Cha, con và nghề giáo – nghiệp thơ

Ngô Hà Phương – Ngô Thị Thục Trang:

Cha con Ngô Hà Phương, Ngô Thị Thục Trang là một trường hợp đặc biệt trong làng văn chương xứ Quảng, bởi cả hai cùng theo đuổi nghề giáo nhưng nghiệp thơ đã lỡ vận vào mình…

- Chọn nghề giáo nhưng vẫn đều đặn in thơ, có phải dạy học là cái duyên còn con đường thơ dường như là định mệnh?
- Ngô Hà Phương (NHP): Nghề giáo khá ổn định, mô phạm; cuộc sống nhà giáo chuẩn mực và ít trắc trở. Còn thơ và người thơ cần lắm sự lãng mạn, ngẫu hứng… Thế nhưng, tôi quan niệm thơ trước hết là chốn để mình giãi bày nỗi niềm, sự rung cảm từ cuộc sống. Tôi vốn được cụ thân sinh dạy làm thơ từ nhỏ và biết làm thơ từ đó. Rồi có giai đoạn đời sống nhà giáo rơi vào khó khăn, cực nhọc, tôi đã quên mất thơ. Sau bao phen “lưu lạc”, khi tuổi đã xế chiều, sực nhớ ra… thơ vẫn gắn bó máu thịt với mình như con người phải cần đến không khí để thở đấy thôi.

alt
Hai thế hệ nhà giáo – nhà thơ Ngô Hà Phương và Ngô Thị Thục Trang.

-Ngô Thị Thục Trang (NTTT): Khi làm thơ, tôi quên mất mình là một nhà giáo. Lúc đó, tôi như người say, bao cảm xúc về quê hương, tình yêu, phận người tôi đều gửi hết vào thơ. Có lẽ, cũng nhờ đi theo nghề giáo, tôi thấy mình có thêm nhiều thời gian để trải nghiệm và sống cho thơ hơn nữa. Việc dạy học (nhất là dạy các môn tự nhiên) đòi hỏi ở tôi tính mô phạm rất cao. Nhưng sau bục giảng, tôi lại là một phụ nữ lãng mạn, ưa quan sát, chiêm nghiệm cuộc sống…
- Hội VHNT Quảng Nam vừa trao giải C cho “Bóng làng” – tập thơ vừa mới “trình làng” đầu năm nay của NHP. Giải thưởng này đến với anh như một duyên may hay là sự minh chứng cho vườn thơ đang độ chín?
- NHP: Làm thơ khá sớm nhưng tới tuổi này tôi mới chọn in tác phẩm đầu tay, bởi tôi thích sự cẩn trọng, chỉn chu. Giải thưởng đến với tôi như duyên may, hẳn rồi. Tôi không dám bình luận gì thêm, chỉ mừng khi cách biểu hiện của mình được nhiều người đồng cảm, là món quà lớn nhất đối với tôi.
- Còn NTTT làm thơ, viết văn với bút lực sung mãn và là gương mặt trẻ sớm tạo được dấu ấn riêng. Tại sao mãi đến bây giờ chị vẫn chưa chịu trình làng đứa con tinh thần của mình?
- Đã mấy lần tôi tính xuất bản tập thơ đầu tay nhưng vướng chuyện này nọ, nên cứ lần lữa mãi. Lúc đầu tôi nghĩ, chuyện quan trọng nhất vẫn là sáng tác chứ không phải là chuyện in tác phẩm. Nhưng trước sự động viên rất lớn từ gia đình, bạn bè, giữa năm nay tôi sẽ tập hợp các sáng tác trong vòng 10 năm qua để ra mắt tập thơ. Số lượng truyện ngắn cũng đã kha khá, nhưng tôi chưa hài lòng mấy, tôi muốn sản phẩm của mình khi trình diện công chúng phải hết sức chỉn chu.
- Chừng như hình ảnh quê nhà cứ day dứt mãi trên dòng sông thơ của hai cha con – nhà thơ vậy?
- NHP: Tôi sống nhiều ở quê, cảm xúc về quê rất dồi dào, trong đó ký ức tuổi thơ là nỗi ám ảnh thường trực. Người dân quê vốn sống gắn bó, chan hòa. Tôi yêu từng ngõ làng, lũy tre xanh, con đường quạnh vắng, yêu nét hồn hậu của người dân lao động tảo tần một nắng hai sương… Mọi thứ cảm xúc ấy đi vào thơ tôi rất tự nhiên, không cầu kỳ.
- NTTT: Xa quê từ năm 17 tuổi nên ký ức về quê sâu đậm nhất trong tôi vẫn là năm tháng tuổi mới lớn. Nếu chăng có cuộc trở về, thì không có cuộc trở về nào đẹp nhất là cuộc trở về với thế giới tuổi thần tiên ấy, nó trong sáng và hồn nhiên biết mấy, không dễ gì tìm lại được. Tới nay, tôi vẫn thấy mình chưa làm được điều gì cho quê hương cả.
- Những thao thức về thơ ở một NTTT khi còn đang tuổi thiếu nữ và giờ đây ở vai trò một người mẹ, người vợ trong một tổ ấm mới, thì có gì khác?
- Giọng thơ tuổi thiếu nữ có phần nhẹ nhàng, thiên nhiều về cảm xúc. Khi đã là người phụ nữ của xã hội, của gia đình, thơ tôi xuất hiện những chông chênh, suy nghiệm, có lẽ là thường tình. Nhưng sức mạnh siêu hình nào đó thôi thúc tôi làm thơ thì vẫn vẹn nguyên, có khi còn mãnh liệt hơn. Giai đoạn này, tôi tạm dừng sáng tác thơ bởi tôi rất sợ lặp lại chính mình. Tôi đang tìm kiếm, khám phá hướng đi mới cho thơ. Song, khoảng lặng này cũng ý vị, bởi chỉ trong thời gian ngắn tôi đã viết thêm 20 truyện ngắn. Đó cũng là cách thức để trải nghiệm và cảm xúc thêm chiều thăng hoa.
- Vậy sự cách tân trong thơ?
- NHP: Tôi luôn đảm bảo sự chuẩn mực, gẫy gọn cho câu chữ. Tôi không có chủ đích đi tìm sự cách tân cho thơ, bởi tôi chỉ viết theo nhịp rung cảm của mình. Nếu có, thì cũng chỉ là sự tìm kiếm cách thức diễn đạt mới hơn, tứ thơ súc tích hơn, có một chút thay đổi về cú pháp, từ ngữ chẳng hạn.
-NTTT: Tôi nhận thấy, hiện nay thơ đang trượt vào một lối mòn đáng tiếc, chưa thấy có sự cách tân, đột biến nào trong tư duy. Mà sự “cách tân”, có chăng chủ yếu chỉ là sự đập phá, nổi loạn bằng hình thức đơn thuần. Bản thân người nghệ sĩ cứ luẩn quẩn… dò đường. Tôi nghĩ thế này: anh cứ viết lạ, cứ viết mới đi, nhưng anh phải hiểu mình đang viết cái gì thì mới mong độc giả hiểu và đọc được. Ý thức cách tân trong tôi trước hết là sự thay đổi nhịp câu, thay vì viết những câu có vần điệu êm êm như trước, gần đây thơ tôi xuất hiện những câu trúc trắc, không còn tròn trịa, nhưng cá tính. Tôi luôn nỗ lực tìm kiếm tứ thơ lạ và cách biểu đạt lạ, chẳng hạn như “Em môi cong hửng nắng” (Tin nhắn giao mùa), “Một ánh sẻ chia/nhẹ hơn ngày xám xịt/khi mọi triết lý chẳng làm đêm ngắn được/người hẹn nhau về hóa giải cùng trăng” (Hạt yêu thương)…
- Trong thơ, Trang thấy mình chịu ảnh hưởng từ ai nhất?

Nhà thơ Ngô Hà Phương sinh năm 1955, giáo viên Trường THCS Lý Thường Kiệt (Đại Thạnh). Tác phẩm đầu tay: “Bóng làng” – NXB Đà Nẵng, được trao Giải C – Giải thưởng Hội VHNT Quảng Nam 2011.
Ngô Thị Thục Trang sinh năm 1984, là con gái thứ hai của nhà thơ Ngô Hà Phương. Năm 2005, tốt nghiệp cử nhân hóa học Đại học Sư phạm Huế, hiện giảng dạy tại trường THCS Nguyễn Khuyến (Đà Nẵng). Năm 2005, được giải khuyến khích Cuộc thi thơ bút hoa của Tạp chí Tài hoa trẻ; giải A – giải thưởng thơ Đà Nẵng năm 2009. Có nhiều thơ, văn đăng trên báo trung ương và địa phương.

-Tôi vốn đọc nhiều tác phẩm trong và ngoài nước, nhưng có chịu ảnh hưởng từ ai không thì… không biết. Tôi thường xuyên đọc nghiên cứu, lý luận để làm giàu thêm ngòi bút. Tôi cũng rất khắt khe với câu chữ của mình, bài viết xong cứ sửa đi sửa lại nhiều lần rồi mới để người khác đọc. Tuy nhiên, khi bắt đầu làm thơ, tôi học nhiều từ ba. Tôi học được cách viết nét, bỏ bớt những cảm xúc, những câu chữ không cần thiết từ ông. Ba còn giúp tôi chọn hình ảnh thơ sinh động hơn.
- Nhà thơ Ngô Hà Phương, ông thấy điều này thú vị chứ?
- Tôi thường đọc thơ Trang, cảm nhận được nguồn cảm xúc dồn nén trong đó. Thơ Trang nhanh, nhạy, có nhiều chuyển biến, cách tân, đổi mới; giọng thơ mềm mại nhưng cảm xúc thì mãnh liệt, cháy bỏng. Có thể, những gì tôi không chạm tới được ở trong thơ thì cây bút trẻ như Trang đã thay tôi làm điều đó.
- Nữ tính trong thơ Thục Trang bộc lộ khá đậm nét, chị có thể chia sẻ một chút về điều này?
- Tôi viết từ những gì bên trong con người tôi. Có những cảm xúc thoáng qua, tôi phải bắt kịp; có những cảm xúc lắng đọng, đòi hỏi tính suy nghiệm cao. Có thể bản thân tôi là phụ nữ, nên chuyện bạn nhận thấy tính nữ trong thơ tôi là điều hiển nhiên. Ngoài đời tôi không mấy được nữ tính cho lắm, nên có thể từ trong vô thức tôi đã trút hết tất cả vào trong thơ! (cười).

HOÀNG LIÊN  – QUANG VIỆT (thực hiện

THI CA VÀ NGHỆ THUẬT

QUỲNH  THI

NƠI  XUẤT  PHÁT  RA  THƠ .

Tứ diệu đế : Đất – Nước – Gió – Lửa , tạo nên đời sống vạn vật và con người . Nó cũng tạo nên Thơ . Tinh túy thơ từ đó phát sinh. Và con người biết khai thác , tận dụng làm sinh thú cho đời sống tinh thần của mình .

Nguyên lý của Trời đất tự bao giờ có . Chẳng ai biết , rồi nó ban phát cho muôn loài , được gọi là thiên nhiên . Sông núi hữu tình , hoa nở bốn mùa thắm xinh , khí trời nóng ấm , mát lạnh . Chất thơ mênh mang không thể thiếu hòa quyện vào đời sống , tâm hồn con người , để  con người vui sống , sinh tồn  hiện hữu và hưởng thụ  . Người ta gọi đó là nghệ thuật mà nghệ thuật là cái đẹp . Thi ca là cái đẹp . Những tác phẩm được gọi là nghệ thuật đều tỏa ra ngạt ngào vẻ đẹp .

Tứ diệu đế thăng hoa thành cái đẹp , mà con người phải tìm kiếm . Đi tìm cái đẹp , dĩ nhiên cái đẹp là một sự vật đã có sẵn . Có sẵn không phải là nó lộ diện , hiện hình , mà ta phải đi tìm kiếm . Đi tìm bằng cách sáng tác . Người sáng tác là nghệ sĩ . Nghệ sĩ tạo nặn ra , làm ra , tìm ra cái đẹp để đáp ứng , cầu toàn cái nhu cầu đời sống tâm linh . Do vậy mà người nghệ sĩ là người suốt đời đi tìm . Họ tìm trong thiên nhiên , Trời đất con người . Họ tìm nơi chính họ . Cào cấu nơi chính tư duy của họ . Họ gào thét từ niềm đau , từ trong sâu thẳm cuộc sống để làm nên nghệ thuật . Vậy thì tính chất của nghệ thuật được gạn lọc từ nơi chốn xù sì nhất , ảm đạm nhất , hoang vu nhất . Nó được lấy ra từ một hố thẳm nào thâm sâu nơi con người . Một nơi tăm tối nào từ vực  sâu , rồi người nghệ sĩ dùng tài năng , kiến thức của mình mài dũa , gột rửa , lau chùi rồi nó sẽ được ban cho một thứ ánh sáng huyền diệu  , một thứ hào quang đặc biệt nào mà người nghệ sĩ hà hơi vào , biến nó thành cái đẹp . Họ không thể dễ dàng kiếm ngay ra được một thứ vật quí hiếm , mà phải cất công đi tìm khó nhọc , có khi cái giá phải trả bằng máu hay bằng mạng sống của họ !

Chúng ta thấy người nghệ sĩ điêu khắc , từ khi nắm một vật vô tri , vô hình như thỏi đất đá , gỗ sắt , không phải anh làm chỉ ngày một ngày hai , mà nó trở thành ra pho tượng nghệ thuật theo ý mình . Người họa sĩ đứng trước một khung vải cũng phải ưu tư , tìm tòi , để kiếm ra một đường nét , một mầu sắc , một bố cục cho riêng minh . Cái bố cục và đường nét của bức tranh làm cho bức tranh độc đáo , bắt mắt người thưởng ngoạn , phải tốn biết bao lần phác họa , có khi vẽ đi vẽ lại , thử nghiệm mệt mỏi , si mê điên dại mới vừa ý . Phải tìm để mong bắt gặp một nguồn ánh sáng phép lạ nào soi chiếu vào người mẫu , vào cảnh vật hữu tình , làm hứng khởi . Vóc dáng mà anh vừa tìm thấy , hay khuôn mặt vừa bắt gặp trong trí tưởng trừu tượng hay hiện thực  mà anh cho là nghệ thuật . Ôi chao ! Bao nhiêu là khổ cực và nhẫn nại mà kể .

Nhà văn cũng vậy , khi đặt bút viết , anh ta phải suy nghĩ , ưu tư với đề tài mà mình sẽ viết ra  . Văn thể , cốt truyện , bút pháp , sao cho câu văn chữ nghĩa lôi cuốn người đọc . Anh ta phải biết gieo hạt mầm sự sống vào tác phẩm thì nó mới thật , mới linh động , lúc đó người đọc mới khám phá ra được sự diệu kỳ của văn chương . Còn người làm thơ , đi tìm tứ thơ , đi tìm ngôn ngữ , nhạc tính cho thơ . Anh ta đi tìm cái gợi hứng , cái xúc động , nguồn cảm hứng để viết nên bài thơ , mong làm rung động lòng người , là người phải sống thực trước đã . Làm thơ mà thiếu cái cảm xúc thực của đời sống , thì không thể gọi được là một thi sĩ tài năng . Bài thơ mà không rung động được  lòng người  thì chỉ là một bài thơ vô hồn , một bài thơ vô hồn là một bài thơ chết  . Nó chỉ là một cái xác chữ không hơn .

Nghệ thuật viết văn , tính chất của sự thật dù là hư cấu trong tác phẩm tự nó đã nói lên giá trị cái phẩm hàm để cảm hóa và thuyết phục người đọc . Nghệ thuật phải vượt lên cao hơn lòng thù hận . Vì lòng thù hận chỉ là cái ngã tầm thường , nó làm giảm đi cái giá trị lớn lao của văn chương , của tác phẩm . Nó là mớ bòng bong để tuyên truyền . Nội lực tài năng và bản lãnh của nhà văn là ở chỗ đó . Tư cách là ở chỗ đó .

Có không ít bài thơ mà chúng ta thấy , chữ nghĩa quá mầu mè ướt át  , hay người làm thơ  dùng chữ cầu kỳ giả tạo , cốt để làm dáng uyên bác rởm . Ý nghĩa thì vô hồn , tẻ hạt , không có tăm dáng của cảm xúc

Chúng ta nên nhớ , thơ không dựa và gối đầu lên thứ  lý trí vô tri nhạt nhẽo , mà cái nôi của thơ là chiều rộng của cảm xúc và tư tưởng . Thơ dù là thơ Tự do , thơ Đường luật , thơ tiền chiến hay thơ Tân Hình thức  ( THT ) , thơ không thể nào là một chuỗi tự sự , kể lể dài dòng , thiếu ẩn dụ gợi mở .

Thơ THT Việt thời gian gần đây sa đà vào một khuyết điểm lớn  là : kể chuyện dài dòng , lê thê .  Hơn thế nữa thơ THT lại câu nệ vào số chữ trong câu như  7 chữ  hay 8 chữ , giống và rập khuôn thơ Tiền chiến , khiến người đọc và nhất là  người  làm thơ rất khó chịu , vì sự gò bó vào số chữ qui định trong mỗi câu thơ . Nó làm mất sự tự do lẫn cảm hứng khi làm thơ.

Tuy nhiên thơ THT khác thơ  vần Tiền chiến là : nó không lệ thuộc vào vần bằng trắc nên người ta còn gọi là thơ không vần . Là thơ không vần thì chỉ loại bỏ được việc gò bó vần điệu , khỏi phải đi tìm chữ để cho đúng vần khi đi tìm ý thơ để câu thơ không bị ảnh hưởng cảm hứng . Nhưng ngược lại , THT tự sự , kể lể  như đã nói ở trên nên nó thiếu chất thơ , ít nhạc tính . Thơ THT giống như một đoản văn ngắn . Thiển nghĩ những người thích làm thơ THT Việt cần phải khắc phục để sự phát triển lâu dài và người thưởng ngoạn không bị nhàm chán .

Nên chăng , người làm thơ THT nên loại bỏ một số chữ qui định mỗi câu thơ . Nghĩa là không ấn định số chữ qui định trong mỗi câu thơ , nhưng vẫn giữ cách xuống hàng đột ngột khi câu chưa hết ý . Chúng ta có thể hiểu như là cách làm thơ Tiền chiến phá thể ?

Những người thao thức cách tân thơ , làm mới thơ , đó là  một cần thiết trong nghề thơ , trong nghệ thuật thơ . Chúng ta trân trọng những nhà thơ có tâm huyết đó . Sáng tạo có nghĩa là làm mới . Vì khi họ không làm mới được nữa , thì sáng tạo cũng không còn tiếp tục được . Lúc đó việc làm thơ cũng chỉ là một việc làm giống như loài trâu , bò nhai lại cái bã của mình và của người khác đã nhả ra .

Còn nhớ  hồi gặp nhạc sĩ Trịnh  Công Sơn lúc còn sinh tiền ở Sài Gòn , tôi hỏi . “ Sao lúc này anh  lại vẽ bộ bỏ viết nhạc rồi sao ? “ Anh trả lời .” Mình viết nhạc lúc này gặp bế tắc , nên quay sang vẽ một thời gian xem sao . “ Cách trả lời đó là lòng tự trọng và  khiêm nhường của một người nghệ sĩ lớn .

Những năm sau này âm hưởng dòng nhạc họ Trịnh lan tràn khắp nơi , khiến nhiều người viết nhạc bắt chước , nhái theo âm giai , cung điệu âm nhạc của anh . Ngay cả những người đã có tiếng tăm . Họ quên rằng mỗi người sáng tạo , tác phẩm làm ra phải có một cá tính riêng thì mới được gọi là căn cước của người nghệ sĩ ấy . Người ta không ngạc nhiên khi thấy giới sáng tác  âm nhạc Việt Nam đi thụt lùi so với giới nghệ sĩ  biểu diễn .

Nhưng làm mới nghệ thuật đến đâu ? Làm mới đến chừng nào là do tài năng của người nghệ sĩ ấy thuyết phục thì việc làm mới đó mới có ý nghĩa .

Trong ý nghĩa làm mới thơ ,  không phải cứ nghĩ ra được một thể thơ mới thì mới gọi là làm mới thơ , là Cách tân thơ . Không phải bất cứ lúc nào , hay bất cứ ai cũng có thể phát minh ra một thể thơ mới được , một trường phái mới được .

Bất luận một thể thơ nào cũng có thể làm mới . Làm mới ở đây là làm mới ngôn ngữ , làm mới thi pháp , làm mới hình thức , làm mới nội dung , ý nghĩa bài thơ .v .v . . .

THƠ  VẦN .

Lâu nay tôi làm thơ Tự do mà không làm thơ vần . Không làm thơ vần , không có nghĩa là bỏ hẳn , là đành đoạn chia tay . Lâu lâu không làm , lắm khi cũng nhớ . Như nhớ một người con gái đã xa . Đến một lúc nào ngồi buồn một mình , suy nghĩ vẩn vơ lại mong có dịp gặp lại .

Dẫu biết thơ vần như Lục bát , thơ 7 chữ hay  8 chữ Tiền chiến , nó giống như một cái hkhuôn bánh đã có sẵn . Cách làm thì giống như một thứ bột đã xay nhuyễn , nhồi bóp theo một loại công thức , rồi đổ vào khuôn , nó  sẽ cho ta một loại bánh giống nhau . Tuy vật liệu có gia giảm để làm khác đi mùi vị , nhưng hình thức cái bánh thì cùng một loại . Để tránh đi nhàm chán, người làm thơ phải biết cách tân làm mới .

Nói ngán thơ vần thì nói vậy . Nhưng tình cờ được đọc một bài thơ vần hay thì cũng rất là thú vị . Do vậy mà duyên nợ với thơ vần , không thể nào bỏ được . Lúc buồn tình cũng thỉnh thoảng ngâm nga đọc lại , rồi khi có hứng  thì cũng bằng bằng trắc trắc , tìm chữ gieo vần . Thế là ta lại tình ý với nàng vui vẻ , mà bấy lâu nay ta đã ngoảnh mặt như một kẻ phụ tình . Cứ thế cuộc đời làm thơ của tôi luôn luôn “ diễn biến một cách phức tạp “ .

Trong một bài tiểu luân về thơ trước đây tôi có viết rằng : Làm thơ Tự do . Thơ vần hay thơ THT , tùy theo thời gian hay nhu cầu cảm xúc của tâm hồn mà người làm thơ xử dụng một thể thơ nào cho phù hợp với tâm hồn cảm nhận vào thời gian lúc đó , chứ không nhất thiết là phải làm một thể thơ nào nhất định . Người làm thơ thường thay đổi tâm tánh , nghĩa là thay đổi cái tâm cảnh lúc làm thơ .

Nhà thơ Thanh Tâm Tuyền được coi như là nhà thơ Tự do . Ông là một trong những nhà thơ cách tân “ cách mạng “ nhất trong lịch sử thi ca Việt Nam . Nhưng đến khi vào tù ông lại quay sang làm thơ vần . Khi sang Mỹ ông mới cho in một tập thơ vần lấy tên là : Thơ Ở Đâu Xa  , là như vậy chứ không phải là một lý do nào khác .

Có lắm người suy luận theo ý mình và cho rằng ông làm thơ vần ở trong tù  , mục đích là cho dễ nhớ , dễ thuộc ! Hay là ông bỏ lối thơ Tự do hiện đại để quay trở lại với lối thơ cũ .

LÀM  NGHỆ  THUẬT  KHÓ  HAY  DỄ  ?

Có người hỏi tôi : Làm thơ có khó không ? Tôi xin trả lời : Bất cứ là làm việc gì , nếu không biết thì đều khó cả , huống chi là làm nghệ thuật . Làm thơ là làm nghệ thuật . Vẽ tranh là làm nghệ thuật . Viết nhạc là làm nghệ thuật . Nhưng làm nghệ thuật phải cho ra là làm nghệ thuật , nghĩa là phải vẽ cho đẹp , viết cho hay . Làm nghệ thuật  như thế thì khó . Rất khó . Còn nếu làm dở , thì dễ ẹc . Vì nó đâu phải là nghệ thuật !

Thế nào là thơ dở ? Thơ dở trước tiên là một bài thơ không có hồn . Đọc lên không gây được cảm xúc . Nó bắt chước , rập khuôn , vần vè . Thứ thơ ghép chữ dễ dãi . Nó chắp  vá  những từ ngữ  sáo mòn cũ rích với nhau sao cho có vần để người  nghe được xuôi tai , câu trên khớp với câu dưới về bằng trắc , mà không cần  một cảm xúc nào , một ý tưởng nào .

Còn thế nào là một bài thơ hay thì cũng khó nói , nó tùy cảm nhận nơi người đọc . Nhưng theo tôi , trước hết muốn làm được một bài thơ hay thì bài thơ đó phải đánh động được lòng người . Khi mình đọc bài thơ đó lên , bài thơ phải gây được xúc dộng , xúc động trong cảm xúc , vì người làm thơ có nhận được  cảm xúc  thì khi viết ra mới làm xúc động lòng người . Đánh đánh động trái tim người thưởng ngoạn . Nói tóm lại người thi sĩ càng nhận được nhiều cảm xúc nghĩa là họ đặt cả tâm hồn mình vào được bài thơ , thì người đọc càng xúc động . Thế là một bài thơ có thể gọi được là hay . Tuy nhiên để gây được xúc động lòng người , nó còn phải hội đủ nhiều điều kiện khác như , ý tưởng , ngôn ngữ , thi pháp , lý luận  .v.v. . . Nói chung , muốn làm được một bài thơ hay , thì người thi sĩ phải có năng khiếu , tài năng và nghiêm túc trong cách làm . Nghĩa là anh ta không được phép dễ dãi với chính mình . Không được theo đuôi hay bắt chước phong trào nhất thời của quần chúng .

Sự dễ dãi làm thơ ở đây là cái hời hợt , cái lười biếng trong suy nghĩ của một người làm nghệ thuật thiếu tài năng , một người nghệ sĩ không chịu học hỏi . Đã là người nghệ sĩ tài năng , thì người nghệ sĩ đó phải chịu khó học hỏi suốt đời . Có học hỏi thì mới có sáng tạo . Sáng tạo ở đây là sáng tạo nên cái mới , cái tự mình nghĩ ra , tự mình làm ra , không giống những cái đã có ,  của những người đi trước . Nói như thế , không phải là chúng ta gạt bỏ không biết trân quí , gìn giữ những kinh nghiệm quí giá mà người xưa để lại .

Cái nguồn cảm hứng của một người có tài năng , là họ biết học tập cái ý tưởng của những danh nhân bằng cách đọc sách hay nghiên cứu tìm tòi nghệ thuật trong thiên nhiên vũ trụ . Trong cái khuôn mẫu Thượng đế ưu ái dành cho con người , mà kinh nhà Phật gọi là Tứ diệu đế : Gió – Lửa – Nước – Đất  đã có sẵn , như đã nói ở trên . Có như thế thì ta mới hiểu được sự mầu nhiệm của nghệ thuật . Nó là phần cứu cánh của tâm linh con người . Đó cũng là ý nghĩa sống của người văn nghệ sĩ trong  các môn nghệ thuật .

Nghệ thuật còn là sự nhạy bén và chắt lọc những suy tưởng triết lý và văn học trong đó : nghệ thuật nghe , nghệ thuật nhìn và nghệ thuật ẩm thực . Tất cả đều là một thứ nghệ thuật sống . Đó là văn học , là linh hồn của loài người . Thứ tinh thần không thể thiếu , và tốt đẹp không gì sánh nổi .

Trong các loại hình nghệ thuật , thi ca là vị vua , là vương  giả của các loại hình nghệ thuật  . Vì  thi ca là linh hồn cái đẹp của những cái đẹp . Nó là tiếng nói của ngợi ca . Chỉ có con người mới  nhận thức được thi ca và biết dùng thi ca để ca ngợi sự vật  , ca ngợi con người . Sự thanh khiết đó làm chuyển hóa vũ trụ và nó cũng dùng để làm thăng hoa con người . Trong muôn vàn cái đẹp của sự thăng hoa , thì  Mỹ nhân là sự tột cùng trong hết thảy cái  đẹp đê thi ca ngợi khen .

Ở đây chúng ta đang thảo luận về nghệ thuật thi ca . Về một người làm thơ và cái khó hay dễ trong việc làm thơ . Cái đề tài về thơ thì thật là đa dạng , thú vị và được nhiều nhà phê bình nói đến . Vì ở nước ta rất nhiều người thích làm thơ , nhưng lại rất ít người am hiểu về thơ , họ coi thơ chỉ là thứ gì dễ tiêu khiển , là một nghệ thuật  dân gian tầm thường  . Những người  ít học những nông dân hay ngay cả đứa trẻ chăn trâu chăn bò , cũng có thể biết làm thơ , dù chỉ là vọc vạch vần vè . Nhưng để phân biệt được thơ hay vần vè thì họ lại không phân biệt được . Nghĩa là họ làm thơ theo một thứ quán tính nào đó đã có từ thủa ấu thơ .

Trong văn học Việt Nam , những nhà thơ có thực tài để chọn lọc ra được những bài thơ hay thì  không nhiều so với số lượng người làm thơ rất đông .

Làm được thơ hay để được công nhận là một nhà thơ , không phải người làm thơ nào cũng có thể đạt được . Trước hết vị đó phải là một người có năng khiếu bẩm sinh , phải là người có học vấn , có kiến thức  rộng  , là người có tâm cơ , có tấm lòng nhân ái đối với tha nhân và sau hết phải là người yêu thơ , đến sống chết với thơ trong mọi hoàn cảnh . Thì đó mới gọi được là một nhà thơ có thực tài . Xứng đáng được người đời tôn vinh là thi sĩ .

SÁNG   TẠO  VÀ  NGHỆ  THUẬT .

Sáng tạo là tự mình nghĩ ra , tự mình làm ra , như đã dẫn ở trên . Đó là những người làm nghệ  thuật .

Người sáng tạo thơ nhìn sự vật bằng trực giác , bằng sự đơn sơ tự nhiên như những bông hoa ,  đến độ thì nở ra , như khói sương u trầm đỉnh núi . Nó tự nhiên như nhiên , giống nụ cười của bé thơ .  Người sáng tạo không biết lý luận và giải thích bằng lý trí khi anh  ta , chị ta đang sáng tác . Lúc mà họ chỉ còn nỗi đam mê tột cùng , say đắm tột cùng . Nhà thơ lúc đó chỉ biết viết ra những gì vừa nảy sinh , trong phút giây linh diệu . Nỗi ngẫu hứng tuôn trào cuồn cuộn thác đổ , như một làn khói xanh , bềnh bồng như áng mây đang bay lượn vô tận trên trời . Những câu thơ  , chữ nghĩa tượng hình trong tâm hồn người thi sĩ lúc đó hầu như bất diệt . Nó hiện ra , tuôn ra , tuôn trào khí phách không sao kìm giữ được . Lúc đó không có luật tắc , không có lý luận , chỉ có nỗi cô đơn thăm thẳm trong phút giây linh hiện ở trạng thái ngây ngất , say mê , dồn dập và ngông cuồng . Bởi chàng đang được uống một thứ rượu hạnh phúc tuyệt vời  , không gì sánh được của trần gian

Người làm thơ trực nhận sự vật , nên thở ra cái vừa lĩnh hội đã trực nhận . Cái mơ hồ lãng đãng kết nên một chữ , một câu , một đoạn . Trong khoảng không trừu tượng , nhiều khi lại đầy ắp tất cả . Nó chỉ muốn trào ra , phọt ra , chỉ muốn ban phát thứ gì đẹp nhất , thơ mộng nhất cho người vừa thụ nhận  sự kết tụ , để họ viết ra cái nóng hổi từ con chữ được nâng nưu trân quí , mà thi sĩ gọi là thơ . Phút trừu tượng ấy hiện ra ở trong đầu  rồi tỏa ra bát ngát ở trước mặt , ở chung quanh . Nó là một thực tại để sống , để bay lượn hiện hình . Nó đã trở nên một hiện thực sự thật , không còn là những hiện tượng vô hình . Nó là nguyên nhân làm nên người thi sĩ lúc bấy giờ , chứ tuyệt nhiên con người không thể nào làm nên hay tạo dựng nên thi sĩ . Cái thơ mộng không thể nào làm nên bằng lý trí được . Mà thơ mộng lại là cái chất của thi sĩ . Bởi tâm hồn của hắn được nuôi dưỡng bằng mật ong tình yêu . Bằng cỏ cây hoa lá , núi rừng và biển hồ , bằng khung trời lồng lộng . Và hơn thế nữa bằng sự tự do tuyệt đối ! Tâm hồn ấy cũng được tạo thành bằng những âm thanh , bằng tiếng chim ca , tiếng suối reo , được hòa nhập vào cái đẹp của đất trời . Do vậy mà thi ca đã trở thành nghệ thuật làm đẹp cuộc đời . Chả thế mà nhà văn Dostoiepki của Liên Xô đã nói : “ Cái đẹp cứu chuộc thế giới “ .

Những câu thơ hay đã làm rung động lòng người , mà người thi sĩ là tác nhân làm cho thiên nhiên có nhiều sức sống hơn , sinh động hơn và đẹp đẽ hơn . Một đặc điểm nữa trong việc làm thơ là sự nhìn thấy . Nhìn thấy những gì ẩn náu trong sự vật , làm cho sự vật hiện hữu hơn , hiện thực hơn , bát ngát hơn trong cõi thường hằng của sự suy tưởng . Nó tạo nên sự rung động sự vật cả ngoài hiện thể . Những câu thơ do vậy mà người xưa thường xuất khẩu thành chương , trong lúc cao hứng ngâm vịnh . Cái nhìn xuyên suốt không phải lúc nào cũng được xuất hiện . Nó chỉ ban phát cho người có một  tâm hồn lớn lao , cho người có thực tài soi rọi những tâm lực yêu thương vào trong cuộc sống .

Làm thơ cũng giống như yêu . Trong lòng cảm thấy thiết tha mãi , bâng khuâng mãi . Lúc nào tứ thơ cũng hiện hình như nhìn thấy người mình yêu ở trong sâu thẳm nhất , mênh mông nhất , dù người yêu ở nơi chốn nào không hiện diện . Ngay cả khi nhà thơ đang ngủ , hình ảnh cũng hiện về mê say . Tình yêu có khác chăng chỉ là sự nhớ thương . Vậy thì . Tình yêu là sự nhớ thương . Bởi hai người yêu nhau lúc nào họ cũng chỉ muốn sống bên cạnh người mình yêu , cho bớt nhớ thương ! Nên xúc động của những người yêu nhau và thi sĩ thì cùng một tầng số .

LÀM  THƠ  VÀ  TÌM  HIỂU  THƠ .

Hiểu về thơ đã , rồi mới làm thơ , hay làm thơ rồi mới tìm hiểu về thơ ?

Thường thì người ta làm thơ rồi mới tìm hiểu về thơ , đó là phần đông ở Việt Nam chúng ta . Nó không giống những nước phương Tây khác là , họ tìm hiểu về thơ rồi , biết thơ là gì rồi , họ mới làm thơ . Nghĩa là họ phải được học thi ca ( poestry ) ở trường lớp trước khi họ cầm bút làm thơ . Do vậy thường những nhà thơ của họ là những người có học thức uyên bác , có năng khiếu , là những người có  tài năng thực sự . Ngay cả những vị vua chúa thời xa xưa cũng rất trọng vọng nhà thơ , thi sĩ tài năng được mời vào cung đình để đọc thơ cho vua chúa và các quan  chức nghe Thời nay nhà thơ ở phương Tây vẫn còn được mọi người kính trọng . Thơ được mọi thức giả xem ngang hàng với Kinh Thánh . Được đọc vào những ngày lễ trọng đại của Quốc gia .

Làm thơ rồi mới tìm hiểu về thơ . Chẳng là chúng ta  nghe ca dao từ hồi nằm nôi . Bà ru , mẹ ru , chị ru . Thứ âm nhạc vần điệu nhịp nhàng , êm như gió thoảng , “ ngọt như đường cát mát như đường phèn “ , thấm nhuần trong dòng nước thánh tuổi thơ . Chả thế mà nó làm dịu đi niềm đau ngay lúc đứa trẻ mới chào đời . Lúc mà mẹ đi chợ xa chưa về kịp , lúc mà mẹ còn đang nhọc nhằn tỉa bắp trồng khoai ngoài đồng ruộng chưa về , lúc mẹ còn phải tảo tần buôn bán ngoài chợ . Niềm đau bé thơ là đói khát , hay khi trái gió trở trời . Những trận ban nóng ngút trời mà mẹ không biết làm sao để dỗ dành cho con nín , con ngủ , lúc đó thì câu ca dao của mẹ , của chị cất lên theo tiếng à ơi , vỗ về tâm hồn non nớt của con , của em . Và thế là thơ đã đưa con , đưa em đi vào giấc ngủ , vào cõi mộng mơ đầu đời . Thơ ca dao lúc đó là một phép lạ nhiệm mầu đi vào tiềm thức tuổi thơ , vỗ về tinh thần con trẻ , dỗ cho con trẻ khỏi khóc , dỗ cho con cười . Ca dao thần tiên hòa vào dòng sữa ngọt từ lúc con người vừa lọt lòng mẹ .

Và như thế , ca dao , câu hò ở nông thôn đã là bản sắc cho con người Việt Nam ngay từ thủa sơ sinh cho đến khi khôn lớn . Lúc biết đọc biết viết thì cái hồn thơ nó đã nằm sẵn nơi tình cảm con người , nó mai phục một cách tự nhiên , một cách không có ý thức nơi con người . Vậy những câu ca dao đầu đời là gì ? Đó là những dòng thơ lục bát , những câu thơ lấy trong kinh nghiệm đời sống nghệ thuật dân gian thường ngày . Cái đời sống ấy thế mà nó có tác dụng giáo dục con người , bởi thời xa xưa hay cận đại , mấy gia đình nghèo có tiền cho con đến trường đi học . Phải là những gia đình giàu có hay con nhà khá giả mới có tiền cho con đến thày Đồ học lấy dăm ba chữ Thánh hiền . Đa số những con nhà dân giả chỉ biết dạy con học đạo làm người bằng lời khuyên , bằng gương sáng của người  xưa và bằng ca dao tục ngữ , bằng câu hát , câu hò

Những câu ca dao như : Công cha như núi Thái sơn – Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra . Hay , Có công mài sắt có ngày nên kim . Hay  , Không thày đố mày làm nên .v .v . . . không biết có từ  bao giờ . Có lẽ nó nó được lưu truyền từ lâu lắm . Nó có từ hàng ngàn năm rồi cũng nên . Cho nên người có học hay người không có học cũng biết thế nào là ca dao , tục ngữ và nôm na họ gọi đó là thơ . Đến khi có dịp ngẫu hứng , hay lúc “ tức cảnh sinh tình “ , thì người có năng khiếu , cứ theo vần bằng trắc mà làm thơ . Lúc đầu thì vò vẽ bằng trắc sao cho ăn khớp với nhau nhịp nhàng . Cứ câu trên bằng thì câu dưới trắc , theo mẫu ca dao đã có sẵn , chẳng cần biết thế nào là niêm luật . Còn hiểu thế nào là một bài thơ thất ngôn , ngũ ngôn hay lục bát thì rồi dần dà sẽ biết sau . Do vậy số  rất đông người Việt Nam  làm thơ vì đã được thấm nhuần ca dao mẹ từ trong máu thịt .

LÀM  THƠ  TÌNH .

Những người mới bắt đầu học làm thơ , thường thì họ hay làm thơ tình . Có phải làm thơ tình dễ làm không ? Có thể . Khi đến tuổi dậy thì , trai gái yêu nhau muốn tỏ tình , ai mà không e thẹn run rẩy khi gặp cái người mà mình để ý , cái người làm mình sợ hãi . Cái người lỡ làm mình thương trộm nhớ thầm .  Nhưng biết thố lộ cùng ai ? Thôi thì  ta làm ít câu thơ cho đỡ sầu “ vạn cổ “ rồi lén đem trao nàng vậy ! Nếu sợ quá không biết nhờ cậy ai hay không dám đưa trao  , thì đành bạo gan đánh liều chứ biết làm sao , thôi thì ta  lén  bỏ trộm bài thơ vào cặp của nàng lúc giờ nàng  ra chơi !

Tình yêu là mục đích và cứu cánh của con người đi vào đời sống . Vậy thì tình yêu là ý nghĩa của cuộc sống . Là nhu cầu cần thiết mà ai cũng phải khát khao . Một nhu cầu tâm linh cần được nuôi dưỡng để vượt thoát đớn đau tìm về cội nguồn hạnh phúc . Nó đương nhiên lớn lên theo sự phát triển thể chất và tinh thần , bởi nó muốn vượt thoát cô đơn , nó muốn được ve vuốt , mơn trớn không những của người thân  yêu cốt nhục của mình , mà của cả tha nhân đồng loại . Đến một lúc nào đó , một phút giây nào đó nó muốn yêu thương và muốn được yêu thương . Tình yêu đến với con người ngay trước khi con người ý thức được về tình yêu . Nó đương nhiên như một nhu cầu sinh lý của đời sống .

Cái sinh linh khi còn nằm trong bụng mẹ , lớn dần lên với tình mẫu tử cho đến khi nó ra đời , cái nhu cầu yêu thương ấy đã được ôm ấp nâng niu và được bảo vệ không ai có thể tách rời được tình yêu thương mẹ con . Cho đến tuổi thành niên , tình thương từ cha mẹ , anh em , chuyển sang một thứ tình yêu thương khác là tình yêu trai gái . Thế là những vần thơ khóc gió thương mây thành hình . Lúc đó đôi mắt của họ dõi theo một bóng hình nào mà họ thấy bâng khuâng , rung động rôi tương tư không phút nào nguôi . Những vần thơ tương tư đó bật ra , bởi một con tim đau khổ và sung sướng . Thơ bắt đầu đến với người muốn làm thơ từ đó .

THƠ  VÀ  ĐẠO .

Tiến trình diễn tiến theo thời gian , người làm thơ bắt đầu làm thơ tình , nay đã có nhiều suy tư hơn , nhiều niềm đau hơn và nhiều kinh nghiệm hơn , tự nó dần chuyển sang một trạng thái suy tư về cuộc sống , về kiếp nhân sinh . Cái đòi hỏi đương nhiên của con người , đi từ tình yêu trai gái , tình thương ruột thịt tới một đời sống trọn vẹn hơn đó là một nhu cầu . Và bên kia cái đời sống đang cần , đi tìm câu trả lời và lý giải là một mong muốn cấp bách , bao la như một bầu trời . Con người cứ thắc mắc , cứ ưu tư , cứ đòi hỏi , mà nhu cầu trả lời về kiếp nhân sinh , cái kiếp cụ thể mà mình đang sống , thì không sao thỏa mãn được . Rất giới hạn . Con người càng lý giải và càng tìm cách trả lời thì những thắc mắc , những vấn nạn càng gia tăng . Càng lúc câu hỏi càng hóc búa , cho đến ngày nhắm mắt xuôi tay cũng không thể trả lời thỏa đáng được . Vậy thì chỉ có thi ca chỉ có thơ , may ra mới giải quyết được phần nào cái vấn nạn , cái lý giải của sự tồn sinh của con người , mà mọi triết lý , mọi tư tưởng , văn chương , các loại hình nghệ thuật , hay khoa học trên trần gian này , xem ra bất lực ! Tựu trung chỉ còn lại là một nguồn rung động là Thơ và Đạo ( đạo lý làm người ) . Tiếng hát bâng khuâng của ngàn năm với thiên nhiên mưa nắng làm hạnh phúc cho đời sống tâm linh con người .

KẾT  LUẬN

Thơ bắt đầu tri kỷ với con người như thế và kết thúc với tri kỷcủa nó là như thế . Cái học của người làm thơ , hay cái học vấn của con người  nói chung . Cái cốt lõi không hẳn là tri thức , là kiến thức mà là cái đạo lý làm người .

Cái đạo lý làm người mới xem qua thì thấy dễ học hơn  là cái kiến thức chuyên môn về kỹ thuật của ngành học . Vì muốn nhận được sự  hiểu biết có tri thức  thì phải đến trường , đến lớp để học tập . Phải có điều kiện về tài chánh tiền bạc , sức khỏe .

Còn cái đạo lý học làm người thì ai cũng có thể học được , không cần phải đến trường lớp . Nhưng  để tiếp thu được cái đạo đức làm người đó . Thì lại rất là khó khăn . Nhiều người học hành đã thành đạt , làm ông nọ bà kia , tiền bạc dư giả , giầu có . Nhưng cái đạo lý làm người . Học không cần phải tốn tiền , thì chưa học được . Có khi đến hết đời , người đó vẫn trơ tráo làm một kẻ bất nhân !

Cái loại bất nhân có học thức lại còn gây nguy hiểm hơn loại bất nhân không có học . Suy cho cùng , cái đạo lý làm người cũng xuất phát từ lòng yêu thương con người mà ra . Nếu không có tình yêu thương thì sẽ không nẩy mầm ra được đạo lý , sẽ không hiểu được  cách làm một con người cho ra một con người , sẽ không hiểu được sự cao quí của con người hơn những sinh vật nào khác .

Cách thể hiện lương tri đành rằng là do sự giáo dục , là do được giáo dục . Nhưng cái đạo lý và kiến thức phải đi song hành thì mới trọn vẹn . Bằng không thì cách chọn lựa , làm một con người có đạo đức vẫn xứng đáng hơn , làm người hơn ,  là làm một người có bằng cấp , có học vấn mà không có đạo đức . Vì đạo đức làm người là một hành vi của một tinh thần cao thượng . Đời sống vật chất ta có , nó phải gắn liền với đời sống tinh thần cao cả , thì mới gọi được là một đời sống con người đầy đủ . Đời sống đầy đủ vật chất và tinh thần là một là như vậy .

Thơ và đạo bao gồm là nghệ thuật . Nghệ thuật hay cái đẹp CHUYỂN  HÓA  Thế Giới ./

QUỲNH  THI

RIMBAUD. TÂM HỒN NÀO KHÔNG LẦM LẪN

Vũ Trọng Quang

(Rimbaud Toàn Tập, Huỳnh Phan Anh dịch thuật, Nxb Văn hoá Sài Gòn)

Một câu hỏi về Arthur Rimbaud ? Là ai ? Làm gì ? Ở đâu ?

Có người biết đó là thi sĩ – thi sĩ Pháp; có người đã xem phim tái hiện cuộc đời Rimbaud; có người khi còn ngồi ghế nhà trường học hoặc nghe về câu thơ của nhà thơ Xuân Diệu trong bài Tình Trai đề cập đến mối tình đồng giới tính trong thi ca:

“ Tôi nhớ Rimbaud với Verlaine

Hai chàng thi sĩ choáng hơi men”

Và biết thêm bi kịch giữa lứa đôi thi sĩ xuất sắc ấy, Verlaine trong khi “choáng hơi men” đã bắn vào Rimbaud, “ Hoàng tử cuả các thi sĩ ” Verlaine lãnh án tù hai năm, “ Nhà thấu thị ” Rimbaud phải vào điều trị tại bịnh viện.

Xa hơn nữa có người yêu thơ biết đến hai bài thơ nổi tiếng cuả Rimbaud, đó là Nguyên Âm (được xem như bài thơ sắp đặt với ý nghĩ khác thường về nguyên âm) và bài Con Tàu Say. Người chú tâm hơn thì tìm đọc lại hai tập thơ Một Muà Địa Ngục và Hoa Đăng.

Có  nghĩa cái tên Rimbaud và thơ Rimbaud ít nhiều đã được biết đến.

Bây giờ Rimbaud Toàn Tập, một tập hợp khá đầy đủ về Rimbaud.

Cuốn sách mở đầu lời tựa tràn bờ dài gần 100 trang như một cuốn sách trong cuốn sách, dưới mỗi bài thơ đều có chú giải / giải mã, mới thấy nhà văn kiêm dịch giả Huỳnh Phan Anh “yêu” Rimbaud đến dường nào, vì yêu nên đã dồn hết sức dồn hết tâm cho ước mơ toàn cảnh của mình, như lời bộc bạch của tác giả chuyển ngữ: “Rimbaud Toàn Tập là ước mơ từ lâu, dầu biết công trình không đơn giản khi mà lẽ ra nó phải là công trình tập thể, càng không đơn giản khi bịnh ập đến giữa ngổn ngang những trang bản thảo, tưởng chừng là một kết thúc sớm, không riêng gì cho số phận cuốn sách…”. Đó là sự hết lòng của nhà văn Huỳnh Phan Anh với mong muốn hướng dẫn người đọc đi đến tường tận hành trình phiêu lưu của Rimbaud: Phiêu lưu trong đời thơ, từ thơ khi còn học sinh đến thơ trong hai tập Một Mùa Điạ Ngục và Hoa Đăng cùng rất nhiều những bài thơ khác; và phiêu lưu trong đời thật, từ trong gia đình trốn nhà nhiều lần, đi gặp nhiều người, đến nhiều nơi, đến hầu hết các nước ở Châu Âu qua các nước ở Châu Phi (còn mong muốn gia nhập hải quân Mỹ); từ nhiều công việc như đi lính đi buôn (buôn cả vũ khí, có tin đồn là buôn cả nô lệ) đi làm việc công trường… Nghiã là đời thơ và đời thật là bước chân luôn luôn đi tới, dầu bị ung thư đầu gối phải cưa chân, thi sĩ vẫn gửi thư hứa hẹn trở lại Châu Phi.

Sau phần thơ là phần tiểu sử, phụ lục ảnh, tư liệu thư từ gửi gia đình, gửi những người thân thiết và quen biết; phần này gần 200 trang không phải để làm dày cộm cuốn sách mà để mở rộng biên độ cho tầm nhìn người đọc.

Bút pháp của Huỳnh Phan Anh được xem như “tỉnh” trước cái “động”/”cuồng”* của Rimbaud; tỉnh táo trước cái sai trái “Tâm hồn nào không lầm lẫn?”. Nói như vậy có phải đòi hỏi nên viết xáo trộn trước chủ thể xáo trộn chăng? Nên giận dữ trước giận dữ chăng? Có cần thiết trả lời phải bình tâm, chín chắn trước bản mệnh một con người luôn biến động? Câu trả lời nằm chính trong lời tra vấn.

Authur Rimbaud: Tổng hợp của cay đắng – hùng hồn – gai góc – mê sảng – phản kháng – trần trụi – rối loạn – cuồng nộ – tuyệt vọng – tha hoá. Nhưng trên hết Rimbaud là thi sĩ cách tân “Phải tuyệt đối hiện đại” và táo bạo “Hãy kính trọng kẻ bị nguyền rủa tột bực,

tôi đã thét điều đó trên trái đất” “Phải chăng đây là sự man rợ được tha thứ”. Để làm gì? Để đạt “tới cái chưa biết” bằng sự “rối loạn lập luận mọi giác quan”. Cách tân và táo bạo nhất không chỉ từ hai thế kỷ trước mà hiện diện cho tới hôm nay viễn tưởng đến thế kỷ sau.

Liên tưởng về nơi chốn này nhìn lại mặt phẳng hình ảnh thi ca hiện hữu, những hình thức biện chứng cách tân chưa vượt qua giới hạn con đường Rimbaud (giả định R là trục toạ độ), loay hoay tại vị trí nhúc nhích ở một điểm trị số.

Giật mình bàng hoàng trước sứ mệnh “Nhà thơ là kẻ trộm lửa”, đóng lại cánh cửa “ Lúc ba giờ khuya, thời khắc của nhà thơ và kẻ cướp “, bóng tối khép lại Toàn Tập mở ra vùng chóa mắt khác, có cảm giác chơi vơi chới với, hoang mang giữa cõi thực phi thực không gian phi không gian thời gian phi thời gian, vô thức bừng vỡ sản sinh từ áp lực ý thức dồn nén.

VŨ TRỌNG QUANG

* Những dòng nghiêng là thơ Rimbaud

- Trong tập Một Mùa Địa Ngục (do Nxb Văn học năm 1997) nhà văn Huỳnh Phan Anh dịch “Tâm hồn nào không sai sót”, trong Rimbaud Toàn tập ông lại dịch “Ai người không sai trái?”. Riêng người viết bài này lại thích câu “Tâm hồn nào không lầm lẫn?”

Dịch không phải phản lại nội dung, nhưng đôi khi phản bội hình thức.

Khát vọng thơ

Thân tặng các anh : Phan Xuân Sinh ,Lương Thư Trung,Quỳnh Thi. Lê Minh Giang

(tạp bút)

Nguyễn Hàn Chung

Văn chương nói chung và thơ ca  nói riêng tự bản chất là sự biến hóa không ngừng của hiện thực dù thơ ca  luôn luôn gắn với một bối cảnh không gian ,thời gian nhất định . Người làm thơ không ngừng vận động  hiện đại hóa thơ để tồn tại nhưng không phải vì thế mà dấu vết truyền thống bị phai mờ .Hai người bạn đường chung thủy này luôn sống cùng nhau một cách hài hòa để sinh hạ những tác phẩm  mang phong cách hiện đại nhưng nội hàm vẫn có cái hoàn hảo của những tác phẩm cổ điển . Hơn ai hết trong việc chắt lọc ngôn từ  nhà thơ chịu sự  giằng xé một cách dai dẳng giữa cái sáng và cái tối  ,một cuộc tra vấn khắc khoải  về ý nghĩa nhân sinh , một cuộc tìm kiếm khát khao không nguôi, một khoảng yên bình trong tâm tưởng  về sự hữu hạn và vô hạn .Nhà thơ  là người “ thấy trời xanh vô cùng tận trong bát nước “ nhưng đâu phải chỉ có thế bởi họ cũng là người “chỉ nói tới một giọt ánh sáng để thấy cái vô cùng tận của trời xanh “ (Văn Cao ) .

Chúng ta hiện đại hóa thơ ca, ý thức cách tân được đề cao là một diều đáng trân trọng song  chúng ta không thể phủ nhận một cách cực đoan  tính mêu tả trong nghệ thuật tạo hình, phủ nhận tính tổ chức âm thanh trong âm nhạc, phủ nhận tính hàm nghĩa của ngôn từ nghệ thuật  để khuynh hướng nầy  chiếm ưu thê hơn hẳn yếu tố kế thừa là một điều cần phải sáng suốt nhìn  lại.Khuynh hưóng phủ định các nguyên tắc thẩm mỹ cơ bản của truyền thống là một biểu hiện cưc đoan cần phải phê phán không thể tồn tại trong quan điểm sáng tác của chúng ta. Tuy  nhiên đứng lại một chỗ dẫm  chân lên ,mô phỏng , phóng tác theo đề dẫn của người đi trước một cách sáo mòn đến độ nhàm chán cũng là một sự bế tắc của người cầm bút .Rất tiếc hiện trạng này khá phổ biến dưói các dạng thế khác nhau trong hầu hêt các tạp chí văn nghệ trong cả nước  nhưng được ngụy trang bằng hàng loạt các thuộc tính của mỹ từ như : tính đại chúng ,tính dân tộc. Tất nhiên khi sáng tác chúng ta không có quyền phủ nhận những mối liên hệ của nghệ thuật với đời sống xã hội ,đạo đức ,khoa học ,chính trị tuy nhiên các phạm trù mỹ học mà thơ ca khơi gợi tác động đến cảm thức của con người bao giờ cũng có sự gắn bó nhất định với nhau giúp người đọc tiép nhận dưới dạng khái quát những quan hệ thẫm  mỹ của con người với hiện thực .

Ván đề tương tác giữa hiện đại hóa thơ với đời sống xã hội ,với truỳền thống  đân tộc luôn luôn đặt ra cho người cầm bút chúng ta một ưu tư nào đó . Nó mơ hồ mà xuyên suốt , nó nửa muôn phá vỡ những giấc mơ quen thuộc ,nửa muốn trì kéo cái biểu đạt điều ẩn giấu phía tận cùng sâu thẳm của hình tưọng thơ .Chính vì thế  trong người làm thơ luôn nảy sinh xung đột giữa nhớ và quên, giữa mơ ước và hiện thực giữa tình yêu và sự trống không làm tiền đề cho cảm hứng nghệ thuật  .Chúng ta đã bước qua cái thời kỳ thơ mới thống lĩnh đã lâu rồi song thử hỏi cho đến nay đã có một trào lưu thơ nào khả dĩ thế chân cho sự tàn rụi ấy để  manh nha sinh nở .Thơ hậu hiện đại (postmodernism) chăng ?  Chưa ai khẳng định Lê Đạt, Đặng đình Hưng ,Dương Tường,Hoàng Hưng ,Nguyễn Quang Thiều là lớp nhà thơ khơi mở cho trào lưu này dù các nhà thơ ấy bứt phá cách tân đến độ ẩn sâu điều muốn hiển lộ dưới tầng tầng bóng chữ ,.Các bạn  Lý Đợi ,Bùi Chát , Văn Cầm Hải, , Vi Thùy Linh , Phan Huyền Thư   , Nguyễn Hữu Hồng Minh ở trong nước hay  Khế Iêm ,Thận Nhiên , Lê thị Thấm Vân .Nguyễn Thị Thanh B́nh , Lưu Diệu Vân …ở ngoài nước. chưa chắc  đã dấn thân trọn cuộc ?

Nói thế không phải chúng ta phủ nhận những thành tựu của thơ hậu hiện đại .Họ có cách nói khác nhiều khi ý nghĩa không truyền tải trọng vào chữ mà nằm ở âm điệu , tiết tấu ở sự vang ngân của từ .Thơ hậu hiện đại ít có tính tự sự nhưng lại ngổn ngang những luống chữ thoạt như chẳng có liên hệ gì với nhau .Vì thế nhiều người không “ngẫm “ được và giữa nhà thơ và bạn đọc sợi giây đồng cảm bị nghẽn mạch .

Nhận thức thẩm mỹ của một số bộ phận người đọc chúng ta hiện nay tuy có sự thấm thấu hơn song nhìn chung vẫn là nếp cũ bởi nhận thức thẫm mỹ ấy đã đứng vững trong tiếp nhận văn chương của ông cha hàng ngàn năm nay .Chưa hết mơ màng ai điếu  những Tầm Dương ,Cô Tô , Xích Bích lại đến Ly khách ,Lời kỹ nữ ,Tiếng thu rồi đến giai đoạn cố gò vào cho hợp một sự đồng bộ nào đó. Đó là nhận thức ổn định khó tìm ra sự tùy biến ,ổn định đến mức trì trệ mà người cầm bút lãn người thưởng thức vẫn hồn hiên mê mải..

Chúng ta phải đổi mới thơ ca-Đó là một điều hiển nhiên không bàn cãi nhưng đổi mới như thế nào mà không ăn theo các trào lưu văn học phương Tây đang thịnh hành mà cũng không ngủ quên trong tháp ngà cố chấp .Phải hiện đại hóa thơ từ nền tảng dân tộc  là một yêu cầu bức thiết, một sự bức thiết lâu dài .Chúng ta phải bắc một chiếc cầu từ truyền thống tới hiện đại và vật liệu  xây cầu nhất định phải lấy cách tân làm chất dẫn .Hiện thực ,hồi ức, tưởng tượng phải được truyền thống làm chỗ dựa nhưng sự cách tân , sự nỗ lực làm lạ hóa  chẳng những ngôn ngữ thơ ,hình tượng thơ mà cả nội lực thơ mới đủ sức phá vỡ sự  mòn nhẵn và cũ càng, sự mê đắm thanh sắc luyến láy hay sự sùng bái những đơn vị ngôn từ mang tính rập khuôn vốn khu trú dưới dạng tiềm ẩn trong người sáng tác cũng như đối tượng tiếp nhận, song lạ hóa không phải tách biệt thơ đời thường bởi nó phản ánh hiện thực nhưng không chăm chắm đi vào tái hiện hiện thực mà cốt yếu làm chiếc cầu nối đầy sáng tạo giữa thơ và hiện thực để người đọc chiếm lĩnh trọn vẹn tình ý trong hình tượng thơ ,ngôn ngữ thơ. .Cân có một cơ sở văn hóa  chung để người sáng tác và bạn đọc tìm sự đồng cảm với nhau ,nếu không sự tiếp nhận giữa các quan điểm thẩm mỹ khác nhau sẽ không bao giờ có tiếng nói chung..

Nhập cuộc phê bình mở

Tôi vào trang của Phong Điệp.net  tình cờ đọc được một bài phê bình  của nhà thơ  Inrasara  về một số nhà thơ tỏ thái độ  hung hăng  quẫy đạp nặng lời  khi bị ngươi phê bình quât roi vào tác  phẩm của anh ta.Tôi mạn phép anh Inrasara và chị Phong Điệp post vào đây.Mơì quý bạn đọc . Nguyễn Hàn Chung

Inrasara


1. Phê bình mở: Độc giả nhập cuộc đồng sáng tạo

Một tác giả, một tác phẩm xuất hiện, vấn đề văn học nghệ thuật đang nóng… nhận được ý kiến khen chê hay bị bỏ quên. Trên mạng internet! Kịp thời và nhanh nhạy là điều dễ thấy nhất của phê bình ở thời đại tin học. Nó mang ở tự thân đặc tính của báo chí.

Còn hơn cả báo chí. Bởi điều mà báo giấy không kham nổi thì báo mạng, website, blog đảm đương mà không hề hấn gì. Có cả không gian mênh mông cho người quan tâm vào cuộc. Tác phẩm mới lạ kêu đòi nhiều diễn giải khác nhau. Chẳng những không giới hạn về không gian, phê bình mở không giới hạn về thời gian.

Tác phẩm nghệ thuật như một thế giới mở tồn tại vô vàn khoảng trống và những điểm trơn trượt bất định, mời gọi sự chấp nối cùng các diễn ngôn khác nhau. Mạng internet dung chứa tất cả. Sự chắp nối và các điểm nhìn này được phát ra từ những kinh nghiệm, cảm xúc, tri thức rất khác nhau của nhiều thành phần độc giả khác nhau qua các lần thưởng thức khác nhau. Của kẻ vô danh hay người nổi tiếng, dân nghiệp dư hay chuyện gia hàng đầu.

Con người hôm nay mà trình độ thẩm định tác phẩm nghệ thuật đã được nâng cao đáng kể, không còn thưởng thức tác phẩm thụ động. Trên diễn đàn internet, không ai cầm cây gậy khua khoắng chỉ bảo, đe nẹt; tất cả đều bình đẳng trong một không gian mở. Dân chủ và không phân biệt. Ý kiến nào gửi trước thì được đăng trước, xóa nhòa lằn ranh đại chúng với đặc tuyển, chuyên hay không chuyên. Đại bộ phận các nhận định không bị biên tập hay sửa chữa.

Phê bình mở vừa tương tác với tác giả, với tác phẩm đồng thời tương tác với các tương tác khác…

2. Những suy nghĩ lạc thời

Lạc thời từ người sáng tạo cho đến nhà phê bình. Hai ví dụ khá tiêu biểu:

- Tác phẩm mình vừa đoạt giải: Mừng và đưa tin vui đi khắp. Đúng và đáng lắm, chẳng vấn đề gì cả. Nhưng khi nó được đưa lên mạng internet mổ xẻ và phê bình, thì ta có hành xử rất ngược đời. Ngược đời nên lạc thời. Ta chạy đầu này, đầu nọ thanh minh, ta hỏi ý kiến người này người kia rằng nó có vấn đề gì không? Ta phone cho những người phê bình ta để kêu oan, và cuối cùng ta nhờ đến sự can thiệp ngoài nghệ thuật.

- Một nhà thơ viết bài phê bình về thơ Inrasara, khá công phu và nghiêm túc. Vừa đăng lên mạng, mươi “độc giả” xúm vào bình luận. Hiếm bài phê bình về thơ Inrasara được hân hạnh như thế. Các bình luận có thể sai và đúng, hay và chưa hay, nghiêm túc hay bỡn cợt… đủ cả! Thế là nhà ấy lồng lộn lên, phone cho tôi: Họ là ai? Họ không hiểu ý tôi! Ông phải có trách nhiệm về các phản hồi “vô trách nhiệm’ này”! Vân vân… Nói sao cũng chẳng được.

Ta không hiểu thế giới hôm nay đã khác xưa lắm lắm! Thiếu hiểu biết, nên vô tình ta giết chết tác phẩm của chính ta. Người thưởng ngoạn tranh hay độc giả tập thơ sẽ không thèm ngó ngàng đến hay đọc tác phẩm ta nữa. Ừ, nếu quý ông/bà bất cần chúng tôi thì chúng tôi cũng bất cần đến tác phẩm của quý ông/bà. Thế thôi – rất sòng phẳng! Hãy đóng cửa ngồi nhà mà sống với vinh quang tự sướng của mình đi nhé. Tâm thế Phê bình mở thì khác.

Bản thân tôi có bài thơ “Khóc Tây Tạng” đăng lên trang mạng, ngay tức thời nó nhận 14 phản hồi liên tục. Hữu danh và vô danh, tên thật hay nickname. Sai và đúng, hay với chưa hay, nghiêm túc hay bỡn cợt… nếu nói vô trách nhiệm cũng có nữa, đủ cả! Cả tác giả bài thơ cũng nổi hứng nhảy vào tương tác – vui vẻ!. Dẫu các cá nhân phụ trách trang mạng kia đều là chỗ quen biết, nhưng tôi chưa một lần tra vấn các vị rằng họ là ai? Chưa nửa lần la lên rằng họ hiểu sai ý tác giả! Không đổ trách nhiệm cho các cá nhân phụ trách trang mạng kia. Càng không chạy đi trình cơ quan hữu trách là tại sao các người xuyên tạc tác phẩm tôi như thế!!!

3. Đó chính là tinh thần của Phê bình mở đúng nghĩa. Tác phẩm được ném ra chợ đời, nó tự sống. Không lời giải thích nào của tác giả có thể biện minh cho phần thiếu khuyết hay bất toàn của nó. Cơ quan nào đó bất kỳ càng không thể cứu sống nó. Ra đời, hoặc nó sống hoặc nó chết, thế thôi.

Bài thơ bạn được vào tuyển, bức tranh bạn được đưa vào bảo tàng (có thể do một cơ chế hay thế lực nào đó) không ai nhắc tới, không một mống nào ghé vào tham gia bình luận, mới thảm. Nó như thể một sản phẩm chết ném vào cõi không lời. Hư vô! Bạn muốn thế không?

Phê bình mở không dành riêng cho chuyên gia, nó mở với tất cả người thưởng thức nghệ thuật. Mở ra với mọi bình luận qua nhiều con mắt khác nhau đến từ nền văn hóa hay trình độ khác nhau, từ nhiều góc độ khác nhau, bằng nhiều chính kiến khác nhau. Chính chúng làm cho tác phẩm nghệ thuật sống qua nhiều thời đại lịch sử…

Vũ Hữu Định và… Chút gì để nhớ

TRẦN TRUNG SÁNG

Vũ Hữu Định tên thật là Lê Quang Trung, sinh năm Nhâm Ngọ, 1942, tại Huế, nhưng định cư ở Đà Nẵng lâu năm và thường xuyên tham gia trong nhóm sinh hoạt Văn học Nghệ thuật Quảng Đà. Trước 1975, anh làm thơ rất nhiều, song đợi đến khi Phạm Duy phổ nhạc bài thơ “Còn một chút gì để nhớ” và qua tiếng hát vượt thời gian của Thái Thanh, mới thực sự chắp đôi cánh tuyệt vời cho ý thơ anh bay bổng. Vũ Hữu Định qua đời tại nhà một người bạn bên bờ sông Đà Nẵng vào một đêm trăng tháng Giêng (16-1 âm lịch) tuyệt đẹp năm Tân Dậu 1981.

“Còn một chút gì để nhớ” là tên một bài thơ của Vũ Hữu Định, viết về thành phố Pleiku, khi anh ghé đến thăm người bạn gái nhỏ vào năm 1970. Bài thơ in lần đầu cùng năm trên tuần báo Khởi Hành và trở nên phổ biến rộng rãi, được nhiều người hết sức yêu chuộng, sau khi nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc.

Phạm Duy cho biết, ông đã từng tìm gặp Vũ Hữu Định ở Pleiku trong một chuyến đi tìm cảm hứng và nhất là tìm hiểu tâm trạng những nhà thơ trẻ, đại đa số khi ấy đang đi lính hay đang trốn lính. Khi chọn và phổ nhạc bài thơ của Vũ Hữu Định, ông không thêm bớt một chữ nào. Ông đã giữ nguyên vẹn cấu trúc cũng như vận tiết của bài thơ, chỉ dùng một thanh âm có bán cung của dân ca Jarai hay Banar để gợi cái không khí cao nguyên và một chuyển giọng ở đoạn cuối để cho bài ca có thêm màu sắc.

Tuy nhiên, trong trường hợp này, phải thừa nhận, Vũ Hữu Định đã nhanh chóng chớp thời cơ, khẳng định tên tuổi của mình qua hàng loạt bài thơ xuất sắc, khí phách, ngang tàng trên văn đàn.

Vũ Hữu Định cũng tạo ấn tượng với giới văn nghệ miền Nam bằng chuyến giang hồ cùng nhạc sĩ Trần Quang Lộc khi vào Sài Gòn làm đình đám tại Hội quán Cây tre của ca sĩ Khánh Ly để giới thiệu thơ anh và nhạc Trần Quang Lộc. Thời gian Vũ Hữu Định lang bạt tại Sài Gòn, nhà thơ Du Tử Lê kể lại: “Lúc này là thời gian Nguyễn Tất Nhiên (tác giả nhiều bài thơ cũng được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc nổi tiếng như Thà như giọt mưa, Em hiền như masoeur…) “tha” người về nhà tôi nhiều nhất. Trong số những người Nhiên tha về đó, có Vũ Hữu Định. Nhiên cười toe bảo, Vũ Hữu Định đấy anh. Em Pleiku má đỏ môi hồng đó anh…”. Du Tử Lê cũng nói rõ: “Điều tôi thích nhất nơi Vũ Hữu Định, là Định không bao giờ thảo luận văn chương với tôi. Định cũng rất ít khi bắt tôi phải nghe thơ của anh (điểm này, hoàn toàn trái ngược với Nguyễn Tất Nhiên). Định cũng không màu mè, không lên gân, không tác điệu cho ra vẻ của một người làm thơ. Cần gì, Định nói thẳng thành lời, chẳng quanh co rào đón. Bên trong cái dáng vẻ cục mịch, hơi ngơ ngác, Vũ Hữu Định, trong ghi nhận của tôi còn là một người rất ý tứ…”.

Sinh thời, vốn trải chịu một cuộc đời đầy đắng cay, lận đận, có lẽ vì vậy, mà thơ của Vũ Hữu Định thường mang tâm trạng u hoài, ta thán về một kiếp người lỡ vận: “Ta đã hát khúc hát đời lỡ vận. Hát âm u trong đêm tối một mình”. Hình như, với nhà thơ, đêm tối lúc nào cũng là cái phông thẳm sâu của kiếp người, của những bước chân đi không bao giờ đến đích: “Một ngày gió tạnh bên vườn cỏ hoang. Ta nhìn con sâu đo đoạn đời buồn. Em có biết dưới lá mòn hạnh phúc. Trên chân sâu từng ngày tháng héo hon”.

Tuy nhiên, đặc sắc hơn cả là những bài thơ Vũ Hữu Định viết về rượu và chuyện giang hồ. Hầu như phần lớn nội dung các sáng tác của anh đều quanh quẩn ở hai chủ đề này. Chẳng hạn về rượu: “Một ngày rượu uống sao không mềm môi. Một ngày nhớ nhau gió xé mây trời. Cỏ cây cũng gục trong sầu ngất. Một ngày quạnh hiu chết chậm trong đời”(Ngày quạnh hiu). Hoặc: “…Cảm đau thân thế người trong sử. Rượu đắng cay mà sao thấy ngon” (Đêm mưa thiếu rượu nhớ Lý Hạ).

Về chuyện giang hồ, đoạn thơ dưới đây được nhiều người biết hơn cả: “Chiều dựng. Mùa đông mây xám ngắt. Núi cao trời thấp có ta về. Giang hồ đâu có ai phong ấn. Mà nghĩ từ quan trở lại quê”(Chẳng hay).

Vào khoảng năm 1996, một số thân hữu của nhà thơ Vũ Hữu Định đã góp tay, góp tài chánh để thực hiện tập thơ Còn chút gì để nhớ do NXB Trẻ tại thành phố Hồ Chí Minh ấn hành. Tuy nhiên, đến nay, nhiều người cho rằng vẫn còn nhiều bản thảo của anh lưu lạc trên bạn bè chưa tập hợp đầy đủ.

TRẦN TRUNG SÁNG

TẾT NHỨT VỀ QUÊ

Huỳnh Minh Tâm

I-Tết nhứt là hội tụ, là quay về, là mở ra cái quê quán tôi xưa đã phôi pha trong kí ức. Chột dạ nhớ quê huơng. “Chẳng làm gì được cho quê/chỉ xin làm cỏ chân đê giữ làng”(Nguyễn Hàn Chung). Quê hương có bao xa mà quê hương xa xa lắm. Mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm tính toán so đo mê mải rồi lần dò trở về quê lúc tết nhứt bề bộn gió mưa rét giá cuối đông.Đường về quê xa lắc/độ tóc bạc độ tình phai/đất khách đứng ngồi chân mỏi/đêm nằm hoa rụng trắng giường/đâu dáng mẹ ngồi bậu cửa/tay đưa giấc ngủ trưa hè/câu ca dao chơi ngoài gốc rạ/chưa về thổi lửa nấu cơm/tí tách mưa đêm vườn ổi/đâu con sâu róm lá non/đường về quê sao xa lắc/bò ngang bò dọc cụt cành.Đọc thơ đến đó, thằng bạn thân của tôi ba mươi năm mới quay về  thăm quê ôm mặt khóc não nề tan nát. Tất thảy một dòng chớp thời gian. dời người mộng tưởng. “Thảo sắc thanh thanh liễu sắc hoàng/ đào hoa lịch loạn lí hoa hương/ đông phong bất vị xuy sầu khứ/ xuân nhật thiên năng nhạ hận trường”(Sắc cỏ xanh xanh sắc liễu vàng/hoa đào hoa lí lẫn mùi hương/gió đông chẳng thổi sầu đi hết/mối hận ngày xuân để vấn vương,Xuân tứ-Giả Chí).

II-Tết nhứt là thời khắc gì gì hoa nở trời xanh? mùa xuân là mùa màng sum họp gì gì mà nắng thơm thơ mộng?ngoài sân hoa cải đã vàng/mùa như đã muốn nắng sang Giêng rồi/bến chiều vẫn một mình tôi/chìm trong vang động lở bồi đời sông”(Ngoài xuân, Phan Chín). Phố xá, siêu thị, chợ búa tấp nập, nghìn nghịt người là thế, mà sao anh Phan Chín của tôi lại cô đơn cô độc sầu thảm thế, tội nghiệp thế !?. Thi sĩ là kẻ mơ mộng viễn vông cổ quái, không chịu khép vào khuôn sáo vui vẻ của cuộc đời, cứ ngu ngơ muốn bung ra cái tâm tưởng xa lạ tịch tĩnh. “Phố hôm nay phủ xiêm người/em về đầy đủ môi cười bên răng/ngày vui xê xích hai hàng/tháng so le đếm bờ ngăn bến rào/thưa em từ bữa xa nào/ nhìn nhau mộng đã bước vào trong mơ/ những nhành mai sớm sương bên lá/những nhành liễu chiều gió bên cây/ cũng lay lắt bởi đời xuân em ạ/thế nên chi anh cũng viết dòng này/ hồng vàng tụ bữa kia em có thấy/nước xuôi dòng là cổ độ nhìn theo/ tuổi mười sáu bây giờ lên gấp gãy/mộng miên man là mây phủ lưng đèo” (Bùi Giáng). cảm thấy lênh loang lếnh loáng ở đâu đó cái tôi phiêu dạt của những cánh hoa vô thường trôi nổi. Cảm thấy khăn gói của người bồng bế tôi qua nhiều cánh cửa thời gian, qua các cuộc rượu đắng mứt ngọt.

III-Đầu tháng giêng mà mưa lạnh. cái sum vầy của lòng người có ấm lại những kỷ niệm thành quách xa xưa ? Chợt hé cánh cửa và người ra đi, đi mãi.Đếm lại, ôn lần những gương mặt thân quen tưởng chừng lẫn quất ở đâu đó . Về, về đây đi. Tay em đâu trèo nhành bưởi/ tóc em đâu mắc nhánh tre xanh/ tuổi em đâu mai vàng đón tết/ tình em đâu nắng ấm Giêng Hai/ nào bát tiên nào cúc trắng/ nào vạn thọ mộc mạc tình đời/ nào giếng nước mát lành chảy rưng cuống họng/ nào trầu cau ai buộc tình ai/đường về quê sao mà xa lắc/xa như giấc mộng tuổi thơ/có con dế chiều kia ra trận/gãy đôi chân nằm khóc tỉ tê. tỉ tê tê tỉ với cái tôi trước ngưỡng mùa xuân xanh mơn mởn như thế tưởng cũng là quá chén. Bởi hồn xuân vẫn mang mang niềm hạnh phúc đầu ngõ cuối sân. Bởi vũ trụ rộng lớn hồ hởi biến dịch biến di lá rụng cây lại đâm chồi. “nơi vết sẹo thân cây/ bật lên chiếc chồi non biếc/như đôi cánh thiên thần/lộng lẫy niềm tin/toả vầng xuân bát ngát”(Đỗ Thượng Thế). Chào anh thi sĩ.Anh vẫn còn tỉnh táo thế sao ? “ Còn ở lại lột ngày còn yêu mãi/còn một đêm còn thở dưới trăng sao/thì cánh mông còn tung lên không ngại/Níu trời xanh tay vói kiễng chân cao” (Bùi Giáng).


MÙA XUÂN LANG BẠT KỲ HỒ

Nói theo kiểu Từ điển Việt Nam, Viện Ngôn ngữ hoc, NXB Đà Nẵng 2005, lang bạt : “sống nay đây mai đó, ở những nơi xa lạ. Cuộc đời lang bạt, đi lang bạt để kiếm ăn; còn lang bạt kỳ hồ như lang bạt, nhưng nghĩa mạnh hơn”. Vậy là, suy diễn rộng dài ra, hoặc là tưởng tượng mông lung miên viễn , thì cố xứ của ta lúc bấy giờ, hiện trạng lúc đua chen là viễn vông, viễn tượng, viễn ảnh, không nơi chốn của tâm thức vượn người; cái tự ngã của ta biến mất ?

Nói theo kiểu cố thi sĩ, trung niên thi sĩ kì dị, đa đoan Bùi Giáng (thì tôi cứ tưởng vậy, xem như vậy, vơ vào vậy ! ) là: “ cỏ hoa hồn du mục/ nghe trời đổ lộn nguyên khê/tiếng vang rụng rớt gieo về động xanh/ gót chân khơi rộng bóng cành/ nhịp vang dầu núi vọng thành luỹ xiêu/ thời gian chắn bước bên chiều/ khóc sông bến lạ mưa nhiều sớm xuân/ cỏ hoa từ bỏ ruộng đồng/ hồndu mục cũ xa gần hử em”. Tức là nghe trong trời dất một sự đổ vỡ liên miên,liên tục, vắt dòng, xuống nhịp trèo non. Tất thảy nói lên rằng, tất thảy dường như vô thường trường cửu biến dịch, không chịu nổi cái cũ kỹ buồn thỉu buồn thiu, mà phải, ắt phải dấn thân vào chốn mơn mởn đìu hiu, xanh biếc cô liêu ?. Ngủ yên bến lá cỏ chiều/ quên cây bóng xế quên triều biển ru/ duỗi thân thể muối sương mù/ dung nhan sầu khổ bây giờ bỏ đi/ niềm chung với nỗi riêng gì/ linh hồn xiêm mỏng không vì mây bay (ngủ yên- Bùi Giáng).

Nói theo kiểu cố Nhạc sĩ thiên tài bất định Trịnh Công Sơn là: “ngày mai em đi/ biển nhớ tên em gọi về/ gọi hồn liễu rũ lê thê/ gọi bờ cát trắng đêm khuya/ ngày mai em đi/ đồi núi nghiêng nghiêng đợi chờ/  sởi đá trông em từng giờ/ nghe buồn nhịp chân bơ vơ/ ngày mai em đi/ biển nhớ em quay về nguồn/ gọi trùng dương gió ngập hồn/ bàn tay chắn gió mưa sang/ ngày mai em đi/ thành phố mắt đêm đèn mờ/ hồn lẻ nghiêng vai gọi buồn/ nghe ngoài biển động buồn hơn”. Thấy gì thấy gì một cuộc ra đi đơn thương độc mã .Ra đi đi xa những cũ mềm luyến nhớ để trở về tao phùng với dằn vặt quằn quại tử biệt sinh ly. Tiếng nhạc não nùng chăng ? thê thiết chăng ? tin yêu chăng ? hy vọng chăng ? để hồi âm ngơ ngẩn ngẩn ngơ. Tiếng nhạc buông chùng lơi lả lả lơi để đôi chân rắn rỏi theo tiếng vọng của tâm tưởng mơ hồ phiêu hốt ?

Nói theo kiểu điên dại của tôi, dại khờ ngu ngơ ngớ ngẩn, đó là : Kỳ hồ lang lạt, thưa em/ lại thêm lang bạt lại thêm kỳ hồ/ năm này tết nhứt rồi sao ?/ năm nào tết đến năm nào tết đi ?/ tuổi mình tính rỉ tính ri/ tuổi rồng tuổi rắn tuổi dì tuổi cô/ hỏi ra lang bạt kỳ hồ/ lại thêm lang bạt kỳ hồ lại thêm/ chân dài tóc bụi hoa niên/ ngó ra xuân đã kề bên chân tường/ cánh cò dõi bóng quê hương/ trời xanh ai nhắn mùa màng thắm sâu/ hỏi sương ;bạn cũ năm nào ?/ chỉ nghe nước chảy giá cầu tương tư. căn bệnh trầm kha của họ “Thi” với những mảnh vụn của kí ức, thời gian và bất chợt tương tư thức muộn. Trường sinh ly còn lẫn quất đó đây trong lục bát lang bạt tái tê. Rồi có hạnh ngộ được chăng với biển đời mà trăm sông dòm ngó. mặc kệ đi chăng ? u sầu thế ? yếu đuối thê ? hãy nhìn xem, hãy nghe ra : “ Xuân khứ bách hoa lạc/ xuân đáo bách hoa khai/ sư trục nhãn tiền quá/ lão tùng đầu thượng lai/ mạc vị xuân tàn hoa lạc tận/ đình tiền tạc dạ nhất chi mai” (Mãn Giác Thiền sư) (Xuân đi trăm hoa rụng/ xuân đến trăm hoa cười/ trước mắt việc đi mãi/ trên đầu già đến rồi/ chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết/ đêm qua sân trước một cành mai).

Nhặt mảnh vụn cơn đau quá vãng giữ ấm lòng linh lạc

(nhân đọc Sống với thời quá vãng của Phan Xuân Sinh –Hợp Lưu 2009)
Nguyễn Hàn Chung
Những năm cuối thập niên tám mươi khi còn làm anh giáo dạy văn ở một góc xó xỉnh quê nhà Quảng Nam- Đà Nẵng tôi đã có dịp đọc văn thơ Phan Xuân Sinh trên các tạp chí văn học và các website hải ngoại nhưng chưa hiểu văn và người anh nhiều .Khi tôi đến nước Mỹ  sống ở Houston – Texas có dịp quen biết anh ,vì thế đối với sự thẩm thấu văn thơ anh tôi làm sao có đủ lực  soi tỏ, cạn cùng như hai bậc đàn anh thâm giao với anh như nhà thơ Trần Doãn Nho và  nhà văn Lương Thư Trung trong lời  tựa và đề bạt ở trang đầu và trang cuối tập truyện. Nhưng chả lẽ cảm mà không thấm, thôi thì tôi  xin bộc tỏ  một ít cảm quan của mình khi thâm nhập và cố gắng chiếm lĩnh hồn vía văn Phan Xuân Sinh .
Sống với thời quá vãng không đồ sộ hoành tráng mang tính sử thi nhưng ngồn ngộn chi tiết hiện thực sống động.Bất kỳ loại thể văn học nào anh  đều đào sâu suy tư tìm hiểu,khai phá các vấn đề lịch sử ,dân tộc ,con người. Những nhân vật của anh được đặt trong mối liên hệ phối thuộc trong quá trình tác giả và nhân vật tham dự một cách tích cực .Đôi lúc đọc văn anh dường như người đọc cảm được cái giọng Quảng ngay thật mà riết róng ,nỗi phẫn nộ cố kìm nén mà vẫn bật thoát ngoài con chữ ( Cơn đau không dứt, Một giai đoạn ngậm ngùi). Ta thấy rõ anh không chuyên chú làm văn chương,mục đích của anh là nhặt và phơi những đoạn đời, những mảnh  vụn xa khuất làm chất xúc tác cho người đọc.Người có tuổi tìm trong hồn chữ mênh mang những niệm khúc ngày quá vãng,người tuổi trẻ sinh sau đẻ muộn có thể hiểu được nỗi lòng  bạch đầu bi phẫn cha ông .Nhưng cũng chính vì không chuyên chú làm văn chương tự thân những mảnh vụn ngậm ngùi anh kể lại bất chiến tự nhiên thành đã là văn chương đích thực bởi văn chương nào lại không đánh động trái tim con người. Trong nhiều truyện hoặc bút ký anh ráng làm ra vẻ khách quan tỉnh táo khi kể, tả tình tiết diễn biến câu chuyện nhưng đàng sau những câu chữ ngỡ như trung tính ấy  người tinh mắt sẽ mau chóng nhận ra trái tim dịu dàng nhân hậu  tràn đầy yêu thương  nhân ái của một nhà thơ(Khi con đường không lối thoát)( Một niềm vui ) .Bút pháp anh sử dụng trong hầu hết các truyện và bút ký mang đậm chất hiện thực ,ở  một đôi bài tính chính luận xen kẽ với hiện thực phô bày cảnh và người sống động đậm nét trong lần quy cố hương của anh (Sống với thời quá vãng).Ngôn ngữ đối thoại trong văn anh là kiểu trò chuyện giản dị ,đậm tính phương ngữ thỉnh thoảng ta còn bắt gặp lối độc thoại  nội tâm  dẫn dắt người đọc đồng cảm với anh về cách hành xử của các đối tượng được anh đề cập trong tác phẩm Gió bụi một hời -Nhặt lại những mảnh vụn .
Có thể nói Sống với thời quá vãng của Phan Xuân Sinh là một bức tranh chân thực về lịch sử ,con người một thời,  tái hiện  sắc nét  chiều sâu tâm tư của tác giả .Cảnh và tình người cũ và  người mới ,chiến thắng và chiến bại rốt cục trước  niệm thiên địa chi du du vô chung vô thủy của thời gian cũng chỉ là những mảnh vụn chìm sâu trong ký ức.Tác giả nâng niu gìn giữ nó để người đời sau còn biết  có gió bụi một thời rót về phương mô.Anh Trần Doãn Nho đã nghĩ chín, anh Lương Thư Trung đã ghi sâu về cái đẹp ,cái đáng trân trọng của Sống với thời quá vãng . Riêng tôi, với tư cách độc giả , tôi chỉ làm một việc dễ hơn hai anh nhiều : Phát biểu cảm nghĩ cá nhân  về những điều tâm đắc rút ra từ tập truyện . Còn chiều sâu tác phẩm,nội hàm ẩn tàng trong thi pháp tác phẩm còn chờ đợi nhiều  ở sự thẩm bình của các anh chị văn thi hữu xa gần  .Tôi khao khát một sự thâm nhập, chiếm lĩnh tác phẩm và chia sẻ với anh Sinh về đứa con tinh thần  anh đã trăn trở ,quặn thắt, tâm sự ,giải bày  từ một đời chiến chinh ,thăng trầm,lưu lạc .  .                     Có một điều tôi muốn nói rằng bao nhiêu cuộc chau mặt với tang thương -luống đoạn trường khi chứng kiến cảnh đó người đây  trong Sống với thời quá vãng đâu chỉ  có một mình tác gỉa họ Phan .Còn đồng tác giả  chúng ta  tuy vết thương đã liền da liền thịt nhưng dấu cắt vẫn còn đau  .Đọc tác phẩm và đồng sáng tạo với tác giả theo tôi thiển nghĩ đó cũng là tâm nguyện của bất cứ nhà văn,nhà thơ nào.  .
Houston   November 12 ,2009

MUỜI NĂM, THƠ ĐẤT QUẢNG

                                                                                                   Thi Nguyễn


  * Thơ giữa quê hương

  Mười năm chỉ đủ để làm một đứa bé lên… mười tuổi, vẫn còn biết bao nhiêu lơ ngơ, hụt hẫng, chóng mặt giữa đời thường. Nhưng mười năm cũng làm vụt sáng những cây bút thơ của các vùng miền quê Quảng. Lại mười năm ấy nuốt chửng, biệt tăm… một số con người. Thơ Đất Quảng đi cùng quê hương ở những tháng ngày không kém phần khốc liệt. Chúng ta đang ở trong một vùng đất còn nghèo, vừa thoát khỏi cơ chế bao cấp đã bước ngay vào cơ chế thị trường, lại đầu tắt mặt tối xây dựng cơ ngơi ngay khi vừa chia tách tỉnh. Cảm hứng tung hê vào cuộc hồi sinh của quê hương đan xen những giằng co của bản ngã, giữa mới và cũ, giữa động và tĩnh trong thân phận từng con ngưòi cũng là điều dằn vặt cho thơ ca. Và nhiều khi mỗi người như đang “…ngậm chiếc lá non tiền kiếp – Vỗ đôi cánh vận hạn – Con chim cố lao mình về phía trùng khơi” (Khát – Nguyễn Hàn Chung). Thơ Đất Quảng 10 năm vẫn đắm mình trong những dòng sông quê nghìn năm tuyệt bích, vẫn có những quẫy đạp tuyệt vời nhưng là kiểu của sông Tranh, sông Thu, sông Hoài… chưa lẫn vào biển Đông, chưa nhầm cùng ai được. Thơ giữa quê hương chưa bị cuốn xiết giữa dòng đời nên không hề rối rắm, vẫn giống như gã nhà quê, đôi mắt trong veo, vừa dễ thương, vừa lơ ngơ tội nghiệp. Ở đó gã tự bạch: ”Tôi nhủ tôi ơi tôi không thể bay vì không có cánh – bạn nói nên bay”. Và có thể gã còn đứng đó với phù vân trôi mải miết, với thinh không ngàn tiếng thét gào “mây trên đầu ký thác vào đâu – Kìa nỗi phiền muộn của hoa trong bình từng phút từng giây kêu đòi thay nước” (Gởi một người viết trẻ – Phùng Tấn Đông).

  Nhiều người ở xa bảo: năm, mười năm qua người làm thơ Quảng Nam dường như chưa đi qua khỏi cuộc chiến tranh. Nhiều khi mình chẳng muốn phân bua mà âm thầm đi lên non cao nước ngược, xuống tận sóng, tận cát để tìm câu đáp riêng mình.

  “Những con đường Trường Sơn chạy đến ngày xưa – Người góa phụ xin dòng sông nhận mặt – Người lính ấy ở đâu? Ở đâu? chiều nắng tắt – Người góa phụ trôi trong lòng một nhánh sông, sông…” (Cánh buồm đỏ trên sông Thu Bồn – Trương Vũ Thiên An). Ừ, cuộc chiến tranh vẫn chưa đi qua. Mười năm, danh sách liệt sĩ và bà mẹ anh hùng vẫn dài lên. Mười năm đồng bào vùng Tây Quảng vẫn chưa qua phổ cập văn hóa, điều cần cho họ vẫn là cái sống qua ngày. Đã mười năm, ở nơi thành phố, vẫn còn đào lên và bắt gặp hàng chục hài cốt những người nằm xuống cho thơ ca được sống. Và mười năm, không, đã mấy chục năm rồi bạn tôi vẫn đo đo, vẽ vẽ tìm về một đầu sông xa lắc nơi lưu giữ xác cha mình. Cái chất thủy chung, sau trước của người Quảng cứ vận vào trong thơ ca nên thơ Đất Quảng vẫn tận tuñy, đồng hành cùng những nỗi đau chưa dứt. ”Còi cọc lớn xương rồng gai với góc – Lũ trẻ con khô đét dưới mặt trời – Vịn vào cát ngã rồi đứng dậy – Tự tin đi trên rát bỏng quê nhà” (Trên những đồi vú cát – Nguyễn Mậu Hùng Kiệt). Dù, những đường ngang ngả dọc, nhà mới phố mới đã mọc lên nhưng có lẽ còn lâu, rất lâu thơ mới xa xăm được tiếng thở của những dòng sông thanh vắng. “Đêm phố thị chòng chành con bến cũ – Ký ức quê còn trắng nỗi niềm – Tung chăn chiếu chạy ù về tháng năm lêu lổng – Chụp níu mênh mang khuyết ánh trăng rằm” (Bến xưa – Ngô Hà Phương).

  * Thơ giữa dòng dời

  Mười năm, thơ Việt Nam với những dòng chảy ào ạt, có lúc người ta nghĩ thơ đang lạm phát. Nhìn số lượng tập thơ tung trong ra cuộc sống thật và ảo, trên tập san, trên báo chí, thơ giữa những thi đàn thì quả có lẽ không sai. Và cũng ngần ấy năm sự hờ hững của người đọc với thơ càng thể hiện rõ ràng trong công chúng và giới trẻ. Hai điều nghịch lý tồn tại song song với số phận thơ ca đã nói lên sự đổi thay sâu sắc của cuộc sống xã hội, của sự thụ hưởng văn hóa hôm nay. Ngưòi ta đã đề cập đến sự khác biệt giũa thế hệ ngưòi cầm bút trong chiến tranh với thế hệ 7x rồi 8x… về ngôn từ và giọng điệu, về tư duy mới và cũ. Có đấy, nhiều lúc đã rộ lên kiểu thơ đánh đố, kiểu thơ tung hê sự bùng vỡ giữa những hình ảnh làm nền móng cho một tứ thơ đa nghĩa hoặc bê nguyên ngôn ngữ đời thường mà người ta gọi là khẩu ngữ vào trong mỗi câu chữ… Những tuyên ngôn, những thể hiện thơ với những kiểu chưa từng đã xuất hiện, dòng thơ lục bát thì bắt đầu sương khói trong khi trường ca đang giãy chết từng ngày. Và, phê bình thơ hao hao giống như những bình xịt nước hoa trong siêu thị. Đành rằng không nên lấy thơ giai đoạn này mà so sánh với thơ của giai đoạn khác. Thơ mỗi ngày phải mới, cũng giống như từ diễn thơ đến ngâm rồi đọc, rồi xem… nhưng không ai có thể chối bỏ cội nguồn của thơ là sự chắt lọc, lắng đọng từ cuộc sống. Phải bình tĩnh mà nhận ra rằng trong ầm ì dòng chảy ấy có lắm nhà thơ tự đắm mình trong tiếng vỗ tay theo kiểu dáng hội trường và vẫn còn có một mạch nguồn âm ỉ từ những giai điệu đời thường đầy tính nhân văn và trí tuệ, một cái mới từ nội dung tương thích với dòng đời.

  Nói đến thơ cả nước để chúng ta ngắm nhìn lại một chặng đường qua của dòng thơ Đất Quảng. Mình đang ở đâu và mình đã làm gì? Có lẽ vẫn còn quá ngắn về mặt thời gian để nói lên điều ấy nhưng không thể phủ nhận rằng thơ của Đất Quảng ít bị ràng buộc bởi những xung động chung quanh. Không nói đến những người làm thơ Quảng Nam đã đi xa, làm người ngụ cư xứ khác thì người viết quê mình hầu hết xuất thân từ những làng quê, phố nhỏ. Họ buồn vui cùng những nắng dữ, mưa dầm cùng dòng sông ngọn núi và cả những đau thương dằng dai chưa hết được. Họ ít nói những điều to tát, vắng tuyên ngôn và còn lắm những níu giữ của cuộc sống cơm-áo-gạo-tiền. Riêng cái tình quê vẫn luôn là điều sáng lên và sâu nặng nhất trong dòng bút Quảng Nam “Tưởng nghinh ngang thiên hạ hải hồ – ngửa mặt phơi cùng chín phương nắng gió – về đây bụm một sắc trời xanh ngợp người quá kể – sóng không hình đứng cạn mà… say” (Bài áo giấy cho sông – Nguyễn Đức Dũng). Bên nhiều hạn chế cái điều tưởng như là nhà quê ấy lại là cái không thay thế được, lại là một nét riêng, một ưu điểm của thơ ta. Những cây bút Quảng dù không ồn ào cây cao bóng cả, không trần trụi tục tằn, không phô diễn xác thân, không tung hứng chữ… nhưng một số trong họ vẫn không bị nhạt nhòa mỗi khi góp mặt cùng chiếu thơ đất nước. Vẫn có đó, nhiều ngưòi đang tìm cách làm mới ngôn ngữ và làm mới cách nhìn. Có đấy, những Phùng Tấn Đông, Đỗ Thượng Thế, Phạm Tấn Dũng, Trương Vũ Thiên An… ”đã đến lúc – ta phải quen trước cơn bão trắng – trang giấy sa mạc cháy khô nỗi vắng – tự cưỡi bóng mình trong giấc mơ hoang” (Bóng mưa bay – Đỗ Thượng Thế). Họ vẫn đi trên đường…

  * Ngày ấy…

  Mùa xuân năm 1997, khi những chuyến xe mang đầy băng role chạy theo Quốc lộ 1 vào nơi phố thị vẫn còn nguyên con đưòng độc đạo và vài ngã ba gầy guộc để hình thành nên một đơn vị hành chính mới thì những nhà thơ Quảng Nam đang ở… một cảnh hai quê. Mãi đến đầu năm 1998, tại tòa soạn báo Quảng Nam, trong phòng Tổng Biên tập, một cuộc họp được mở ra, một Ban Chấp hành Hội Văn học-Nghệ thuật, một Ban Biên tập lâm thời ra đời và tờ Đất Quảng được quyết định gấp rút ra mắt số đầu tiên. Đất Quảng đã có mặt cùng mùa xuân mới, bên dòng kênh thủy lợichảy qua phường An Sơn và Hòa Hương, dưới bóng những tàn cây mận đào râm mát. Trong trụ sở thuê của nhà dân, những đôi mắt vui mừng nâng niu số báo có hình bìa chùm hoa tim tím. Và, bài thơ nào cũng thấy hay, truyện ngắn nào, bản nhạc nào cũng thật tuyệt vời… Thế đó, dấu chân của những người đi mở… thơ bắt đầu từ bờ kênh nho nhỏ, trong veo nước và đầy rong đuôi chồn. Nguyễn Tấn Sĩ, Nguyễn Hàn Chung, Phùng Tấn Đông, Mai Thanh Vinh, Phương Dung, Huỳnh Minh Tâm… bắt đầu cho một sân chơi đầy thử thách. Chẳng bao lâu tờ tạp chí đã là nơi hội tụ và tự bộc lộ mình của những cây bút từ nhiều tầng lớp. Lớp trẻ xuất hiện một Nguyễn Tấn Cả rồi những Phan Chín, Lê Phước Trịnh, Nguyễn Mậu Hùng Kiệt bên cạnh những cây bút trung niên, Phạm Phú Hưng, Phạm Tấn Dũng, Nguyễn Minh Hùng, Trương Vũ Thiên An, Nguyễn Đức Dũng… rồi Đỗ Thượng Thế, Hà Văn Đa, Nguyễn Nho Khiêm, Ngô Hà Phương, Nguyễn Chiến… Cứ vài năm lại xuất hiện những cây bút mới. ”Xin cảm ơn cơn mưa đêm – giấu hộ khuôn mặt em dị dạng – nỗi nhớ vo tròn thành đốm sáng – đốt cháy trái tim khao khát cuối mùa” (Lời từ trái tim – Nguyễn Thị Thùy Dung).

  Nhưng có điều vui lại cũng có nỗi buồn, những cây bút đầy hy vọng khởi đầu cuộc hành trình của chính mình, nấn ná cùng Đất Quảng năm ba năm rồi lại ra đi biền biệt Nguyễn Tấn Cả, Phan Chí Thanh… có những người không ở lại với mảnh đất này vì lý do công việc Nguyễn Minh Hùng, Nguyễn Nho Khiêm, Nguyễn Hàn Chung… Có người ra đi vĩnh viễn như một Thái Miên. Và cả những cây bút văn học học văn, bỗng một ngày nào đó họ hết duyên nợ như Trần Trung Kiên, Lê Thị Thùy Dung, Lê Thị Nhật Ánh… Hy vọng rồi có ngày gặp lại họ, biết đâu, trên mảnh đất này.

  * …bây giờ

  Mười năm, đã làm một dấu trừ thì số lượng cây bút thơ Đất Quảng vẫn có tăng lên đôi chút nhưng hầu như ít thay đổi. Các cây bút nữ vắng dần đi và càng đắm mình trong thân phận, thơ họ ngân lên ở hai đầu của tỉnh. ”Thà một mình nhìn bóng chiều đi – Một mình trông mùa xuân qua đầu ngõ – Một mình-vẫn một mình nghèo khó – Hơn mở ra nhận nỗi ưu phiền” (Vừng ơi! – Phương Dung) và “Người đàn bà ngồi trong đêm – Cầm bút viết về mùa xuân – Khi nụ còn chìm trong thân cây rạo rực – Một chút xuân trong lồng ngực – Vút bay vào hư không” (Gọi xuân – Mai Thanh Vinh). Và dòng thơ cho trẻ  em, ngoài các em chỉ mỗi mình Phan Chín loay hoay cho Quê nhà cô Tấm “Chiếc vỏ ốc nho nhỏ – Mà chứa lắm diệu kỳ – Bởi vì khi em thổi – Nghe như biển thầm thì…” (Vỏ ốc)… Cứ mười năm, có người nói thơ Việt lại có sự thay đổi sang một thi pháp mới. Nhưng ở dòng thơ chung đó ta chưa thấy hé lộ cụ thể điều gì. Cái mới của ta có lúc được tung hô, nhiều khi là cái rất cũ của người. Thơ Đất Quảng dường như chưa chịu xoáy vào cái vòng xôn xao ấy nên tự mình nhiều khi lẩn quẩn nhưng cũng vì thế mà không bị cái khốc liệt của quy luật dập vùi. Họ có một chút riêng và cố làm nên cái riêng ấy. Những cây bút thơ mười năm về trước giờ đây cũng đã tự khẳng định mình, già dặn, lắng đọng và vẫn chân quê như giọng Quảng Nam không lẫn vào đâu được. Nhiều người trong họ hầu như đều đã có thơ tập riêng cho mình dù in chung hay riêng, đó là điều thật sự đáng được quí trọng trong cuộc sống đời thường còn rất khó khăn nầy. Một tập như của Phạm Phú Hưng (Bến xưa), Nguyễn Hải Triều (Rơm rạ mùa), Phương Dung (Vừng ơi!), Đinh Mướk (Đường quê hương), Mai Thanh Vinh (Khát trăng)… hai hoặc hơn hai tập như Phan Chín, Nguyễn Mậu Hùng kiệt, Nguyễn Tấn Sĩ, Huỳnh Minh Tâm… Dù có thơ in riêng hay chưa nhưng dư âm thơ Đất Quảng của nhiều cây bút đã nằm trong trái tim của người đọc trong và ngoài tỉnh và ở chính họ vẫn còn đang chờ đợi sự thử thách  khắt nghiệt của thời gian

  * và mười năm nữa

  Một nhạc sĩ đã viết “…ngày chị tôi Trời cho làm thơ..” đủ để thấy thơ không thể vươn nhanh, vươn cao như tốc độ xây nhà, dầu là 10 năm nữa quê hương mình thịnh vương đến đâu. Đó là duyên trong mỗi một người, đó là duyên cho mỗi một vùng miền. Nói chuyện thơ ở 10 năm đến quả là điều bất cập. Nhưng 10 năm, nếu không có cái nhìn và công việc bền bỉ,  tỉnh táo, cũng đâm ra để phá hoại một những gì đã có trong một quá khứ đẹp đẽ một khi ở đâu đó đã có những giọng điệu chối bỏ bản chất thực và di sản có được của thi ca. Thơ muôn đời phải ở chính trong những xung động của bản thân cuộc sống, nhà thơ phải có trái tim và trí tuệ. Để được, mười năm nữa phải bón xới mới có cây đời mãi mãi xanh tươi và người làm thơ Đất Quảng đừng quên rằng dù ở thời đại nào mình cũng và trước hết là viết cho vùng quê Quảng, con người xứ Quảng.

  Thơ Đất Quảng đang cần những cú hích trong ngôn ngữ và nội dung, trong rung động và tư duy từ những phong cách và đặc thù văn hóa của một vùng đất vốn có. Eptusenco, nhà thơ Nga, đã nói “Hãy đấm vào bức tường, có thể vỡ tay đấy, nhưng cũng có thể làm vỡ bức tường”. Hy vọng sẽ có một thế hệ người cầm bút và những dòng thơ để đời của người làm thơ Đất Quảng. Cuộc hành trình đang ở trước mắt và thơ muôn đời vẫn là niềm khát vọng của người cầm bút và công chúng yêu thơ. Người làm thơ vẫn ”Suốt đời tìm… suốt đời rơi… để tìm…” (NTS).

Mùa mưa 2007

Kỳ thư Thiên Long bát bộ

Khi quần hùng hội yến ở Tụ Hiền Trang để tìm cách đối phó với “tên mọi rợ Khất Đan” Kiều Phong thì Kiều Phong đường đường chính chính bái trang mang theo A Châu sống dỡ chết dỡ bởi trúng Đại Kim Cương chưởng của các nhà sư phái Thiếu Lâm. Hai phe chính tà có mặt đều kinh ngạc. Uy dũng, hiên ngang, Kiều Phong sai người rót rượu, nâng chén tuyệt giao với bằng hữu giang hồ rồi mở cuộc tử chiến. Ngay từ lúc đó, số phận bi tráng của người anh hùng Kiều Phong đã thuộc về Định Mệnh.

NGƯỜI ANH HÙNG CHỦNG TỘC

Từ cuộc ruợu với sơ giao với Đoàn Dự ở Tùng Hạc Lâu đến cuộc rượu tâm giao ba huynh đệ giữa vòng vây sinh tử trên núi Thiếu Thất, Kiều Phong hiện ra như một người anh hùng coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Thực ra, Kiều Phong đã chết rất sớm! Chết ngay từ cuộc rượu ở Tụ Hiền Trang. Lúc đó, Kiều Phong không còn là Kiều Phong nữa. Kiều Phong giống như anh chàng Gregor Samsa trong tác phẩm của Kafka một buổi sáng thức giấc dậy thấy mình biến thành một con gián trên giường. Ta là ai giữa cõi đời này? Bạn bè ta là ai? Cha mẹ, quê hương bản quán ta ở đâu? Tên tuổi ta là gì? Không hề biết! Từ một người trượng nghĩa, đầy hùng tâm tráng chí, chỉ biết rượu và võ công, “Không Câu Nệ Hình Thức”, đường đường là bang chủ Cái Bang uy chấn vang trời, Kiều Phong đã biến thành một con người hoài nghi, thành tên đại ác dòng giống mọi rợ Khất Đan trong mắt giang hồ. Mới ngày hôm qua còn huynh đệ, bằng hữu, hôm nay quay ra cừu hận. Kiều Phong không còn một chốn dung thân ở cả hai phe tà và chính giữa giang hồ bao la. Oan ma chướng nghiệt trùng trùng đã đổ lên đầu Kiều Phong. Giết ân sư Huyền Khổ, giết cha nuôi Kiều Tam Hòe, giết huynh đệ Mã Đại Nguyên, ngộ sát người yêu A Châu… Ai đã gây nên? Trời xanh kêu không thấu! Khác với những đấng đại trượng phu, những người anh hùng trong tiểu thuyết Kim Dung, Kiều Phong hành tẩu trên giang hồ không chỉ để ra tay nghĩa hiệp mà còn tìm lại “bản lai diện mục” của mình. Hành trình “trở lại” của Kiều Phong tượng trưng cho ý chí vươn lên, cho trạng thái xung đột (conflictuelle) của tâm hồn con người. Khởi thủy, Kiều Phong ngỡ mình mang dòng máu Hán tộc “cao quí”, hóa ra mình lại mang dòng máu “mọi rợ” Khất Đan, tưởng mình họ Kiều hóa ra là họ Tiêu… Phi lý nối tiếp phi lý, ngộ nhận chất chồng ngộ nhận. Người Hán thì có khác gì người Liêu? Vậy mà Kiều Phong đã ôm mối băn khoăn đó suốt cuộc đời, khi ra đến Nhạn Môn Quan cũng không lý giải được bởi cõi người lắm nỗi thị phi. “Ta không phải người Hán! Không phải người Hán! Ta là mọi rợ Khất Đan! Mọi rợ Khất Đan!”. Tiếng gào thét thống thiết của Kiều Phong ngoài cửa ải Nhạn Môn Quan quả là “Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư”. Một tiếng kêu gào phi lý lạnh cả trời, nhói buốt tâm can. Không còn nghi ngờ gì nữa! Người anh hùng Kiềâu Phong chính là nhân vật đỉnh cao trí tuệ của Kim Dung. Kiều Phong không phải là người anh hùng giai cấp mà là người anh hùng chủng tộc trong mọi thời đại. Kim Dung đã để cho Kiều Phong “sát thân thành nhân” ở ngoài Nhạn Môn Quan, biên ải của hai nước Tống – Liêu quả là một bố trí hoàn toàn hợp lý. “Si vis vitam, para mortem. Nếu muốn chịu đựng được cuộc sống thì phải sẵn sàng để nhận cái chết” (Sigmund Freud). Từ giã chốn giang hồ gió tanh mưa máu ư? Không bao giờ được. Vĩnh viễn, vĩnh viễn không bao giờ có giấc mộng thanh bình chăn cừu nuôi dê ngoài Nhạn Môn Quan với người yêu A Châu. Ảo tưởng rực rỡ đã hoàn toàn sụp đổ! Định mệnh đã troi1 buộc số phận Kiều Phong như vậy. Cuộc hí trường của tạo hóa đã gây ra như vậy!

SỰ TAN VỠ NHỮNG ẢO TƯỞNG RỰC RỠ

 “Sự tan vỡ của những ảo tưởng rực rỡ là đề tài của “Thiên Long Bát Bộ”: Từ nhan sắc thần tiên của Vương Ngữ Yên đến uy danh lừng lẫy của Mộ Dung Phục, tất cả đều dẫn đến tiếng cười gằn của một thực tại nham nhỡ và tầm thường………”. “Truyện của Kim Dung dẫn người ta từ một sup đổ đến một trật tự mới. Aáy là truyện của một cuộc giao thời: thời của phiêu lưu, của sáng tạọ, của khám phá, nhưng cũng là thời của nghi vấn, của bất trắc, của lưu vong; thời của mâu thuẫn, của xung đột và của sự bùng nổ của tất cả những năng lực cá nhân…”. (Vô Ky giữa chúng ta – Đỗ Long Vân). Lấy thời điểm lịch sử cuối thời Bắc Tống (khoảng cuối thế kỷ XI) làm bối cảnh của Thiên Long Bát Bộ, Kim Dung có điều kiện tung tẩy mọi ý tưởng và quan điểm của mình. Lịch sử Trung Quốc ở giai đoạn này có rất nhiều mâu thuẫn xã hội. Có thể nói rằng Thiên Long Bát Bộ đã vượt qua ngoài phạm vi của tiểu thuyết võ hiệp khi độc giả tiếp cận nó theo bối cảnh lịch sử đã mô tả. Một Mộ Dung Phục với tham vọng khôi phục nước Đại Yên đã bị xóa sổ, một Đoàn Diên Khánh ôm giấc mộng khôi phục ngai vàng đã bị mất đi ở nước Đại Lý, một Tiêu Phong đem thân mình ra hóa giải hận thù giữa hai nước Tống Liêu… Tất cả làm cho Thiên Long Bát Bộ chỉ nói chuyện giang hồ nhưng giống như nói chuyện về con người và lịch sử. Đặc biệt, giữa vòng xoáy “tham sân si” mịt mù của những nhân vật trong Thiên Long Bát Bộ, Kim Dung đã dẫn dắt họ bằng một thứ ánh sáng thiên lương của nhà Phật. Trên hành trình “đi tìm lại chính mình”, người anh hùng Kiều Phong có thể dùng Giáng Long Thập Bát Chưởng sát hại không biết bao nhiêu người nhưng lại được vị Vô Danh Tăng coi sóc Tàng Kinh Các ca ngợi có “tấm lòng Bồ Tát” bởi ông đã nhận ra con người này có căn tu. Các nhân vật Đoàn Dự, Hư Trúc…….. đều ẩn tàng trong mình những phẩm chất như vậy. Chính vì thế, nhận định về Thiên Long Bát Bộ nhà thơ Bùi Giáng đã viết: “Để ba người, Tiêu Phong, Đoàn Dự, Hư Trúc kết nghĩa anh em, Kim Dung đã xây dựng tác phẩm trong mối tư tưởng sâu xa về tồn thể uyên nguyên”. Diệp Nhị Nương, người xếp thứ nhì trong Tứ Ác cuối cùng cũng “hồi đầu thị ngạn” tự sát giữa đương trường khi gặp lại người đứa con trai và người tình của mình. Ác Quán Mãn Doanh Đoàn Diên Khánh cuối cùng cũng thấy giấc mộng ngai vàng chẳng là gì cả khi biết Đoàn Dự chính là con ruột của mình… Chỉ riêng Mộ Dung Phục, Kim Dung đã dành cho nhân vật này một sự trừng phạt đích đáng bằng cơn mê sảng phục quốc của một người điên. Cơn điên của Mộ Dung Phục dường như cảnh cáo một cách rất nhân bản tất cả những tham vọng của con người. Song, đỉnh cao của tư tưởng Phật giáo sâu thẳm trong Thiên Long Bát Bộ thể hiện qua nhân vật nhà sư vô danh coi giữ Tàng Kinh Các. Có lẽ, trong tiểu thuyết Kim Dung không có nhân vật nào hoằng viễn bằng nhân vật Vô Danh Tăng. Một vị sư vô danh, không tên tuổi, không chức vị trong chùa Thiếu Lâm, hằng ngày chỉ làm một việc tầm thường là quét dọn Tàng Kinh Các nhưng ông lại có cái nhìn thấu thị con người từ Tiêu Viễn Sơn, Mộ Dung Bác… đến nhà sư Thiên Trúc Ba La Tinh… khiến cho cả phương trượng chùa Thiếu Lâm cúi đầu ngưỡng mộ. Nhân vật Vô Danh Tăng chỉ xuất hiện một lần gây nên sự bàng hoàng như ánh chớp sáng lòa khai tâm Tiêu Viễn Sơn và Mộ Dung Bác làm cho họ tỉnh cơn mê, hóa giải cừu hận qui y nhà Phật! Nếu xếp thứ tự các bậc chân nhân trong tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung thì vị Vô Danh Tăng này phải xếp vị trí đầu tiên, và là nhân vật có một không hai trong toàn bộ 15 tác phẩm của ông. Độc giả qua mọi thời kỳ có thể mê “Tiếu ngạo giang hồ”, “Ỷ Thiên Đồ Long ký” hay “Anh hùng xạ điêu”…….. nhưng Thiên Long Bát Bộ vẫn là tiểu thuyết có tầm tư tưởng lớn nhất của Kim Dung. Nói chính xác hơn nó là một kỳ thư, tuyệt tác truyện kiếm hiệp. Chuyện giang hồ nhưng không phải giang hồ. Đó là chuyện con người qua mọi thời đại dưới cái nhìn thâm trầm của phương Đông huyền bí. Kết cấu tiểu thuyết của tác phẩm nói trên có thể rời rạc nhưng nhân vật của Kim Dung trong tác phẩm thì không thể chê vào đâu được. Độc giả có thể quên tên tuổi của những nhân vật có tầm kích nhỏ trong tác phẩm của Kim Dung nhưng không bao giờ quên được tính cách và số phận nhân vật. Ở điểm này Thiên Long Bát Bộ cũng xếp hàng đầu. Người ta nhớ Kim Dung chính là ở chỗ đó!

NGUYỄN MINH SƠN

LỜI GIẢI ?

Năm 1972 ở miền Nam Việt Nam  chính quyền Sài gòn bắt lính ráo riết. Một hôm cảnh sát dã chiến ập vào khu bọn sinh viên nghèo chúng tôi tá túcï. Họ lục soát thật rát. Bốn phương tám hướng đều bị những chiếc áo rằn ri và những họng súng đen ngòm bịt kín.Thế là tuyệt đường tẩu mã tôi đánh liều nhảy đại vào một thùng  carton loại  có nắp của quân đội Mỹ thải ra thời bấy giờ trong đó đựng quần áo phụ nữ mà tôi đoan chắc là của cô chủ nhỏ đang học cấp ba nhà tôi trọ. Chẳng quản tấm thân nam tử tôi bươi đống quần áo ra và chui vào mắt chợt thấy mấy tờ bạc nghìn ló ra ở một góc thùng. Không kịp suy nghĩ  tôi  ngồi thụp xuống đội tờ giấy bạc trên đầu.Tiếng giày đinh ken két tiến tới gần. Tờ bạc nhanh chóng bốc hơi. Hú vía! Thế là thoát, lại được hưởng một bữa… thơm tho. Tất nhiên mẹ tôi phải bán mấy con gà mái tơ đang đẻ để trả cho cô chủ nhỏ bởi đó là số tiền em nhịn ăn sáng để dành gửi cho mấy chú ở ngoài bưng.

Ba mươi năm sau tôi trở thành một nhà văn đi dự trại sáng tác ở một thành phố ven biển miền Trung. Xe đến một khúc đèo vào nửa đêm thì bị đón lại bởi một bóng đèn nhỏ tí nào đó. Tôi nghe có tiếng thầm thì thưa gửi của lái xe  nhưng bị  át bởi tiếng tiếng quát phẫn nộ của anh cảnh sát giao thông. Anh đòi lập biên bản cánh nhà xe  đã dùng tiền bạc mua chuộc, cám dỗ làm tha hóa đạo đức  nhân viên công lực. Cánh nhà xe, rồi cả hành khách phải  van vỉ mãi mới được các anh cho đóng tiền phạt vì xe chở quá tải.

Hai đoạn văn trên đều do bạn  tôi, một thầy giáo làng dạy học ở miền Nam từ trước 1975 đến nay sáng tác và thưa quý bạn chính bản thân tôi cũng không biết  đoạn nào được tác giả phản ánh hiện thực bằng bút pháp lãng mạn?  Hỏi bạn chỉ cười. Xin thỉnh thị  một lời giải ?

Ngày xử tội Quan Kim

Đao phủ tế đao.Tội nhân buông lời bi tráng:-Chết thì có gì đáng sợ,ngươi có thể vin vào cái luật pháp vô nhân của bọn khuyển nho để tàn hại những khách chung tình , nhưng chỉ sợ thế gian từ đây chỉ còn rặt một bọn ong bướm vật vờ phụ tình,bạc ngãi.Có tiếng quát  :- Chính bọn văn nhân nấp bóng công môn các ngươi mới là một lũ  mượn chuyện văn chương thơ phú ca ngợi tình yêu bất diệt để biện minh cho tội bỏ mặc  sinh linh vô tội của mình.Ta hỏi ngươi hãy nghe cho kỹ : Ngươi chiếm bảng xuân,ngoại nhậm Lâm Truy là đất nhiễu nhương đầy rẫy bọn Mã,Sở,Tú,Bạc  buôn thịt bán người hoành hành bá đạo.Ngươi không lo trấn áp bọn tội đồ lại buông lỏng chính sự,lúc nào cũng lao đao thẫn thờ để hang cùng ngõ hẻm chồng chất oán hờn là nghĩa làm sao?-Ta độc chiếm khôi nguyên để cho đời biết  ta là kẻ không hổ với câu ‘’phú hậu tài danh ,văn chương nết đất’’  chứ cần gì cái thứ quan trường mặt sắt , bòn khố rách sắm dù sơn kiệu đó đâu? Ta đã rắp mong treo ấn từ quan tìm nàng chỉ là chưa có dịp mà thôi .Nếu quan nha  của cái Gia Tĩnh triều Minh bốn phương phẳng lặng hai kinh vững vàng ấy mà trấn áp được bọn đầu trâu mặt ngựa Mã,Bạc,Tú, Sở, Khuyển ,Ưng cậy thế quan trên ào ào như sôi ấy thì làm gì  Từ Hải phải động lòng bốn phương,  trời biển mênh mang,  thanh gươm yên ngựa ruổi rong,vung lưỡi gươm công lý!- Ngươi đừng có ngậm máu phun người, có phải quan viên nào cũng ’’ miệng quan trôn trẻ ’’ cả đâu .Đaọ làm quan ,ăn lộc triều đình  hưởng mồ hôi nước mắt của chúng  dân  không nghĩ đến chuyện báo đáp  mà lúc nào cũng làm bộ ‘’rắp mong treo ấn từ quan ‘’ , mượn cớ nhất phiến chung tình nườm nượp .đàn đúm , hằng vào, ra chốn kỹ viện, thanh lâu   nói là tìm một cánh hồng biền biệt nhưng thật ra là một lũ ngụy quân tử ,giao cho bọn sư gia quạt mo xử án làm nhục công môn ,bẻ cong phép nước hại người lương thiện còn mình hưởng thú phong lưu khoái lạc nơi màn loan trướng gấm với đám quần hồng  . Tội ngươi đáng chém gấp vạn lần không một chút nào oan uổng, còn oán thán nỗi gì?-Ta không tiếc thân mình ,dù chết dưới hoa cũng làm quỷ phong lưu một kiếp ,có điều xử ta tội chết thì cái lũ gian thần hại dân hại nước từ cổ chí kim   còn biết xử thế nào ?- Cái lũ dốt nát nhờ thân thích hoặc lắm bạc nhiều tiền    thành quan tham tuy đáng tội nhưng đó là lũ thất phu vô học giết bọn đó chẳng có tác dụng răn đe đối với bọn dốt nát có học đời sau bao nhiêu. Ngươi đâu còn là một gã tình si ‘’vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa ‘’mà đã là một bậc đường quan đầy mình chữ nghĩa mở miệng là lấy lời thánh nhân răn dạy bọn dân đen con đỏ, làm ra vẻ  rạch ròi cán cân công lý . Thế mà ngươi lại thỏa nghĩa với một người đàn bà  dẫu  nàng là giai nhân tuyệt thế khuynh quốc khuynh thành đi nữa  cũng chỉ là một người mà quay lưng với lầm than trăm họ,sao còn xứng với  áo mũ cân đai, hạng người như ngươi Hán Cao Tổ Lưu Bang đái vào mũ nhà nho là xứng đáng đội mũ mão để làm khổ chúng dân như lũ quan si các ngươi tội nghiệt càng thêm trọng. Danh vọng và tình yêu,vợ đẹp con khôn ngươi  đều muốn vơ cả, sao mà tham lam quá vậy? -…-Nếu ngươi thật sự chung tình  với nàng sao không dứt khoát vất bỏ áo xiêm ràng buộc  mà mới chỉ’’ rắp mong treo ấn từ quan ’’, rắp mong nghĩa là còn do dự chưa dám quyết .Còn do dự trong tình yêu mà dám xưng đệ nhất chung tình ư? , tuy nhiên   nếu ngươi là kẻ ít học không đọc thi thư mà hồn nhiên gây tội thì ta  có thể xử ở khung hình phạt nhẹ nhất là đuổi cổ về quê cày sâu ,cuốc bẩm  để hiểu chuyện nhất nông nhì sĩ  nó thấm thía thế nào  là đủ. Ta gạt lệ tuyên án trảm ngươi một văn quan từng nấu sử sôi kinh độc chiếm bảng vàng là để răn kẻ có học ăn cơm mặc áo dân ngàn đời sau phải nhớ nằm lòng câu ‘’phép công là trọng niềm tây sá nào’’mà luôn vì nước quên thân vì dân tận lực.Đừng trách ta tàn nhẫn : Tình tiết tăng nặng của bọn quan tham khoa bảng các ngươi là không thể tha thứ dù chỉ một lần.’’ Giết một người cứu muôn người’’ mới là tâm ý của bản toà . Tiếng vừa dứt ba hồi trống lệnh nổi lên ,tội nhân dường như hiểu thấu lời của pháp quan nên ngửa cổ chịu chém không nói một lời phản biện nào nữa.Có  trang quốc sắc tuổi quá ba mươi thét to lên :-’’Oi Kim lang hỡi Kim lang thôi thôi thiếp mới phụ chàng từ đây’’rồi ôm đàn tỳ bà gảy đến ‘’bốn dây rỏ máu’’.  Một người phụ nữ  khác mặt tròn vành vạnh  nét ngài nở nang tay dắt con thơ  đứng ngây dại thẫn thờ.Sinh thời nghe ba tôi thuật lại giấc mơ này, cụ cố nhà tôi tuổi thấu trăm ném bút thở dài :- Đại Nguyễn có mắt nhìn sáu cõi,tấm lòng thấu cả ngàn đời chắc vụ thảm án này ngưòi có từng nghĩ đến, chẳng qua người không bộc tỏ để ‘’tam bách dư niên hậu’’ có ‘’thiên hạ hà nhân’’nào ‘’khấp Tố Như’’ không?.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.