỵ trong đêm trùng phùng đất cũ,người xưa cứ dằn dỗi người thơ suốt đêm dài thao thức.Chỉ còn tiếng sáo hoà lẫn ánh trăng man mác một nỗi u hoài.Thân thì tĩnh mà lòng thì dấy động phong ba.

Thời gian nghệ thuật trong bài thơ Thăng Long thể hiện tư tưởng và cảm xúc chủ đạo của nhà thơ đã trở thành thời gian hình tượng.Cái tế vi của trái tim thơ cụ Nguyễn Tiên Điền hơn ai hết đã cảm thấu bước đi của thời gian tuôn chảy trong mối quan hệ không thể chia tách với không gian Lô Giang,Tản Lĩnh.cố cung.cô thành.Nhà thơ tự đặt mình vào sự luân chuyển của thời gian để hoà nhập không gian tâm tưởng vào thời gian ký ức !

MÂM CHỮ ĐƠN SƠ MỜI KHÁCH MUÔN ĐỜI

HOÀNG CẦM

NGÀY GIỖ VỢ LẦN THỨ HAI

Nhớ em từ một đường khâu
Hai năm vai áo toạc đau xé lòng
Nhớ em từ miếng cơm không
Những năm bát mẻ,đĩa còng chia nhau
Em ở đâu tôi ở đâu ?
Hai năm rễ bén cỏ sâu trên mồ!
Đi thăm bụi đất chiều mưa
Giun kêu thăm thẳm còn ngờ tiếng em
Về đâu tiếng nói em hiền
Thảo thơm biền biệt điệu kèn cõi âm

Em đi một thoáng trăm năm
Nơi đâu em ngủ tôi nằm lênh đênh
Đầu nghiêng gối nặng tay mình
Chợt rung mắc áo dáng hình cheo leo
Về khuya mê bóng bóng theo
Nhìn chênh thế kỷ bóng vèo qua mi
  
  

Độ rung của nỗi nhớ tràn vào thơ ngay từ 4 câu thơ đầu tiên:

         
  ‘’ Nhớ em từ một đường khâu
  Hai năm vai áo toạc đau xé lòng’’
  Nhớ em từ miếng cơm không
  Những năm bát mẻ,đĩa còng chia nhau’’
               
Cũng là sự kể lể về những kỷ niệm vụn vặt trong sinh hoạt vợ chồng thuở mới ‘’ nâng niu gom góp dựng cơ đồ’’ : ‘’một đường khâu ,miếng cơm không’’ đến ‘’,bát mẻ, đĩa còng ‘’,như bất cứ ông chồng thương vợ ,biết ơn vợ nào khác nhưng ở đây sự chân thành trong ngôn ngữ thơ đã thấm vào người đọc khiến ta không thấy hình tượng thơ nặng tính chất riêng tư nữa mà dường như mang tính phổ quát hơn ,đời hơn . Những hồi ức nho nhỏ đó trong cuộc sống khi đủ vợ đủ chồng không mấy ai để ý nhưng khi một đối tượng mất đi rồi thì những chi tiết cỏn con bỗng thăng hoa trở thành hoài niệm ,những việc không đáng ai quan tâm như khâu một đường kim trên vai áo , ăn chén cơm không nhường thức nhắm cho chồng mời bạn uống rượu hay những vật dụng tầm tầm của cuộc sồng cơ cầu vật lộn kiếm miếng ăn nuôi con nuôi cái ngày xưa của hai vợ chồng bây giờ đã trở thành di vật và người còn lại làm sao không thoáng trông đoái tưởng đến người tao khang .cho đặng.

 Khổ thơ thứ hai nối tiếp mạch thơ hoài niệm uất nghẹn:

     
  ‘’Em ở đâu ,tôi ở đâu ?
  Hai năm rễ bén cỏ sâu trên mồ !’’

           
 Nhà thơ cảm nhận nỗi mất mát một cách thấm thía nên thảng thốt mất phương hướng về không gian khi sử dụng câu hỏi tu từ với từ đâu đến những ba lần , thảng thốt nhận ra rằng ‘’đi thăm bụi đất chiều mưa-giun kêu thăm thẳm còn ngờ tiếng em’’.Em chỉ còn là bụi đất chiều mưa ,trong lòng người chồng cồn cào một sự dằn xé giữa tỉnh và mơ giữa thực và hư giữa tiếng giun kêu và’’tiếng nói em hiền ‘’ đồng vọng.

 Vẫn là nỗi buồn đau chia biệt tất yếu của quy luật mất còn ai mà không trải qua chỉ chậm và sớm đó thôi .Biết vây nhưng kể cả những kẻ lạc quan nhất khi đọc đến đây cũng không khỏi bùi ngùi trước sự vang vọng của ;điệu kèn cõi âm’’.Một lần nữa ta lại thấu cảm một điều :sự chân thành khi đã cộng hưởng với tài hoa sẽ có tác động xuyên tầng khơi gợi tình cảm đẹp trong con người nhiều khi vì một lý do khách quan nào đó đã bị khuất lấp .
Khổ cuối dòng xúc cảm được đẩy tới cao trào sâu lắng qua những hình ảnh thơ ‘

  Đầu nghiêng gối nặng tay mình
  Chợt rung mắc áo dáng hình cheo leo’’

Nhà thơ không thể thoát ra được dòng hồi ức lan tỏa theo hoài niệm nên một lần nữa lại dùng từ đâu ‘’nơi đâu em ngủ tôi nằm lênh đênh’’.’Vế thơ ‘’tôi nằm lênh đênh ‘’ là một ý thơ khẳng định tình yêu bất biến trong lòng chủ thể trữ tình không cần phải nặng lời thề thốt như bất kỳ ai khác .Rõ ràng khi nhà thơ tỉnh thức’’đi thăm bụi đất’’hay lúc chìm vào vô thức ‘’ đầu nghiêng gối nặng tay mình’’ hình bóng người vợ đã quá cố vần khắc vào tâm khảm người còn lại
. Hai câu cuối bài tác giá đặt hình tượng vào một bối cảnh không gian ‘’khuya’’lúc mà phần huyễn mộng bao giờ cũng lấn phần thực mộng . Nhà thơ từng sống với huyễn mộng ‘’lá diêu bông ‘’từ lứa tuổi lên mười ấy sử dung điệp từ bóng đến những ba lần trong hai câu cuối một lần nữa lại chìm vào cõi huyễn :

  ‘’Vê khuya mê bóng, bóng theo
Nhìn chênh thế kỷ bóng vèo qua mi’’

‘’Về khuya mê bóng ,bóng theo’’ thì người đọc lờ mờ còn hiểu được sự quấn đuổi của hình và bóng trong cuộc :’’ trăm năm còn có gì đâu’’nhưng câu thơ cuối cùng thì sự hiểu phải nhường cho sự cảm .Sao nhìn chênh vào thế kỷ mà không nhìn thẳng thì mới ‘’bóng vèo qua mi’’nhỉ ? .Nhà thơ dùng từ ‘’chênh’’ ‘’vèo’’ ở đây thật tài hoa bởi tự ‘’xác chữ’’ đã kín đáo hiển lộ một tình yêu sâu nặng với người bạn đời không may mệnh một nhưng càng kín đáo hơn khi ‘’hồn chữ’’ bộc tỏ sự mất mát không làm con người chìm đắm trong bi thương .Một ánh’’ nhìn chênh’’,một thoáng ‘’vèo’’ khoảnh khắc ‘’qua mi’’ con người phải tiếp tục sống cho đáng sống phần đời còn lại chứ đâu có thể mãi mãi ‘’nhìn chênh ‘’!

 Có thể như thế mà cũng có thể không phải như vậy .Tuy nhiên có một điều người viết bài này đoan chắc rằng đọc bài thơ’’ Ngày giỗ vợ lần thứ hai ‘’của nhà thơ Hoàng Cầm người đọc kể cả những người đồng cảnh vẫn cảm thấy phần thương lấn át phần bi . Có cần gì phải bày biện tốn kém mâm cao cỗ đầy , có cần gì phải mời mọc thân bằng quyến thuộc khắp nơi cho đông đủ nhà thơ giỗ vợ bằng một mâm chữ đơn sơ mười sáu câu lục bát cũng đủ thù tiếp khách chung tình trong khắp thế gian chẳng những bây giờ mà cả ngàn sau.

Khi người ta không còn yêu nhau của Phi Tuyết Ba

Mọi lời giải thích
nào có cần đâu
khi người ta không còn yêu nhau
có lẽ tốt nhất là nên im lặng

Vườn hoa đỏ trút màu thành hoa trắng
nhưng không là hoa trắng thuở ban đầu
khi người ta không còn yêu nhau
đêm nào trăng cũng lặn

Thế giới đông người ư
nhưng thiếu vắng
khi người ta không còn nữa yêu nhau
giá như quên được nỗi đau
có lẽ đó là điều tốt hơn điều tốt nhất…

Trong bài thơ Vô đề ông Lý Thường ẩn từ thuở Đường Thi mù tít mù tăm kia đă từng đau đớn than thở cho nỗi niềm chia biệt của các cặp chàng nàng: “Tương kiến thì nan biệc diệc nan”. (Tạm dịch: Gặp nhau đă khó xa nhau lại càng khó hơn nữa). ấy là họ yêu nhau quá thể tơ lòng vấn vít bị hoàn cảnh khách quan rẽ thúy, chia uyên nên ruột rầu, gan héo vò xé tâm can là chuyện tất yếu rất bình thường. ở đây mới nhập vào cái tiêu đề bài thơ đă thấy không phải vậy:

Mọi lời giải thích
nào có cần đâu
khi người ta không còn yêu nhau

Phân trần giải thích chẳng còn tác dụng gì nữa khi hình đă chia, bóng đă tách trở thành 2 thực thể xa lạ, còn gì nữa đâu để níu kéo. Im đặng là tốt nhất, khoảnh khắc vô ngôn ấy sẽ làm hai con người không còn yêu nhau nữa đốn ngộ bao điều. Hệ quả tất yếu cái gì xảy ra sẽ phải xảy ra không thể nào khác được:

Vườn hoa đỏ trút màu thành hoa trắng
nhưng không là hoa trắng thuở ban đầu
khi người ta không còn nữa yêu nhau
đêm nào trăng cũng lặn…

Tôi nghĩ Phi Tuyết Ba hơi kỹ tính, chị sợ người ta hiểu nhầm màu hoa trắng trong câu thơ đầu khổ 2 nên mới thêm một câu lý giải tiếp theo. Có lẽ không cần đâu chị ạ, “trắng” làm sao được nữa. Từ trút đă nói hết rồi. “Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy” – cái lần đầu tiên rụt rè nắm lấy bàn tay thon nhỏ của em, đặt nụ hôn vụng về lên làn tóc mây huyền diệu, “bao nhiêu năm qua rồi lòng khôn nguôi gió băo” vẫn phảng phất trong ta mùi vị nụ hôn đầu, màu trắng trong của khu vườn tình yêu thuở ban đầu thiêng liêng đến vậy. Hơn nữa khi khu vườn tình yêu đă bừng nở thành “vườn hoa đỏ” thì tình đă thâm sâu biết đến nhường nào? Màu đỏ ấy có thể dần phai theo dòng chảy của thời gian nhưng “trút màu thành hoa trắng” thì nhất định màu hoa trắng ấy phải là biểu hiện của màu hoa tang “và một vòng hoa trắng rợn người” (Nguyễn Bính).

“Khi người ta không còn yêu nhau
đêm nào trăng cũng lặn
mùa quả nào cũng đắng…”

Sự việc không có gì mới mẻ nếu không nói là quá cũ, tại sao nhà thơ nói đi nói lại làm gì trong suốt hai khổ thơ như thế, có tiềm ẩn một cuộc mai phục nào chăng? Người đọc phải huy động hết khả năng tiếp nhận chiếm lĩnh của hồn thơ mới vỡ lẽ ra một điều: tác giả sử dụng thủ pháp nghịch dị muốn lạ hóa một điều đă quá quen thuộc, từ đó, giúp người đọc hiểu ngược lại vấn đề, thấy được giá trị đích thực của tình yêu vĩnh cửu. Điệp khúc “Khi người ta không còn yêu nhau” thể hiện bản lĩnh nghệ thuật mượn hình nói bóng của một tài nghệ cao tay.

Trong khổ thơ cuối cùng, ba câu đầu là sự kết ý của hai khổ trên nhưng không khép ý mà là rút ra một hàm nghĩa khác: Nỗi hăi sợ của con người “Khi người ta không còn nữa yêu nhau”. Quả thật là đáng sợ, màu hoa tang chế, đêm tối mịt mùng, mùa quả nào cũng đắng, sự cô đơn thiếu vắng… dù xung quanh có cả một “thế giới đông người”. Điệp khúc lại được tác giả sử dụng nhấn mạnh ở khổ cuối nhưng không hạn hẹp như trong 2 khổ thơ trước. Rõ ràng tác giả rất có ý đồ nghệ thuật khi thêm vào điệp khúc một từ “nữa” – “Khi người ta không còn nữa yêu nhau”. Sự đơn lẻ đă được nâng lên tầm khái quát, không chỉ là tình yêu cá nhân với cá nhân mà là tình yêu giữa con người với con người, con người với những điều thiêng liêng khác. Giá trị nhân văn của hình tượng thơ tự nhiên thấm vào mạch cảm xúc của người đọc không cần qua một kênh tiếp dẫn có tính cách giáo huấn nào khác. Chính từ mạch cảm xúc ấy tác giả nêu ra một sự giả định:

Giá như quên được nỗi đau
có lẽ đó là điều tốt hơn điều tốt nhất…

“Quên được nỗi đau” ư? Ai mà không mơ ước điều hạnh phúc ấy, nhưng nào có dễ dàng gì? Nhưng dù sao đi nữa con người cũng phải quên nó thôi. Quên nó, con người mới đủ dũng lực để sống, để cống hiến cho cuộc đời những điều cao đẹp khác. Quên nỗi đau chính là để nhớ trách nhiệm làm người. Nỗi đau giống như liều độc dược nếu biết “dĩ độc trị độc” nỗi đau sẽ thăng hoa thành báu vật. Ly Tao của Khuất Nguyên, Đoạn trường Tân Thanh của Nguyễn Du , thơ Hàn Mặc Tử trở thành kiệt tác chẳng phải là giải mă nỗi đau nhân thế mà thành đó sao!

“Khi người ta không còn yêu nhau” của Phi Tuyết Ba là một sự đan xen giữa tình yêu và triết luận. Tính nhân văn xuyên suốt với các tầng ngữ nghĩa gửi gắm một thông điệp đến con người. Đó là: Hăy yêu đi, yêu chân thành, yêu cháy bỏng, có tình yêu là có tất cả. Nếu “Không còn nữa yêu nhau”, “thế giới đông người” này chỉ còn là xứ sở của tang thương chết chóc.

Hồng nhan lấy cái thất tình làm vui

Em gái

TTO -  Em đầy ngộ nhận như tôi
Cũng yêu chí chết cái người mình yêu
Cũng tìm những lối phong rêu
Để rồi bước trật bước trèo uổng công

Mắt thì thăm thẳm mùa đông
Trái tim mùa hạ, tấm lòng mùa thu
Mùa xuân ở phía sa mù
Mà băng tuyết… đến bao giờ cho tan?

Gặp em cơ nhỡ cưu mang
Em đâu biết đến lỡ làng về sau
Em đương lấy sóng làm cầu
Khơi xa làm bến, đáy sâu làm thuyền

Lấy khao khát để làm yên
Lấy duyên làm phúc lấy tiền làm khinh
Rồi ra em giống chị mình
Lấy bấy nhiêu cái thất tình làm vui

    ĐOÀN THỊ LAM LUYẾN

Có ai thất tình mà lại vui bao giờ! Ngoa dụ đấy! Vui là vui gượng kẻo mà. Em gái là phiên bản của chị, của kiếp hồng nhan mong manh, không yêu thời thôi chứ đã yêu là yêu chí chết cái người mình yêu nhưng như vậy thì làm sao còn đủ tỉnh táo mà không đầy ngộ nhận, cớ gì em, cớ gì chị.

Ai tìm những lối phong rêu làm gì, phong rêu tự nó đến nên em mới bước trật bước trèo. Nhưng không có uổng công đâu, bởi uổng công thì làm sao chị mình lại kết tứ lấy bao nhiêu cái thất tình làm vui cho được… Có vui gượng đi nữa cũng là vui? Xem nhà thơ giải thích sự uổng công yêu thế nào?

Mắt thì thăm thẳm mùa đông
Trái tim mùa hạ tấm lòng mùa thu
Mùa xuân ở phía sa mù
Mà băng tuyết… đến bao giờ cho tan?

Em gái của chị có ba mùa: giọt sương trên mí mắt thăm thẳm của mùa đông giá lạnh, trái tim rực cháy ngọn lửa yêu đương của mùa hạ và tấm lòng đau đáu thuỷ chung của mùa thu đợi chờ. Chỉ có mùa xuân của đời em còn ở đâu phía sa mù xa lắc xa lơ. Câu hỏi tu từ cuối đoạn hai vút lên thảng thốt: mà băng tuyết đến bao giờ cho tan?imageview.jpg

Chị của em là người nếm cảnh ai có qua cầu. Em còn ngây thơ trong trắng quá, biết chi đến cái lỡ làng về sau. Em gái bị cái vị ngọt tình yêu làm lú lẫn:

Em đương lấy sóng làm cầu
Khơi xa làm bến, đáy sâu làm thuyền

Lấy sónglàm cầu là một sự dấn thân với tình yêu bạo liệt bởi tất cả sóng trên đời này đều dậy để rồi tan. Bình địa đã nổi phong ba rồi thì không làm sao còn bình địa được nữa nếu không hứng chịu tận cùng tan nát.  Em còn bạo liệt hơn khi dám lấy khơi xa làm bến. Khơi xa thì cũng là sóng, không có sóng thì làm gì có khơi, khơi xa nữa thì không nói cũng biết nó rốn bão đến mức nào! Chính vì em chìm ngập trong đáy sâu con thuyền ảo ảnh ấy nên lấy khao khát để làm yên, làm chất liệu tự sinh nuôi sống hồn mình, tự an ủi mình có cái để khát khao. Còn hơn chán vạn người suốt đời không có cả cái để mà khao khát đó sao!

Cuối cùng tác giả nhắc lại điều đã khẳng định ngay từ đầu, có khác hơn là được nâng lên về chất:

Rồi ra em giống chị mình
Lấy bấy nhiêu cái thất tình làm vui

Ngoa dụ thì hẳn rồi, song nhìn cho rộng suy cho kỹ thì dường như cũng có một chút thật thật. Em cũng như chị bước trật bước trèo cả đời con gái để không bao giờ với tới được mùa xuân. Nhưng vui là có thất tình chị mới có thơ, giống chị rồi em cũng ra thơ thôi. Nếu được mùa yêu thì chỉ có…cái khác chứ cung bậc cảm xúc trong thơ khó mà diệu vợi. Mất mà lại được âu đó cũng là chuyện Tái ông mất ngựa của mỗi một đời người.

Rằng hồng nhan tự nghìn xưa, mối đồng cảm số phận đã được Hồng Hà nữ sĩ, Bà chúa thơ Nôm than oán đầy trời song ở Đoàn Thị Lam Luyến có cách nói mới mẻ nhân văn hơn. Người phụ nữ bị tình phụ không bi quan chán nản, sướt mướt mà vẫn tràn đầy nghị lực vượt qua nỗi đau xé lòng để trào lộng một tiếng: Lấy bấy nhiêu cái thất tình làm vui

“Biết” với Võ Thị Kim Liên

Biết

Biết là em yêu chồng tôi
Trầu cay, cau chát và vôi thì nồng
Biết là em cũng có chồng
Cơm canh không ngọt nên lòng vẩn vơ

Biết là tôi vốn dại khờ
Nhìn đời như thể bài thơ không vần
Tôi không yêu được hai lần
Nên thương em lỡ bước chân khó về

Biết là sau phút đam mê
Mộng mơ tan để não nề xót xa!
Em thất vọng với người ta
Tôi thất vọng với cỏ hoa… một thời

Biết chồng vẫn chồng của tôi
Chiều ngâu nhặt lá trầu rơi se lòng

   Tạp chí Văn Nghệ Quân Đội, Số tháng 11-2003

Ghen chứ sao không ghen! Ớt nào mà ớt chẳng cay - Gái nào mà gái chẳng hay ghen chồng, không ghen sao mà chua chát thế: Trầu cay, cau chát và vôi thì nồng. Ba tính từ cay, chát, nồng đều là những tính từ nóng đi liền nhau hỗ trợ nhau nhằm đối phó với ngữ động từ em yêu chồng tôi như bất cứ người vợ nào trên đời cũng lồng lên khi biết là… có người phụ nữ khác yêu chồng mình, muốn chiếm hữu cục cưng của mình.

Tuy nhiên người đàn bà này có cái khác đời khi chị biết em cũng có chồng chỉ vì một lý do nào đó cơm không lành canh không ngọt nên mới sinh lòng vẩn vơ. Có thể chị cũng đã từng trải cảnh ngộ của người phụ nữ ấy nên mới thấu hiểu, độ lượng và bao dung, mới thương em lỡ bước chân khó về đến như vậy. Thương thật đấy chứ không phải làm bộ, làm tịch kiểu mèo vờn chuột đâu.

Hơn ai hết chị hiểu rất sâu, rất rõ chồng mình mới dám cam đoan rằng em mà tằng tịu với chồng chị, sau phút đam mê tất yếu sẽ xảy ra cảnh mộng mơ tan để não nề xót xa. Và như thế cả hai ta cùng khổ: Em thất vọng với người ta còn chị cũng chẳng hơn gì tôi thất vọng với cỏ hoa… một thời, tuy nhiên em khổ hơn chị nhiều bởi em lỡ bước chân khó về.

Kiếp hồng nhan với nhau, chị hiểu đàn ông ít khi chịu tha thứ cho người phụ nữ lỡ bước trong khi họ thì huênh hoang khoe thành tích chim chuột vợ là vợ của người ta – anh ôm anh ấp như là vợ anh. Chồng em cũng chỉ thế thôi, còn chồng chị vẫn là chồng của chị, em không thể nào chiếm hữu được, có điều niềm yêu trong lòng chị ít nhiều cũng bị thương tổn Chiều Ngâu nhặt lá trầu rơi se lòng chứ chẳng phải chị sợ sệt gì.

Người phụ nữ trong bài thơ Biết cho rằng tôi vốn dại khờ nhưng thật ra chị không khờ dại một tí nào mà còn khôn lanh ra phết. Bài thơ không vần không phải là căn cứ quy định chất lượng. Không vần thì còn có ý, có tứ, có nhịp, giọng, điệu, thanh, âm, từ ngữ… nghĩa là còn trăm thứ tạo nên chất cho bài thơ ấy.

Chị rất cao tay vừa phối hợp cứng, mềm lấy tình thương đánh động vào chút phận đàn bà để cảm hóa, dạy dỗ rồi lại đe nẹt đối phương một cách rất đàn chị: vừa nói xa vừa nói gần: tôi không yêu được hai lần đến mộng mơ tan để não nề xót xa, dọn đường cho người những mong chiếm đoạt chồng mình biết nẻo hợp, tan mà quay về với chồng con, tránh được bước chân lầm lỡ, để cỏ hoa ngày đôi lứa yêu nhau vẫn ngát hương trong hồn cả chúng chị, chúng em. Như thế chẳng là hạnh phúc cả đôi đường hay sao?

Rằng ghen tuông cũng chuyện người ta thường tình nhưng đây là một kiểu ghen đẹp, ghen tài hoa và nhân hậu, làm nguội cái máu cả ghen làm toáng lên của quý bà, quý cô, lại giữ được cơ đồ sắp xẻ đàn tan nghé. Không phải người phụ nữ nào trên đời cũng đủ bình tĩnh và bản lĩnh làm được như người phụ nữ trong bài thơ Biết của Võ Thị Kim Liên. Cái kiểu ghen điệu nghệ này các vị tiểu thư họ Hoạn hiện đại cần học tập và vận dụng, có phải tốt hơn không?

“Biết” với Võ Thị Kim Liên

Biết

Biết là em yêu chồng tôi
Trầu cay, cau chát và vôi thì nồng
Biết là em cũng có chồng
Cơm canh không ngọt nên lòng vẩn vơ

Biết là tôi vốn dại khờ
Nhìn đời như thể bài thơ không vần
Tôi không yêu được hai lần
Nên thương em lỡ bước chân khó về

Biết là sau phút đam mê
Mộng mơ tan để não nề xót xa!
Em thất vọng với người ta
Tôi thất vọng với cỏ hoa… một thời

Biết chồng vẫn chồng của tôi
Chiều ngâu nhặt lá trầu rơi se lòng

   Tạp chí Văn Nghệ Quân Đội, Số tháng 11-2003

Ghen chứ sao không ghen! Ớt nào mà ớt chẳng cay - Gái nào mà gái chẳng hay ghen chồng, không ghen sao mà chua chát thế: Trầu cay, cau chát và vôi thì nồng. Ba tính từ cay, chát, nồng đều là những tính từ nóng đi liền nhau hỗ trợ nhau nhằm đối phó với ngữ động từ em yêu chồng tôi như bất cứ người vợ nào trên đời cũng lồng lên khi biết là… có người phụ nữ khác yêu chồng mình, muốn chiếm hữu cục cưng của mình.

Tuy nhiên người đàn bà này có cái khác đời khi chị biết em cũng có chồng chỉ vì một lý do nào đó cơm không lành canh không ngọt nên mới sinh lòng vẩn vơ. Có thể chị cũng đã từng trải cảnh ngộ của người phụ nữ ấy nên mới thấu hiểu, độ lượng và bao dung, mới thương em lỡ bước chân khó về đến như vậy. Thương thật đấy chứ không phải làm bộ, làm tịch kiểu mèo vờn chuột đâu.

Hơn ai hết chị hiểu rất sâu, rất rõ chồng mình mới dám cam đoan rằng em mà tằng tịu với chồng chị, sau phút đam mê tất yếu sẽ xảy ra cảnh mộng mơ tan để não nề xót xa. Và như thế cả hai ta cùng khổ: Em thất vọng với người ta còn chị cũng chẳng hơn gì tôi thất vọng với cỏ hoa… một thời, tuy nhiên em khổ hơn chị nhiều bởi em lỡ bước chân khó về.

Kiếp hồng nhan với nhau, chị hiểu đàn ông ít khi chịu tha thứ cho người phụ nữ lỡ bước trong khi họ thì huênh hoang khoe thành tích chim chuột vợ là vợ của người ta – anh ôm anh ấp như là vợ anh. Chồng em cũng chỉ thế thôi, còn chồng chị vẫn là chồng của chị, em không thể nào chiếm hữu được, có điều niềm yêu trong lòng chị ít nhiều cũng bị thương tổn Chiều Ngâu nhặt lá trầu rơi se lòng chứ chẳng phải chị sợ sệt gì.

Người phụ nữ trong bài thơ Biết cho rằng tôi vốn dại khờ nhưng thật ra chị không khờ dại một tí nào mà còn khôn lanh ra phết. Bài thơ không vần không phải là căn cứ quy định chất lượng. Không vần thì còn có ý, có tứ, có nhịp, giọng, điệu, thanh, âm, từ ngữ… nghĩa là còn trăm thứ tạo nên chất cho bài thơ ấy.

Chị rất cao tay vừa phối hợp cứng, mềm lấy tình thương đánh động vào chút phận đàn bà để cảm hóa, dạy dỗ rồi lại đe nẹt đối phương một cách rất đàn chị: vừa nói xa vừa nói gần: tôi không yêu được hai lần đến mộng mơ tan để não nề xót xa, dọn đường cho người những mong chiếm đoạt chồng mình biết nẻo hợp, tan mà quay về với chồng con, tránh được bước chân lầm lỡ, để cỏ hoa ngày đôi lứa yêu nhau vẫn ngát hương trong hồn cả chúng chị, chúng em. Như thế chẳng là hạnh phúc cả đôi đường hay sao?

Rằng ghen tuông cũng chuyện người ta thường tình nhưng đây là một kiểu ghen đẹp, ghen tài hoa và nhân hậu, làm nguội cái máu cả ghen làm toáng lên của quý bà, quý cô, lại giữ được cơ đồ sắp xẻ đàn tan nghé. Không phải người phụ nữ nào trên đời cũng đủ bình tĩnh và bản lĩnh làm được như người phụ nữ trong bài thơ Biết của Võ Thị Kim Liên. Cái kiểu ghen điệu nghệ này các vị tiểu thư họ Hoạn hiện đại cần học tập và vận dụng, có phải tốt hơn không?

Tống biệt hành – Một bài thơ không bao giờ cũ

(Bài đạt giải 1 cuộc thi bình thơ của Báo Giáo Dục và Thời Đại tháng 6.2001)

Ngay từ câu thơ đầu tiên chất cổ thi đã thấm tràn con chữ: ’’Đưa người, qua sông’’ chỉ là cách Việt hoá các hình ảnh có tính ước lệ về sự biệt ly trong thơ Đường nhưng không phải là sự Việt hoá đơn giản mà có sự đổi mới hơn về chất. Thâm Tâm dùng từ ‘’qua’’ trong ngữ ‘’qua sông’’ thật là đắt. Qua chứ không phải sang, dù qua và sang hàm nghĩa gần giống nhau trong nhiều văn cảnh. Nói qua người ta nghĩ đến lại. Ly khách qua sông rồi lại sẽ về chứ không phải như người tráng sĩ xưa ’’thử địa biệt Yên Đan’’ là ‘’nhất khứ bất phục hoàn’’ dù trong mấy câu thơ sau tác giả có đề cập đến ‘’không bao giờ nói trở lại’’. Không nói chứ không phải là không trở lại. Tôi không đồng ý với nhiều người cho rằng đây là cuộc chia ly nhuốm màu vĩnh biệt bởi điểm sáng thẫm mỹ của bài thơ một phần chính là sự trở về của ly khách. Nói như thế có khiên cưỡng chăng? Người đi thấm đầy nỗi hoàng hôn trong mắt. Ngoại cảnh ‘’bóng chiều không thắm không vàng vọt’’ không hề chi phối tâm trạng người đi. Nghệ thuật miêu tả bứt phá khỏi lối mòn của cổ thi ’’bóng tà như giục..’’, ’’rừng phong thu đã…’’ tạo nên một cảm quan mới mẻ. Lại nữa ‘’một giã gia điình một dửng dưng’’. Dửng dưng thế nào được khi cái gia đình ấy là mẹ, là chị, là em nghĩa là những người thân yêu nhất cần sự bảo vệ che chở của người đàn ông nhất là trong thờ binh lửa người phụ nữ, đứa con thơ yếu đuối kia vắng bóng người đàn ông trụ cột trong gia đình tránh sao khỏi những điều tai ương có thể úp chụp bất cứ lúc nào lên cuôc đời họ. Ta không thể ‘’dịch’’ hình ảnh ’’một dửng dưng’’ sang bình diện lời nói hoặc khái niệm để hiểu một cách hiển ngôn. Việc thâm nhập vào hình tượng thơ rất cần sự thấu cảm (empathy) của người đọc. ’’Một dửng dưng‘ ’là sự dồn nén đến độ tối giản của lòng thương nhớ. Quyến luyến bởi con người đã từng ‘’buồn chiều hôm trước‘’, ’’sáng hôm nay’’ nghĩa là trước giờ chia biệt thì không thể nào có sự dửng dưng vô cảm khi cồn cào trong lòng là nỗi nhớ mong mẹ già, dòng lệ sót của người chị, chiếc khăn tay gói tròn thương tiếc của đứa em thơ. Chính vì điều ấy tác giả cho kẻ tiễn tặng người đi một chữ ‘’thà’’ dành cho ba con người thương yêu nhất, xem nó là cột mốc phân lằn ranh giữa tình nhà và chí lớn. Nếu so sánh chữ thà trong “Tống biệt hành” và chữ thì trong bài thơ “Thưa mẹ con đi” của Nguyễn Khoa Điềm thì có hơi khập khiễng song sự mâu thuẫn đầy kịch tính thì không khác nhau một chút nào bởi ví hai tiếng ấy vừa giữ nhiệm vụ chặt đứt sợi dây tơ tình vừa thể hiện sự níu giữ điều ít tìm thấy trong thơ xưa nói về nỗi niềm ly biệt. Từ thà nghe có vẻ quyết liệt dứt khoát hơn nhưng nếu ta lắng lòng mình lại sẽ thấy từ thà giống như một con người có vẻ ngoài xơ cứng, liều lĩnh nhưng lại chứa đựng bên trong một trái tim nồng cháy yêu thương đợi chờ. Đeo đôi kính thấu cảm lên ta sẽ điểm trúng ngay huyệt đạo của ly khách mà có thể con người của cuộc đời thường nhiều khi không bao giờ tìm thấy sự yếu đuối trong thái đô làm ra vẻ bất cần ấy.
Ly khách là ai? Là ai cũng được miễn người ấy ra đi vì chí lớn. Ma lực của bài thơ cuốn hút con người chẳng những toát ra từ nội dung ý tưởng, mà còn ở âm điệu trầm hùng mà bi tráng. Các phù bình thanh, trầm bình thanh đan xen vào nhau lại có sự điểm xuyết của một vài thanh trắc đan cài luyến láy tạo nên một giá trị thẩm mỹ đích thực, một sự thôi thúc thông qua giọng điệu trữ tình riêng biệt mang phong cách cá nhân của nhà thơ thể hiện sự phức điệu trong chiều sâu trong tâm tưởng con người.

Chính vì thế có thể nói Tống biệt hành là một bài cổ thi hiện đại không bao giờ cũ.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.