TẢN MẠN CUỐI NĂM

Lê Lộc

Mười lăm năm ở phố, của phố mà phố vẫn lạ; mười lăm năm trong phố mà phố vẫn xa!

Càng trôi về những ngày cuối, của năm cùng tháng tận, lòng càng ngu ngơ như người mộng du. Người ở đây mà hồn ở đâu tận ngoài nớ.

Mười lăm năm xa làng quê, trong giấc mơ, vẫn vọng vang tiếng tu hú da diết gọi mùa cá chuồng Cửa Đại.

Mười lăm năm xa làng quê, trong nỗi nhớ, vẫn đều đều vang tiếng sôi ùng ục của nồi bánh tét đêm ba mươi trước sân nhà; lửa củi cháy bập bùng, tí tách, lan toả hơi ấm cho cả nhà  quây quần ngồi trông bánh, nghe cha tôi kể đủ chuyện về người, về đời… Và cảm nhận điều thiêng liêng, kỳ diệu của thời khắc giao thừa trang trọng.

Mười lăm năm xa làng quê, trong tâm trí tôi, vẫn in đậm hình ảnh như vừa hôm qua, tôi và bạn, hai đứa đèo nhau trên chiếc xe đạp cà tàng vào sáng mồng một Tết, ngược lên quê bạn,  nơi có cha mẹ già đang thắc thỏm mong ngóng thằng con xa quê chưa kịp về chiều ba mươi.

Đường quê, ngày mới, nắng tinh khôi. Đường quê, hoa dại lung linh sắc màu. Đường quê, nụ cười nở hoa, tươi rói. Đường quê, áo mới tươi màu, phảng phất cả mùi thơm vải mới, tinh tươm.

Mười lăm năm ở phố, tôi cứ mãi nghe văng vẳng một thứ âm vọng rất thiết tha từ làng quê, trong những giấc ngủ chập chờn, mộng mị, hay từ thẳm sâu tiềm thức.

Mười lăm năm, vẫn đau đáu nỗi niềm làng quê. Những ngày khắc khoải, những đêm thao thức.

Phố! Phố rộng lớn mà tù túng. Phố đồ sộ mà chật hẹp. Phố ken dày nhà cửa, cộ xe mà hoang lạnh ốc đảo. Phố thừa nguy nga, thừa lộng lẫy… mà thiếu vẻ đẹp chân phương, hồn hậu.

Phố xa hoa, tung tẩy, đãi đưa…

Phố lạnh lùng, xa cách, khu biệt…

Phố, ngày tết, và ngày không tết, lập lờ, chưa bao giờ rõ nét.

Hèn chi, Mẹ vào phố ở với con trai, xa ngàn cây số, chưa quen nhà đã vội vã trở về làng quê.

Hèn chi, Mẹ ra phố ở với con gái, chỉ cách chưa đầy một giờ xe, rồi cũng quày quả trở lại làng quê.

Mười lăm năm ở phố mà sao lòng người chưa phố…?!

LÊ LỘC

 

Mắt biếc

Cuối năm Canh Dần   Nguyễn Hàn Chung lục lọi trong mớ sách cũ chợt gặp tập san Mắt Biếc của  lớp  11 A1 trường THPT Nguyễn Duy Hiệu Điện Bàn Quảng Nam  trong đó có bài  tản văn của con gái út  .Mình không ngờ nó cùng cảm thấu nỗi gian nan của cuộc người cầm bút  nên post vào đây . NHC

CHIỀU CUỐI NĂM…

LÊ LỘC

Những năm trước, chậm nhất là hai  mươi sáu Tết, tôi đã vừa thong dong, vừa tươi tỉnh, vừa khoan khoái khi ngồi trên tàu về quê. Năm nay, đến ba mươi Tết rồi, mà tôi vẫn còn ở đây, với vợ con, trong căn nhà giữa phố ồn ào, lòng trống huơ, dửng dưng không hề gợn một chút cảm giác Tết. Vậy là không thể về được nữa rồi. Sao không bực bội! Tôi đi ra lơ ngơ, đi vào thờ thẫn. Ngồi bần thần, nằm rã rượi. Chốc chốc, ra đứng tựa cửa, mắt xa xăm, tay buông thõng. Dáng vẻ ủ rũ, có lẽ trông tôi y như cây chuối cụp lá, vàng nhợt sau mùa lụt trong vườn quê thuở nào. Cái cách phố lạnh lùng, thờ ơ với Tết, càng khiến tôi đờ đẫn nhớ Tết làng quê.

Hằng năm, từ rằm tháng chạp, khi nắng chớm xuân ấm áp trải khắp ruộng đồng, cha tôi đã hì hục đốn hạ những cây sầu đông trong vườn, rồi đẵn khúc và bửa nhỏ thành củi, phơi đầy sân, đầy ngõ. Củi cây sầu đông phơi được nắng thoang thoảng mùi thơm, pha chút hăng hăng, gây cảm giác dễ chịu, cùng với ý nghĩ mẹ và em gái sẽ có một cái Tết được nấu nướng thoải mái, nhàn nhã bằng củi. Chứ không phải chịu cảnh lui cui ngồi dính rịt trong bếp, không dám rời đi nửa bước, luôn tay cầm đũa bếp đùn đẩy rơm rạ, hoặc lá tre, lá mít, lá chuối khô… vào lửa. Khói bếp ùn tỏa cay xè, ràn rụa mắt mẹ, mắt em. Nhưng, dường như làn khói bếp lại ngần ngại bay lên cao, vào không trung. Như thể bay lên sẽ phai, sẽ loãng, sẽ tan đi hơi ấm. Là mất, là hết, là vô tâm, là đoạn tình đoạn nghĩa với bếp lửa, với tình người. Nên cứ là đà, quấn quít, vấn vương, bịn rịn trên mái tranh. Những sáng sớm trong lãng đãng mù sương, những chiều tà trong nhàn nhạt nắng, hình ảnh làn khói lam vật vờ uốn lượn quyến luyến mái tranh, hư ảo trên nền xanh thẫm của lũy tre làng, vẫn ngàn đời lắng đọng niềm yên ả, êm đềm trong lòng người xa quê.

Trong khi cha lo toan chuyện củi lửa, phần việc của tôi là quét váng nhện, bụi bặm khắp nhà trên, nhà dưới. Sau đó, lau dọn và trang trí bàn thờ. Sao cho đến trưa hai mươi ba phải xong đâu vào đó. Để kịp chiều tối hôm ấy lễ đưa ông táo về trời. Những giá ảnh và di ảnh ông bà trên bàn thờ được lau rất cẩn thận. Tấm vải điều phủ bên trên cũng được giặt sạch sẽ, thơm tho. Mấy bộ lư hương, chân đèn bằng đồng được đánh sáng bóng. Chân tàn hương, cha mẹ tôi bảo phải đặt vào thùng thiếc rồi đốt, không được vứt bừa bãi. Nếu làm thế là thất kính đối với người khuất mặt, là mang tội. Cát trong nồi hương, dứt khoát phải thay mới. Mẹ buộc tôi đi lấy cát tận dưới lòng sông, về phơi thật khô, rồi mới thay cát cũ.

Bình thường, cha mẹ tôi đã đặc biệt chú trọng việc cúng kính. “Cúng phải kính”, cha mẹ tôi thường căn dặn mỗi lần kỵ giỗ. Trước hết, trên bàn thờ phải có hoa và quả, theo vị trí nhất định: đông bình tây quả. Tiếp đến, ly nước trong (để ông bà súc miệng), đĩa trầu cau. Thức cúng phải bày biện cân đối, tề chỉnh. Khi thắp hương, phải cắm bằng hai tay, thẳng đứng, không đươc nghiêng xiêu. Hễ thờ tự phải thanh sạch, thành kính, cha mẹ tôi luôn khuyên răn con cái. Những điều có vẻ nghiêm ngặt như thế, tự bao giờ đã thấm trong tiềm thức tôi tình cảm quý trọng tổ tông, nguồn cội.

Chuẩn bị Tết, mẹ và em gái tôi có quá nhiều việc để làm. Đầu tiên, soạn tất cả chén bát, đũa muỗng, ly tách, ấm trà, bình rượu… trong chạn ra rửa kỹ, phơi phong khô ráo, rồi xếp trở vào. Những đồ đạc này chỉ dùng riêng cho dịp cúng giỗ, đám tiệc và tết nhứt mà thôi. Sang ngày mai, mẹ đi chợ mua kiệu, hành, ca-rốt, củ cải… về cùng em gọt, xắt, phơi… chuẩn bị cho món dưa kiệu truyền thống không thể thiếu. Mới nghĩ tới thẩu dưa kiệu tim tím, đo đỏ… bắt mắt là đã nghe thèm bánh tét, bánh rò rồi. Đến ngày kia, mẹ với em rang nếp, rang đậu, rồi xay thành bột thơm phức để chuẩn bị làm các thứ bánh: bánh in, bánh tổ, bánh dẻo, bánh nổ… Nhưng đến công đoạn cuối cùng, trộn, chà, in, nện… là phần việc của cha con tôi. Những chiếc bánh sắc cạnh,thơm nức, ngó phát thèm lần lượt ra khỏi khuôn chỉ chờ sấy nữa là cho vào thùng, vào hộp.  Cứ thế, cả nhà ngày nào cũng bận bịu đến khuya lơ khuya lắc. Nhưng niềm vui, tiếng cười tràn ngập, căn nhà càng thêm ấm cúng.

Sắm sanh, chuẩn bị ăn Tết, người dân quê vẫn quen tự tay mình  làm lấy các món ăn, bánh trái, bằng vật liệu cây nhà lá vườn, do chính công sức, mồ hôi của mình tạo ra. Hớp ngụm trà, nhâm nhi chiếc bánh, ta sẽ liên tưởng bột đậu, bột nếp mềm mịn, thơm lựng thế này là thành quả của bao ngày cày sâu cuốc chín, dầm mưa dãi nắng, thức khuya dậy sớm… Mồ hôi người từng gieo vào đất, thì đất sẽ lại trả ơn người bằng những mùa vụ ruộng đồng lúa nếp trĩu bông, bằng những chum lu ắp đầy đậu bắp. Để rồi, mỗi năm một lần, chỉ có dịp Tết, người dân quê mới thực sự  thong thả, xúm xít cùng nhau thưởng thức hương vị các món ăn Tết. Và, chỉ có dịp Tết, người dân quê mới khoan khoái, an nhàn tận hưởng hương vị cuộc sống. Cũng chính vì thế mà cái Tết ở làng quê là sự bừng lên rõ rệt nhất.

Cứ thế, không khí chộn rộn chuẩn bị Tết, khiến xóm làng vốn tĩnh lặng cả năm, bỗng bừng thức dậy từ giữa tháng chạp. Nhà nhà tất bật dọn dẹp sửa sang, cười nói rộn rã. Ngoài đường, hối hả kẻ đi bán, lật đật người đi mua. Rải rác từng nhóm đôi ba cô cậu đi làm ăn phương xa về nhà ăn Tết, tay xách vai mang, lỉnh kỉnh quà cáp, tinh tươm quần áo. Đường làng bỗng tươi tắn sắc màu, rộn ràng chào hỏi. Trẻ em hí hửng đùa nghịch, tung tăng chạy nhảy, hồn nhiên khoe nhau quần áo mới toanh, được cha mẹ, anh chị vừa sắm cho. Hàng xóm láng giềng í ới, lao xao hỏi mượn, trao đổi nhau ô nếp, lon đậu, bát đường… Hoặc nhờ chú, nhờ anh khéo tay gói giúp ang nếp bánh tét, bánh rò. Eng éc tiếng heo kêu làng trên xóm dưới, phía trong đầu ngoài. Người ta xôn xao mổ heo chia nhau cùng ăn Tết. “Có đói cũng ba ngày Tết, có hết cũng ba ngày mùa”, đó là cách người nông dân tự tưởng thưởng chính mình, sau thời gian nhọc nhằn làm lụng. Xong nhà ông Hai, đến nhà bà Ba, rồi nhà chú Lúa, nhà cô Nếp…, nhộn nhịp lễ cúng tất niên kể từ ngày hai mươi ba, liên tục tới chiều ba mươi. Nhà nào cũng sum họp, tề tựu đông đủ ông bà, con cháu, dâu rể… Ấm cúng, đề huề. Và chắc chắn không bao giờ thiếu hàng xóm láng giềng. Những người luôn sẵn lòng sẻ chia lúc tối lửa tắt đèn. “Bà con xa không bằng láng giềng gần”, chỉ có nơi làng quê, chỉ có người dân quê mới nghĩ, mới hiểu, mới nói, mới làm điều đó một cách vô tư nhất. Nghĩa xóm tình làng luôn sâu nặng, thắm thiết.

Rồi cũng đến chiều ba mươi Tết, mọi việc hầu như đã xong xuôi. Nhà cửa, đường làng khang trang hẳn lên. Nhịp Tết của xóm làng lắng xuống một chút. Khi đêm dần buông, mọi người chờ đón giao thừa. Ngoài sân, bàn cúng đã được trang trọng bày sẵn. Trong nhà, bàn thờ tổ tiên cũng đã đầy đủ bánh trái, hoa quả. Khi phút giây giao hòa của năm cũ và năm mới điểm, hương đèn được thắp lên. Cha tôi trịnh trọng áo dài, khăn đóng, quỳ lạy, khấn vái. Khoảnh sân rộng, trong đêm trừ tịch, giữa đất trời mông mênh, kỳ vĩ, tôi nghe như hồn thiêng quê cha đất tổ lung linh trong ánh nến, kỳ ảo trong nghi ngút khói hương, khói trầm. Vào nhà, chắp tay trước bàn thờ tổ tiên trang nghiêm, tôi cảm nhận mối gắn kết thiêng liêng về cội nguồn tộc họ, về tôn ti thứ bậc họ hàng.

Tất cả những điều rất bình thường, rất giản dị như thế ở làng quê, mà tôi chưa hề cảm nhận  suốt gần hai mươi năm nơi phố xá xa hoa này, thì lòng tôi sao khỏi trống huơ, vắng lạnh, hẫng hụt, khi mỗi độ Tết đến, người ta kéo nhau về quê sum vấy, đoàn tụ, bỏ mặc thị thành buồn thiu, ngơ ngác. Có tôi trong nó, thẫn thờ, khắc khoải,  chiều ba mươi nát ruột hát bài “Về quê”. Để rồi nghẹn giọng “…thiếu quê hương ta về ta về đâu???” . Và bật khóc ngon lành.

Nhiều khi, thả trôi cảm xúc dập dềnh theo dòng hồi ức miên man, bằng giọng trầm buồn, nửa như có chủ ý, nửa bâng quơ, mẹ kể:  “Hồi nớ, cha con đem cái núm rún của con chôn sau vườn, gần bờ tre, giữa bụi chuối và gốc mít…”. Cuống rốn ấy đã hóa đất từ lâu lắm rồi. Nó vẫn quẩn quanh, loay hoay trong lòng đất, chỗ gốc mít, bụi chuối, bờ tre xa xưa. Nó là một phần máu thịt của tôi, cũng là của mẹ, của cha tôi. Thử hỏi chiều cuối năm rồi, mà quê nhà vẫn mịt mờ, xa lắc xa lơ, làm sao mình khỏi nát lòng nát dạ, khỏi thắt ruột thắt gan?!


VỀ THĂM QUÊ

Lê Lộc


Về quê. Một chuyến đi vội vàng, gấp gáp. Nhưng về quê bao giờ cũng thế, lòng cứ rộn ràng, háo hức, thắc thỏm, hồi hộp… Mười lần như chục, hể hả niềm vui, tíu tít nỗi mừng. Như thể nơi đây là nặng nề, ngột ngạt, bụi bặm… Còn ngoài nớ mới nhẹ tênh, phóng khoáng, trong lành…

Về, là về tạ lỗi trước mộ cha kính yêu, nơi đầu làng quạnh hiu nhang khói. Đốt nén hương mà lòng con thổn thức, nước mắt đầm đìa. Một đời cha vất vả, cơ cực. Cha từng dầm mưa dãi nắng, làm lụng cật lực, ăn uống kham khổ, chắt bóp từng đồng nơi quê nghèo gởi ngược vào thành phố cho cháu nội ăn học, cùng nuôi giấc mơ đổi đời với con, với cháu. Thấm thoát mười lăm năm rồi còn gì. Giấc mơ đổi đời đã lụi tàn dần theo năm tháng nghiệt ngã, mà cuộc đời vẫn chưa đổi thay là mấy. Tóc con đã bạc tự bao giờ. Rồi con cũng hiểu ra triết lý sống giản đơn “tri túc” của người xưa, để tự an ủi, tự vỗ về. Vẫn còn sót lại những phút giây trầm ngâm, giằng xé. Nhưng lòng đã nghe thanh thản, nhẹ nhàng hơn.

Về, là về với mẹ già đang từng ngày thắc thỏm chờ con. Đâu ngờ mẹ đã ra đầu ngõ đón con từ lúc nào. Ánh mắt sáng lên niềm vui, nụ cười tươi tắn, bao dung, hiền từ. Nắm tay con, mẹ quở: “Họ đi Sài Gòn, ai cũng mập ù, còn con răng mà cứ ốm nhách, ốm nhom như ri con hè?!”. Con ái ngại, lúng ta lúng túng chẳng biết nên trả lời mẹ thế nào đây. Đâu phải hễ ai đi ra cũng… “mập” đâu mẹ, ngậm ngùi con nghĩ bụng. Mập, thường vẫn khiến người ta liên tưởng về một cuộc sống đủ đầy, ấm no, sung túc. Mà con của mẹ hãy còn… , trong khi đời mình đã gần xế chiều rồi. Nhìn con ra vẻ đăm chiêu, mẹ chột dạ: “Ý chết! Mẹ nói rứa làm con buồn phải không? Thôi, vô nhà tắm rửa rồi ăn cơm, mẹ nấu sẵn rồi”. Mâm cơm dọn ra, mẹ ăn qua quít, chỉ lo sớt cơm, gắp thức ăn cho con. Con chợt cảm nhận tình mẹ cao cả đến dường nào: “Mẹ chín mươi tuổi vẫn còn lo cho con bảy mươi” là vậy!

Về, là về thăm em gái mến thương. Em hiền lành, chân chất. Em chịu khó, tận tụy, hy sinh. Mà đời em mãi lao đao, lận đận. Suốt thời con gái, em ở cùng cha mẹ, để anh chị yên tâm dắt con ra đi với giấc mơ đổi đời làm hành trang. Khi cha ngã bệnh, nằm liệt giường, em vừa lo phụng dưỡng vừa lo cáng đáng mọi việc trong nhà ngoài đồng. Lần lữa mãi rồi em cũng phải có chồng. Phải có một đứa con để nương tựa lúc tuổi già bóng xế chứ! Phận gái mười hai bến nước, số phận đẩy đưa em trôi dạt tới bến “có chồng cũng như không”. Nhưng, em vẫn thế, lặng thầm chịu đựng. Nhìn em gầy gò, quắt héo, lòng anh lại rưng rưng buồn!

Về, là về nhìn lại mảnh vườn cũ, mái nhà xưa. Mà lòng chết lặng. Nhà mình đấy ư!? Vườn không, nhà trống. Hoang lạnh, tiêu điều. Thoáng chốc, một quãng đời yên ả, ấm êm bỗng xa hút, mất tăm… Cứ như là chưa hề có. Nhớ, nhớ quặn lòng cái thuở trên nền đất này, cha mẹ, anh em quây quần, xúm xít dưới mái nhà đơn sơ, nhưng vô cùng ấm cúng. Kể từ khi  vợ chồng con khăn gói vào thành phố mưu sinh, các em lần lượt rời mái ấm theo chồng. Rồi đến lượt cha ra đi vĩnh viễn về cõi khác. Mẹ già yếu, mong manh như đèn trước gió. Mà mưa bão, lũ lụt miền Trung bao giờ cũng dữ dội, tàn khốc. Cuối cùng, mẹ phải bỏ nhà tạm lánh sang bên ngoại. Đành đoạn mỗi người một nơi, đau thắt ruột gan. Chiều nay, dưới mái hiên nhà quạnh vắng, liêu xiêu dáng đứng, chơi vơi nỗi niềm, nước mắt con lại rơi, và mất hút giữa cơ man là cỏ dại!

Về, là về dạo thăm ruộng đồng. Cởi bỏ giày dép, xắn quần đi chân trần, lội khắp triền kênh, bờ ruộng. Để tìm lại chút giao cảm giữa bàn chân ta, là da thịt, là xương máu của người với đất. Đất và người đã từng là của nhau, trong nhau. Những sáng sớm tinh mơ, ruộng đồng đã thức dậy đón bước chân trần. Lưỡi cuốc, đường cày lật đất lên, trưa hè bỏng rát lòng bàn chân. Nước và đất quyện vào nhau, cái lạnh cuối đông cắt da cắt thịt, chân người vẫn lấm lem bùn đất. Mồ hôi và nước mắt rơi thấm vào đất. Tinh lực của người cùng ân tình của đất hoà quyện và chuyển hoá thành  dưỡng chất để bật ra mầm sống cho hạt lúa, củ khoai, trái bắp… Tình người và đất qua từng ngày, từng tháng, từng năm đã gắn kết, bền chặt. Thế mà hôm nay, bỗng ngậm ngùi nhận ra, bàn chân trần của ta, đã từ lâu không chạm đến, không được tiếp xúc với đất, dường như đã lạ lẫm, đã nguội lạnh cảm xúc về đất!

Vài ba ngày ở quê trôi qua thật nhanh. Lại phải quay vào thành phố. Ở phố dường như khó mà nhìn thấy đất, để gần gũi, thân cận với đất. Gạch đá, bê-tông, đường nhựa… giành giật từng tí một, để lấp che, phủ kín, ngăn cách đất. Thế rồi, bàn chân trần lại thèm, lại nhớ quắt quay cảm giác êm ái, đằm thắm khi dẫm lên cỏ dại của những nẻo đường làng quê!

LÊ LỘC

Chùm tản văn của Nguyễn Điện Nam

NỖI LO MÙA GẶT

NGUYỄN ĐIỆN NAM

Lúa đã chín vàng. Những cánh đồng lớn từ Điện Bàn vào Duy Xuyên, Thăng Bình… rậm rịch vào đợt gặt rộ trong tuần này. Ngặt thay, trời thu cứ sáng nắng chiều mưa, bà con nông dân lại thêm một mùa gánh nỗi lo trĩu nặng.

Ngoài lo chuyện…ông trời, nông dân còn vất vả bao chuyện khác nữa. Vụ mùa nào cũng canh cánh, hết lo chống hạn, sâu rầy, thì đến mưa gió lụt lội, đặc biệt là nhân công. Năm nay, có khác mọi năm là đã thấy xuất hiện thêm nhiều điểm bán máy cắt lúa. Cũng đã xuất hiện nhiều nhóm “thợ gặt chuyên nghiệp” được trang bị các nông cụ để gặt thuê, từ máy cắt đến tuốt lúa. Cơ khí hóa dẫn thay thế lao động thủ công, đó là xu hướng đáng mừng. Nhưng bài toán về lời lãi trên đám ruộng thì tính rợ cũng thấy trằn trọc. Bởi có quá nhiều chi phí. Làm ruộng, chủ yếu lấy công làm lời, nhưng nhân công thì ngày càng cao giá vì thuê mướn khó. Ngay đã thuê cắt, tuốt ra lúa hạt, vô bao sẵn nhưng nhờ người vác lên bờ cũng đã hết 10 ngàn đồng/bao. Nếu cái gì cũng thuê, từ cày bừa đến sạ, bơm thuốc, gặt, chở lúa về nhà thì cầm chắc không lời mấy đồng. Gặt trúng khi mưa lụt thì càng lỗ gấp bội.

Có người nói “làm ruộng bây giờ sướng thiệt”, ấy là chỉ thấy phần cơ giới, thấy cả đống lúa trên sân, nhưng không ai có thể đo đếm những nỗi lo, bồn chồn, phập phồng của nông dân trên ruộng đồng để làm ra hạt lúa. Một số nhà thiếu nhân công đành phải tìm kiếm người khác cho không ruộng để họ làm, nhưng cũng không mấy ai mặn mà. Công nghệ thu hoạch và sau thu hoạch đang là chướng ngại cho không ít nông dân, nhất là những vùng đồng ruộng còn manh mún, dân cư thưa thớt lại ở xa đồng.

Đã đến lúc cần xem việc đồn điền đổi thửa ở các vùng trồng lúa tập trung là hướng tháo gỡ quyết liệt. Khi dồn điền, sẽ tạo điều kiện để quy hoạch lại đồng ruộng, đầu tư giao thông nội đồng và gia tăng sản xuất, thu hoạch bằng phương tiện cơ giới. Một số vùng không có hoặc chưa hội đủ điều kiện thuận lợi thì nên hướng dẫn bà con nông dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp để tăng giá trị trên một đơn vị diện tích. Cần bao nhiêu diện tích lúa là đủ để ổn định, giữ an toàn lương thực tại chỗ? Và bao nhiêu diện tích cần chuyển đổi, trồng loại cây gì cho giá trị kinh tế cao hơn? Những câu hỏi đó tiếp tục đặt ra cho các ngành chức năng, cho các nhà quy hoạch sản xuất nông nghiệp. Có trả lời được thì mới nói chuyện hỗ trợ cho nông dân một cách hiệu quả, thiết thực.

VẮNG ĐÀN ÔNG

NGUYỄN ĐIỆN NAM

Chị đã ngoài năm mươi tuổi, ở vậy, nuôi mẹ già. Chiều đầu thu, về thăm, vừa gặp chị đã nói: Làng vắng đàn ông. Nghe, tưởng chuyện tình duyên đã lỡ, buồn. Nhưng không hẳn vậy, đâu phải vậy.

Số là, từ ngày quê tôi – Điện Bàn, có Khu công nghiệp Điện Nam – Điện Ngọc, đàn ông của làng dần đi vắng. Chính xác hơn là chỉ có mấy ông già, hoặc những người đàn ông mất sức lao động mới ở nhà, ở làng. Hầu hết thanh niên tìm cách  ra đi. Xa thì xuôi Nam ngược Bắc. Gần thì bám các khu công nghiệp làm “thợ đụng” (đụng chi làm nấy). Thợ hồ xây nhà máy. Thợ mộc làm đồ trang trí nội thất. Cũng có những gã thợ gặt không biết làm chi cũng đi phụ trộn bê tông đúc bi cống, đúc tấm lát vỉa cho cá khu tái định cư, khu đô thị… Lớp trẻ hơn, vừa học xong trung học vào làm gạch Đồng Tâm, giày Ricker, các nhà máy chế biến…

Vậy nên, chỉ có những người đàn bà ở lại giữ làng, bám mấy mảnh ruộng vườn. Chị là người trong số đó. Một mảnh vườn, hai con heo nái, sáu sào ruộng, một tay chị cáng đáng. Nhưng sức yếu rồi, không ai đổi công cho đàn bà, nên thảy mọi việc đồng áng phải thuê người làm. Một sào ruộng, thuê từ người bơm thuốc, cày, bừa, người gặt, thuê máy nổ tuốt lúa, rốt cuộc chỉ còn công không để kiếm gạo ăn. Không lời, nhưng không thể bỏ ruộng vì câu chuyện lỡ thì. Quá trình chuyển dịch lao động, từ nông nghiệp qua phi nông nghiệp, không đơn giản như mấy con tính của nhà kinh tế. Cũng có vùng, ruộng bỏ cho cỏ mọc. Vì điều đơn giản, chỉ mỗi khi làng có người chết, người ta mới dành vài tiếng đồng hồ đi đưa đám, khiêng ma. Ngày thường, làng vắng tanh, rất ít thấy bóng đàn ông, mấy ai mặn mà với sào ruộng lúa.

Nhân câu chuyện của chị, của những người đàn bà ở làng, lại nghĩ đến điều khác nữa. Như huyện Núi Thành, vấn đề sẽ lại xới lên mối quan tâm về thành tựu trong thời gian qua và sắp đến là chuyện giải tỏa để nhường đất xây dựng những nhà máy. Núi Thành đã từng cố gắng kêu gọi các nhà máy, xí nghiệp giải quyết lao động địa phương. Song soát xét, có lẽ cơ hội dành nhiều hơn cho thanh niên, đàn ông, còn những người già, những người đàn bà đã qua tuối trung niên, phải tự tìm kiếm những việc vặt. Đây không chỉ là câu chuyện kinh tế, là chuyện phân công lao động, mà sẽ nảy ra vấn đề xã hội. Có cái gì đó, gợi lên như một niềm cô đơn. Người có ruộng thì làm cho đỡ buồn. Người không có ruộng thì làm chi hè?

Vắng đàn ông trên những cánh đồng là chuyện nên mừng trong chuyển dịch lao động.

Nhưng có sự chuyển dịch nào mà không để lại một bờ đã ra đi trống vắng đến nao lòng? Bởi ở đó, chỉ còn những người đàn bà, chỉ còn chị tôi, tự làm nên ngọn khói lam chiều bên mái rạ!

CHƠI TRĂNG MỘT KHÚC THU BỒN

Thuyền ngược dòng Thu

Nguyễn Hàn Chung

Chúng tôi tụ dưới chân cầu Vĩnh Điện đợi lúc trăng vừa nhô lên khỏi ngọn tre phía hạ lưu  là lên đường .Chiếc động cơ mấy mưoi sức ngựa gặp  lúc được nghỉ ngơi mừng rỡ nhường chỗ cho hơn mười mấy tay chèo bập bềnh quẫy nước .

Thuyền chậm chạp rời bến ,những cánh tay lâu nay chỉ quen cầm phấn, cầm viết ,nay cầm thử tay chèo thấy nó vương vướng thế nào.Lúc đầu những tay chèo nghiêp dư ấy còn hăm hở chèo chống, hô, hò dô ta loạn xạ nhưng chỉ một lúc sau cường độ nhịp chèo lơi dần chỉ nghe những tiếng thở hổn hển ,tiếng trống đánh tinh tang nơi lồng ngực.Nước đang lên, chảy khá xiết,hơn mươi cánh tay lẻo khoeỏ ấy thì có nhằm nhò gì. Thuyền ngãng ra chợt quay đầu .Cô lái đò khởi động máy, con thuyền chững lại rồi chồm lên ,các tay chèo nghệ sĩ hầu hết đều nằm vật ra khoang  nghỉ cho lại sức .Thuyền đến bến sông gần chân tháp Bằng An thì dừng lại,ở bờ sông trèo lên ngọn tre vạch lá  nhìn lên tháp Bằng An giống như một dấu chấm than mà ai đó vô tình viết ngược .Chợt nhớ câu thơ của  người bạn văn từ thuở ấu thời “Tháp rất cũ mà muôn đời vẫn lạ -Dấu chấm than lồng lộng bên trời… “*

.Ở một huyện phía bắc của tỉnh Quảng Nam như  Điện Bàn không có một quần thể di tích Chăm nào điêu tàn một cách tráng lệ như  Mỹ Sơn của  Duy Xuyên chỉ có độc một cây tháp Bằng An cô đơn trơ trọi với những viên gạch rêu gầy mòn nhưng đấy chính là một chút nỗi niềm cố quận “ Qua quê mẹ không ghé về thăm mẹ – Con đứng bên nầy sóng vỗ rát thời gian “ của những người con vì bất cứ một lý do gì đó đã phải rời bỏ nơi chôn nhau cắt rốn để ra đi .

Thuyền rời bến sông ngược dòng chảy về với thượng nguồn.Hai bên bờ sông rải một thảm dưa cơ man là trái ,trái già , trái trẻ lủ khủ chồng chất. Co người biết bảo qua khỏi cánh đồng dưa là  gặp  mộ cụ Tổng Đốc Hoàng. Người danh sĩ  của đất Gò nổi ấy đã từ biệt mẹ già vợ yếu ngàn dặm quan san trấn nhậm thành Hà Nội ,giặc dữ chiếm thành sức cô, binh bại đã lấy cái chết đáp đền quê xứ. Tấm gương mất thành thành mất mất theo thành *** đã ghi vào thanh sử  một mảnh hồn trung liệt .Xế lên hơn chút nữa là quê cụ Trần Cao Vân người từng thấu cảm lẽ huyền vi trong Trung thiên dịch .Người đã cùng với cụ Thái Phiên mưu đồ phục quốc mà mưu  sự bất thành .Chợt nhớ hai câu thơ của người nghĩa sĩ  Nhượng Tống “Người dẫu chết đi lòng vẫn sống- Việc dù hỏng nữa tội là công “

Thuyền đi vào một khúc sông hẹp nơi có một cây cầu tre bắc ngang sông.Không biết cây cầu mảnh mai thế ấy làm sao có thể trụ lại qua một mùa bão lũ chứ đừng nói lâu la gì .Mới thấy cụm từ “cầu tre lắt lẻo”rất hiện thực chứ không phải là một hình ảnh sáo mòn môt chút nào   .Cây cầu tre ấy làm sao có thể so với  cầu Câu Lâu.cầu Vĩnh Điện chứ chưa dám so sánh với cây cầu hiện đại nào khâc,song chính cây cầu tre ấy đã níu giữ  những người con  Điện Bàn trên mỗi bước đường luân lạc tha hương không bao giờ quên mảnh đất như chiếc nôi giữa bốn bề sóng nước .

Thuyền qua một khúc ngoặt nữa rồi trườn ra cửa lớn .Bây giờ trăng đã lên cao chiếu ánh sánh rờ rỡ xuống trường giang, chúng tôi neo thuyền lại bày loại rượu quê nấu củi ra giữa khoang thuyền .Nước từ sông lớn nghi ngút bốc hương .Hương bèo ,hương rong , hương cỏ ,phả vào mặt đến mát lạnh .Một anh bạn nào đó không rõ quả quyết anh đã đi nhiều xứ xang quê người  nhưng không có một cái phòng lạnh  của bất cứ  khách sạn năm sao nào mát bằng khói sóng trên sông Thu Bồn những đêm trăng hạ như đêm nay.

, Đã có trăng ,sông , rượu ,khuya về bát ngát tất nhiên phải có thơ thôi .Thôi thì thơ ca kim cổ ,thơ người ,thơ mình đều được cái giọng Quảng nam quê mùa khí phách tuôn ra lai láng .Ngâm rồi lại bình , bình rồi  lại cãi ,thách đố, chòng ghẹo ỏm tỏi vang lên náo động cả một vùng sông nước .Cả những câu hát Quảng đời nảo đời nao thất truyền bí hiểm kiểu Chuồn chuồn đậu ngọn roi cày –Anh ở xóm dưới  vác chày đi lên hoặc Tiếng đồn Vĩnh điện, La qua – Không chồng mà chết hết ba mươi người- Cụ bà  nghe nói thất cườii – Nên lấy ông cụ chín mười năm ni“ v..v đều được tận dụng  thuật, trích , bình ( tất nhiên là có thêm bớt ) gầy được những trận cười hào sảng.

Đêm càng về khuya trăng càng sáng hay là cảm thấy thế  cũng không biết nữa.Lanh run mà chưa ai muốn thả thuyền trôi về .Mới ngộ ra một điều mà chẳng mấy khi nhận ra dù đã là người lưu lạc :”Bé tí ở quê chẳng được tích sự gì ngoài chuyện thả diều, bắt dế –Trai trẻ dập dờn con sóng xa cứ tưởng biếc xanh là bể-Già cỗi về quê còn nước nôi chi , nhắc chuyện cũ vắn, dài sông lệ-Thường khi tát cạn đời người. mới ngấm điều giản đơn như thế**** “Nhưng khi đã ngấm rồi  thì hà cớ gì lại chẳng quay về“với mẹ ta xưa –miệng nhai cơm búng lưỡi lừa cá xương”để được đi ngược dòng Thu mà hưởng thú thanh tao  sông nước quê mình .

Mình ơi !

Tạp bút

Mình ơi !
Nguyễn Hàn Chung

I
Ngày nhỏ  lớn tồng ngổng tồng ngồng rồi mà sướng thật  tôi còn được mẹ , bà nội , mấy dì  cu cu kiệu cõng,  bế bồng sấp ngửa  long nhong quanh xóm .Có hôm mẹ tôi đang giã gạo chày vồ một mình một cối ở xó bếp tôi  thì khóc ngằn ngặt  mà ba tôi mải mê  tập trung tinh lực vắt óc nghiệm giải  cho bằng được nước cờ hóc hiểm  của ông nội trên tấm phản gỗ  kê giữa nhà . Thấy cả hai đấng nam nhi dường như bị điếc  mẹ tôi ở nhà dưới gọi vọng lên ơi ới : Mình ơi! cho con nó thắt .Mình ơi!mình ơi! .Gọi đến đâu khoảng đôi ba lần nội tôi chợt ngẩng đầu lên đưa tay xoá quân cờ ba tôi mới tỉnh giấc chạy ù  vơ quàng cái tao nôi lúc la lúc lắc đưa tôi vào giấc.
II
Hai tiếng mình ơi nghe thân thương một cách thắt lòng ấy hơn 50 năm nay tôi chưa hề được nghe lại một lần nào nữa mãi  cho đến đêm nay dường như tôi mới  được  nhập vào cuộc  tái ngộ  mơ hồ mà vẫn  rõ  mồn một trong …một giấc ngủ mệt mỏi sau một ngày vật lộn chân tay với một núi công việc  ở ngoại ô  Houston Texas một thành phố có đông người Việt cư trú  nằm phía tây nam nước Mỹ .Tôi như người bị ma ám  choàng thức mở computer gõ vội mấy dòng nầy bởi sợ  sáng  mai  thức dậy đối diện với cái thực tế  tức tưởi khắc nghiệt  sẽ tiêu tán mất  cái âm thanh huyền hồ kỳ diệu của hai tiếng mình ơi được ký ức ám thị cho mình đêm qua.
Ngay tại quê nhà bây giờ hai tiếng mình ơi cũng là của hiếm huống gì xứ người tất tần tật  san bằng  đồng thị  cha con, chồng vợ ,thầy trò một lứa I-you. Có thể  cái anh Việt kiều tôi ơi hồi hộp nầy nợ cổ quá chăng ! Chỉ tại lòng tôi nó vậy thì chịu vậy.

16/4/2000

LỜI GIẢI ?

Năm 1972 ở miền Nam Việt Nam  chính quyền Sài gòn bắt lính ráo riết. Một hôm cảnh sát dã chiến ập vào khu bọn sinh viên nghèo chúng tôi tá túcï. Họ lục soát thật rát. Bốn phương tám hướng đều bị những chiếc áo rằn ri và những họng súng đen ngòm bịt kín.Thế là tuyệt đường tẩu mã tôi đánh liều nhảy đại vào một thùng  carton loại  có nắp của quân đội Mỹ thải ra thời bấy giờ trong đó đựng quần áo phụ nữ mà tôi đoan chắc là của cô chủ nhỏ đang học cấp ba nhà tôi trọ. Chẳng quản tấm thân nam tử tôi bươi đống quần áo ra và chui vào mắt chợt thấy mấy tờ bạc nghìn ló ra ở một góc thùng. Không kịp suy nghĩ  tôi  ngồi thụp xuống đội tờ giấy bạc trên đầu.Tiếng giày đinh ken két tiến tới gần. Tờ bạc nhanh chóng bốc hơi. Hú vía! Thế là thoát, lại được hưởng một bữa… thơm tho. Tất nhiên mẹ tôi phải bán mấy con gà mái tơ đang đẻ để trả cho cô chủ nhỏ bởi đó là số tiền em nhịn ăn sáng để dành gửi cho mấy chú ở ngoài bưng.

Ba mươi năm sau tôi trở thành một nhà văn đi dự trại sáng tác ở một thành phố ven biển miền Trung. Xe đến một khúc đèo vào nửa đêm thì bị đón lại bởi một bóng đèn nhỏ tí nào đó. Tôi nghe có tiếng thầm thì thưa gửi của lái xe  nhưng bị  át bởi tiếng tiếng quát phẫn nộ của anh cảnh sát giao thông. Anh đòi lập biên bản cánh nhà xe  đã dùng tiền bạc mua chuộc, cám dỗ làm tha hóa đạo đức  nhân viên công lực. Cánh nhà xe, rồi cả hành khách phải  van vỉ mãi mới được các anh cho đóng tiền phạt vì xe chở quá tải.

Hai đoạn văn trên đều do bạn  tôi, một thầy giáo làng dạy học ở miền Nam từ trước 1975 đến nay sáng tác và thưa quý bạn chính bản thân tôi cũng không biết  đoạn nào được tác giả phản ánh hiện thực bằng bút pháp lãng mạn?  Hỏi bạn chỉ cười. Xin thỉnh thị  một lời giải ?

Ngày xử tội Quan Kim

Đao phủ tế đao.Tội nhân buông lời bi tráng:-Chết thì có gì đáng sợ,ngươi có thể vin vào cái luật pháp vô nhân của bọn khuyển nho để tàn hại những khách chung tình , nhưng chỉ sợ thế gian từ đây chỉ còn rặt một bọn ong bướm vật vờ phụ tình,bạc ngãi.Có tiếng quát  :- Chính bọn văn nhân nấp bóng công môn các ngươi mới là một lũ  mượn chuyện văn chương thơ phú ca ngợi tình yêu bất diệt để biện minh cho tội bỏ mặc  sinh linh vô tội của mình.Ta hỏi ngươi hãy nghe cho kỹ : Ngươi chiếm bảng xuân,ngoại nhậm Lâm Truy là đất nhiễu nhương đầy rẫy bọn Mã,Sở,Tú,Bạc  buôn thịt bán người hoành hành bá đạo.Ngươi không lo trấn áp bọn tội đồ lại buông lỏng chính sự,lúc nào cũng lao đao thẫn thờ để hang cùng ngõ hẻm chồng chất oán hờn là nghĩa làm sao?-Ta độc chiếm khôi nguyên để cho đời biết  ta là kẻ không hổ với câu ‘’phú hậu tài danh ,văn chương nết đất’’  chứ cần gì cái thứ quan trường mặt sắt , bòn khố rách sắm dù sơn kiệu đó đâu? Ta đã rắp mong treo ấn từ quan tìm nàng chỉ là chưa có dịp mà thôi .Nếu quan nha  của cái Gia Tĩnh triều Minh bốn phương phẳng lặng hai kinh vững vàng ấy mà trấn áp được bọn đầu trâu mặt ngựa Mã,Bạc,Tú, Sở, Khuyển ,Ưng cậy thế quan trên ào ào như sôi ấy thì làm gì  Từ Hải phải động lòng bốn phương,  trời biển mênh mang,  thanh gươm yên ngựa ruổi rong,vung lưỡi gươm công lý!- Ngươi đừng có ngậm máu phun người, có phải quan viên nào cũng ’’ miệng quan trôn trẻ ’’ cả đâu .Đaọ làm quan ,ăn lộc triều đình  hưởng mồ hôi nước mắt của chúng  dân  không nghĩ đến chuyện báo đáp  mà lúc nào cũng làm bộ ‘’rắp mong treo ấn từ quan ‘’ , mượn cớ nhất phiến chung tình nườm nượp .đàn đúm , hằng vào, ra chốn kỹ viện, thanh lâu   nói là tìm một cánh hồng biền biệt nhưng thật ra là một lũ ngụy quân tử ,giao cho bọn sư gia quạt mo xử án làm nhục công môn ,bẻ cong phép nước hại người lương thiện còn mình hưởng thú phong lưu khoái lạc nơi màn loan trướng gấm với đám quần hồng  . Tội ngươi đáng chém gấp vạn lần không một chút nào oan uổng, còn oán thán nỗi gì?-Ta không tiếc thân mình ,dù chết dưới hoa cũng làm quỷ phong lưu một kiếp ,có điều xử ta tội chết thì cái lũ gian thần hại dân hại nước từ cổ chí kim   còn biết xử thế nào ?- Cái lũ dốt nát nhờ thân thích hoặc lắm bạc nhiều tiền    thành quan tham tuy đáng tội nhưng đó là lũ thất phu vô học giết bọn đó chẳng có tác dụng răn đe đối với bọn dốt nát có học đời sau bao nhiêu. Ngươi đâu còn là một gã tình si ‘’vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa ‘’mà đã là một bậc đường quan đầy mình chữ nghĩa mở miệng là lấy lời thánh nhân răn dạy bọn dân đen con đỏ, làm ra vẻ  rạch ròi cán cân công lý . Thế mà ngươi lại thỏa nghĩa với một người đàn bà  dẫu  nàng là giai nhân tuyệt thế khuynh quốc khuynh thành đi nữa  cũng chỉ là một người mà quay lưng với lầm than trăm họ,sao còn xứng với  áo mũ cân đai, hạng người như ngươi Hán Cao Tổ Lưu Bang đái vào mũ nhà nho là xứng đáng đội mũ mão để làm khổ chúng dân như lũ quan si các ngươi tội nghiệt càng thêm trọng. Danh vọng và tình yêu,vợ đẹp con khôn ngươi  đều muốn vơ cả, sao mà tham lam quá vậy? -…-Nếu ngươi thật sự chung tình  với nàng sao không dứt khoát vất bỏ áo xiêm ràng buộc  mà mới chỉ’’ rắp mong treo ấn từ quan ’’, rắp mong nghĩa là còn do dự chưa dám quyết .Còn do dự trong tình yêu mà dám xưng đệ nhất chung tình ư? , tuy nhiên   nếu ngươi là kẻ ít học không đọc thi thư mà hồn nhiên gây tội thì ta  có thể xử ở khung hình phạt nhẹ nhất là đuổi cổ về quê cày sâu ,cuốc bẩm  để hiểu chuyện nhất nông nhì sĩ  nó thấm thía thế nào  là đủ. Ta gạt lệ tuyên án trảm ngươi một văn quan từng nấu sử sôi kinh độc chiếm bảng vàng là để răn kẻ có học ăn cơm mặc áo dân ngàn đời sau phải nhớ nằm lòng câu ‘’phép công là trọng niềm tây sá nào’’mà luôn vì nước quên thân vì dân tận lực.Đừng trách ta tàn nhẫn : Tình tiết tăng nặng của bọn quan tham khoa bảng các ngươi là không thể tha thứ dù chỉ một lần.’’ Giết một người cứu muôn người’’ mới là tâm ý của bản toà . Tiếng vừa dứt ba hồi trống lệnh nổi lên ,tội nhân dường như hiểu thấu lời của pháp quan nên ngửa cổ chịu chém không nói một lời phản biện nào nữa.Có  trang quốc sắc tuổi quá ba mươi thét to lên :-’’Oi Kim lang hỡi Kim lang thôi thôi thiếp mới phụ chàng từ đây’’rồi ôm đàn tỳ bà gảy đến ‘’bốn dây rỏ máu’’.  Một người phụ nữ  khác mặt tròn vành vạnh  nét ngài nở nang tay dắt con thơ  đứng ngây dại thẫn thờ.Sinh thời nghe ba tôi thuật lại giấc mơ này, cụ cố nhà tôi tuổi thấu trăm ném bút thở dài :- Đại Nguyễn có mắt nhìn sáu cõi,tấm lòng thấu cả ngàn đời chắc vụ thảm án này ngưòi có từng nghĩ đến, chẳng qua người không bộc tỏ để ‘’tam bách dư niên hậu’’ có ‘’thiên hạ hà nhân’’nào ‘’khấp Tố Như’’ không?.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.