Thơ lục bát Nguyễn Bá Hòa trong “Thuyền Hạnh”

 

Nguyễn Chiến

Tôi không làm công việc giới thiệu thơ Nguyễn Bá Hòa. Nếu giới thiệu, tôi sẽ viết bài đăng báo. Ở đó, tôi sẽ nói nhiều đến cái hay của thơ Nguyễn Bá Hòa để bạn đọc tiện thưởng thức, đở mất công đi tìm. Nguyễn Bá Hòa không thích thơ mình bị đem ra mổ xẻ, luận bàn vô lối. Trong thơ mình, anh đã từng “mắng” những kẻ “luận bừa”: Ngồi nhậu đặc sản dế Nhớ ông Tô Hoài xưa Chuyện văn chương lại để Đám Lưu Linh luận bừa Ở đây, trong hội thảo về thơ do Hội Văn học nghệ thuật tổ chức, tôi xin phép bàn đến chỗ được, chỗ chưa được của thơ Nguyễn Bá Hòa. Từ chỗ hay, chúng ta học tập cách thức tiếp cận hiện thực, cách thức sử dụng các yếu tố nghệ thuật… Từ chỗ chưa hay, chúng ta rút kinh nghiệm chung. Tôi chỉ đi vào mảng thơ lục bát trong tập Thuyền Hạnh của anh. Tập Thuyền Hạnh có 79 bài thơ bốn câu, trong đó 59 bài lục bát, tỉ lệ gần 75%. Có thể nói sở trường của Nguyễn Bá Hòa là thơ lục bát; anh chọn thể lục bát để đi vào thế giới thi ca. Người ta hay nói thơ lục bát dễ viết nhưng viết cho hay rất khó. Tôi không nghĩ như vậy. Thơ lục bát là lời ru bên nôi nên chúng ta thấy gần gũi, quen thuộc; thật ra nó là thơ thanh điệu, đã tồn tại qua hàng ngàn năm, có hình thức phát triển đến mức hoàn thiện nên là thách thức lớn đối với những ai muốn đi tìm cái đẹp với thể thơ nầy. Lục bát bốn câu lại càng khó hơn; vì cần có tứ thơ để ý tình có chỗ trú ngụ, phải nén lại để nổ vỡ, phải chặt chẽ trong bố cục như bài tứ tuyệt luật Đường… Nguyễn Bá Hòa tự dẫn mình vào con đường gập ghềnh, dễ bị “sập bẫy thơ”, dễ rơi vào “cạm bẫy chữ”. Không ít người phải chia tay với thơ lục bát, đến với thơ tự do, để không bị vần nhịp o ép bó buộc! Trên con đường ấy, Nguyễn Bá Hòa đã có những bước nhịp nhàng, hoa mĩ và thi thoảng có cả những bước lao đao. Nguyễn Bá Hòa lập tứ như thế nào? Ở những bài thơ không có tứ, thường đơn nghĩa: Thơ em Bài thơ em gởi bốn câu Ý lời thô vụng chẳng sâu nặng tình Ngoa ngôn vô sắc vô hình Nhưng là tứ tuyệt của mình tặng ta Trăng xế Bấy lâu sao chẳng nói năng Bây giờ năng nói thì trăng xế tà Thôi đành mở trái tim ra Dẫu trăng đã xế vẫn là trăng thôi Hai bài thơ có lối viết đơn giản, thơ thiếu hàm ngôn, phô ra giọng kể lể, giải thích; chữ “nhưng”, chữ “dẫu” như gã xấu trai bị ép phải đứng ngay ở đầu hàng nên lúng túng, ngượng nghịu lắm. Song cũng có bài đơn giản mà hồn hậu, rất có duyên: Trưa quê Mướp vàng hong nắng ngoài sân Cây rơm tròn lửng phơi trần dưới trưa Cây cần vọt, cái gàu đưa Đi đâu vẫn nhớ buổi trưa quê nhà Ở những bài có tứ nổi, tuy năng lượng chưa nén chặt để bùng nổ nhưng người thơ vẫn gởi gắm được nỗi niềm: Được – mất Thơ anh u ám lâu ngày Đem ra giặt sạch phơi đầy trước sân Tình cờ cơn gió ghé thăm Thổi phần chua xót để phần yêu thương Nhờ cái tứ, người đọc không chỉ nghĩ đến chuyện được – mất trong chuyện làm thơ mà còn nghĩ đến chuyện được – mất của đời người; mà theo anh, chỉ có sự tình cờ ngẫu nhĩ và quyền năng của siêu nhiên mới cuốn đi cái phần chua xót, đem đến phần yêu thương cho con người. Một ý thơ sầu nhưng sáng lên mơ ước được trải lòng, mơ ước chỉ có tình yêu thương, đừng có cay đắng trong cõi người. Valentine Lẽ nào chỉ một ngày yêu Tính ra là cả xuân đều nhớ mong Cớ sao chỉ một nỗi lòng Hãy yêu tất cả người trong cõi đời Một tứ thơ lạ. Ngày tình nhân chỉ là một, còn ngày yêu của tình nhân thì 365, cả kiếp trước và kiếp sau nữa. Đã vậy thì hãy mở lòng ra yêu cả – và thiên hạ. Tình yêu vốn ích kỉ, không ai chấp nhận san sẻ nhưng trong bài thơ lại mở ra phía tha nhân và nhuốm màu bác ái. Nguyễn Bá Hòa làm nhiều thơ tình, với những tứ thơ đẹp (Ngả ba sông, Tượng đá, Người mơ, Thiếu nữ, Đành thôi, Xao lòng, Nguyệt thực, Sao băng,…) Lời yêu trong thơ Nguyễn Bá Hòa hòa trong tiếng kinh cầu, thơm như tình ái của ni cô (Hàn Mặc Tử), chứ không có sức nóng của sự va chạm giới tính: Sao băng Vỡ ra từ khối lửa tình Băng băng trong cõi nhân sinh ghẹo người Trong đêm nhặt mảnh sao trời Kết thành tràng ngọc tụng lời kinh yêu Lỡ đánh rơi ánh mắt bên đường thôi, mà đã đứng trước gương soi lại mình, đã cảm thấy mất một chút chung tình với em rồi: Xao lòng Đánh rơi ánh mắt bên đường Về nhà ái ngại soi gương tìm mình Trong gương nguyên vẹn dáng hình Mắt chăng? Một chút chung tình với em Hãy đọc bài Thiếu nữ: Cây thiếu nữ trổ hoa xuân Nụ duyên hàm tiếu thơm ngần hương trinh Gió hây hẫy, nắng rập rình Chim lơi cánh vỗ, riêng mình lặng im. Thơm ngần hương trinh, gió hây hẫy, nắng rập rình, chim lơi cánh vỗ… Rõ ràng, người thơ không phải là không có ánh nhìn giới tính trước nhan sắc mĩ nhân. Nhưng sao lại lặng im, từ tâm đến vô tâm làm vậy? Như thế là có lỗi trước cái đẹp rồi. Đồng Đức Bốn dám viết: Em bỏ chồng về ở với tôi không? So sánh với người đàn ông trong thơ Đồng Đức Bốn, người đàn ông trong thơ Nguyễn Bá Hòa mẫu mực quá, đạo hạnh quá chăng? Chữ tình trong thơ anh thường gắn với chữ duyên. Chữ duyên xuất hiện với một tần số khá cao và phong phú về hình thức kết hợp: tình duyên, tơ duyên, nụ duyên, nhành duyên, tấm duyên; tìm duyên, bắt duyên, duyên nảy mầm; duyên lành… Hình như người đàn ông trong thơ anh không thích những biểu hiện cụ thể của tình yêu mà chỉ “yêu chay” và chiêm bái cái duyên gặp gỡ trong đời. Những bài thơ có tứ chìm thường sắc sảo, đa nghĩa. Tứ thơ lẫn vào hình ảnh, vào lớp áo ngôn từ nên ý thơ kín đáo, nhiều dư vị khó quên: Cầu vồng Ghé chân vào cõi mênh mông Đưa tay ướm thử cầu vồng mấy gang Buồn chi! Chức Nữ – Ngưu Lang Chiều nay nắng gọi mưa sang bắc cầu Chức Nữ – Ngưu Lang là biểu tượng của tình yêu trắc trở. Từ chuyện Chức Nữ – Ngưu Lang, người thơ thương những trái tim yêu trong khổ đau rồi muốn làm cái gì đó để đưa những người yêu nhau đến với nhau, chí ít cũng là lời an ủi hay gợi cho họ một niềm tin sum họp, dù vô thường như nắng gặp mưa. Đó là tấm lòng thơ đối với nỗi đau nhân thế. Bài Giếng cổ cũng có cái tứ chìm lấp song gợi bao điều sâu xa: Cái giếng cổ bằng đá ong Cả làng uống, nước xanh trong bốn mùa Lẫn trong nước tiếng chuông chùa Tiếng thiêng liêng tự ngàn xưa vọng về Cái giếng cổ bằng đá ong là do con người làm ra từ xưa, đã thành tài sản chung của làng. Đó là mạch nguồn xanh trong bốn mùa không vơi cạn và hòa trong đó là tiếng chuông chùa từ ngàn xưa vọng về. Giếng cổ trở thành giá trị văn hóa đẹp đẽ, thiêng liêng và không thể thiếu trong cuộc sống mọi người…Bài thơ hay, chỉ tiếc chữ “lẫn” dùng chưa đắt. Ca dao giàu hình ảnh so sánh, ẩn dụ; lục bát trong tập Thuyền hạnh của Nguyễn Bá Hòa rất hiếm hình ảnh so sánh (chỉ có 3 hình ảnh so sánh) nhưng có cả hệ thống hình ảnh ẩn dụ. Đây là nét đặc sắc của lục bát Nguyễn bá Hòa, làm cho thơ anh có dư ba. Xin thống kê ra đây: hương gió, mùi ve, hương trinh, đêm trầm hương, tình xưa xanh, tình ươm vàng, màu em, mùa ái ân, nhành tương tư, trái hân hoan, trái yêu, trái xuân, hạt phôi pha, mầm quên, nụ xuân, cây vạn hạnh, cây thiếu nữ, nụ duyên, dây tình duyên, tấm duyên, chồi yêu, lộc tình, áo chiều, chén tình, lửa tình, khói lòng, bến xao lòng, triền nhớ nhung, đỉnh phong trần, đôi mắt dao cau, hàng cây ngữa mặt. Mùi ve, hương gió, tình ươm vàng, tình xưa xanh, đêm trầm hương… là những hình ảnh ẩn dụ được xây dựng theo cách thức chuyển đổi cảm giác của thơ tượng trưng. Những hình ảnh ẩn dụ – tượng trưng nầy làm cho câu thơ đẹp và giàu ý nghĩa. Qua đó, tác giả đã chứng tỏ mình là một nhà thơ có trực cảm mạnh và tinh tế. Đặc biệt hơn là cách sử dụng hình ảnh ẩn dụ có màu sắc siêu thực. Tác giả sắp xếp những hình ảnh đứng cạnh nhau một cách ngẫu nhiên, như không hề có liên quan gì. Hình ảnh thơ khác lạ, phi lí ẩn chứa nhiều nét nghĩa mới, có nét nghĩa ngã về phía vô thức, tiềm thức. Sự kết hợp các hình ảnh, từ ngữ vốn xa lạ, không hợp lô-gíc như: khói lòng, trái hân hoan, trái xuân, áo chiều, ngữa mùa, hàng cây ngữa mặt, triền nhớ nhung, hạt phôi pha… là những ẩn dụ đa tầng có màu sắc siêu thực, tạo nên hiệu ứng ngữ nghĩa, gây bất ngờ cho người đọc. Câu thơ như bông hoa lạ, làm ta phải ngắm nhìn lâu: – Hàng cây ngữa mặt nguyện cầu Chồi yêu tức ngọn nảy đau lộc tình (Nguyện cầu) – Nghiêng chiều rót nhớ vào đêm Ngữa mùa hứng giọt sương mềm vẹn nguyên (Thiên nhiên) – Gió mùa thả ngọn vô hương Gót hoàng hôn dẫm nát vườn chiêm bao (Vịn chiều) – Tiếng ru chạm nắng vườn trưa bỗng mềm (Hạ) Đó là những câu thơ tài hoa của Nguyễn Bá Hòa. Hay, khó cắt nghĩa nhưng… không mới. Ta đã thấy nhiều trong thơ Nguyễn Xuân Sanh, trong lục bát Bùi Giáng, trong ca từ của Trịnh Công Sơn,…rồi. Có thể nói lục bát của Nguyễn Bá Hòa là lục bát “rin”. Gieo vần, ngắt nhịp, hài thành không có biến cố. Nhịp lục bát là nhịp ru, được xây dựng trên cơ sở nhịp 2, đều cho tất cả các câu 6 và câu 8. Phá cách phải có ý đồ nghệ thuật rõ ràng. Lục bát trong Thuyền hạnh chỉ ba bốn bận ngắt nhịp lẻ, song dường như không có sắc thái biểu cảm gì: – - Đi một bước/cũng xuất hành Một câu thơ/cũng duyên lành/đầu năm. (Xuất hành) – Gót hoàng hôn/dẫm nát vườn/chiêm bao. (Vịn chiều) – Cái giếng cổ/bằng đá ong Cả làng uống/nước xanh trong/bốn mùa Lẫn trong nước/tiếng chuông chùa Tiếng thiêng liêng/tự ngàn xưa/vọng về (Giếng cổ) Ba lần tác giả tỏ ra mạnh dạn sử dụng các dấu câu ! ? . ở giữa dòng thơ làm cho câu lục bát có chút mới mẻ: – Buồn chi! Chức Nữ – Ngưu Lang – Mất chăng? Một chút chung tình với em – Ta trôi vướng giữa đời nhau. Gọi là Thơ lục bát của Nguyễn Bá Hòa khơi mở cho chúng ta nhiều vấn đề. Lục bát hôm nay phải viết như thế nào? Có nên đổi mới thơ lục bát không? Và đổi mới theo hướng nào? Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp trong bài “Giới thiệu thơ Đồng Đức Bốn” không tin ở sự cách tân thơ lục bát và đã nặng lời: “Tôi đã thấy sự suy đồi, sa đọa của thơ lục bát ở ta kể từ khi Nguyễn Bính và Bùi Giáng mất đi”**. Ông còn viết: “Những cố gắng cách tân lục bát, xét cho cùng giống như người già làm răng giả, người què đóng nẹp chân”**. Đó là ý kiến cực đoan. Không thể nói vì thơ lục bát là đặc sản, là quốc hồn quốc túy của dân tộc nên phải giữ nguyên gốc. (Lục bát đâu chỉ là của riêng của người Việt. Nhà thơ Inrasara đã trình ra lục bát Chăm, lục bát Thái Lan trong bài viết “Lục bát và các dòng thơ lục bát”) Cách tân là yêu cầu sống còn trong sáng tác văn chương mọi thời. Người làm thơ lục bát cũng phải gánh lấy trách nhiệm cách tân, làm cho thể thơ nầy có sức chứa lớn hơn và mang được cái hồn của người Việt trong thời đại mới. Lục bát truyền thống vốn ngọt ngào liệu có chuyển tải được hiện thực đa diện, với nhiều mâu thuẫn phức tạp đan xen của hôm nay hay không? Nhiều nhà thơ hiện đại đã có những cố gắng làm mới thơ lục bát. Huy Cận cắt bỏ yếu tố tự sự, dùng nhiều tính từ làm cho lục bát của ông có nét khác với lục bát truyền thống. Du Tử Lê chủ trương ngắt nhịp lại thơ lục bát (không lấy nhịp đôi làm cơ sở) dùng dấu vạch nhịp, dùng dấu chấm (.) trong dòng thơ, câu cuối của bài thơ có thể là câu lục và đặc biệt bỏ âm trắc bắt buộc ở tiếng thứ tư ở mỗi dòng thơ. Du Tử Lê là nhà thơ cách tân lục bát mạnh mẽ nhất. Lục bát Du Tử Lê mới, lạ và có hương vị riêng. Hãy đọc ít câu: …Nằm nghe – chăn gối rơi. Cùng tháng năm bằn bặt.- Phật còn ở không Tôi nhìn – tôi rất chon von …Sao tua chưa từng nằm kề /. em thơm tho giữa thơ, lìa biệt, tôi /. tay cầm tay, lên: chia hai : mũi đinh đóng xuống đời. Thôi nhé. Đừng xa người. Sao tôi không dưng ? địu em trước ngực, lưng buồn râm, ran. Đồng Đức Bốn, Phạm Xuân Nguyên, Mai Bá Ấn rất thành công với thể loại thơ lục bát, được dư luận chú ý***. Lục bát Đồng Đức Bốn, Phạm Xuân Nguyên đậm chất thế sự được viết theo lối dân gian – hiện đại. Mai Bá Ấn cắt dòng bậc thang… Có người nói: làm thơ chỉ cần cảm xúc, không cần lí luận. Không đúng, người sáng tác hôm nay cần có lí luận để “chỉ đạo” công việc sáng tạo của mình, không thể sáng tác mù. Nhưng cũng không để lí luận o ép, uy hiếp hồn thơ. Trường hợp Du Tử lê, Đồng Đức Bốn, Phạm Xuân Nguyên, Mai Bá Ấn hay Nguyễn Bá Hòa là những gợi ý để mỗi người làm lục bát tự định hướng. Lục bát Nguyễn Bá Hòa là lục bát “rin”, gần với lục bát truyền thống, chưa phải là “lục bát đời mới”, không thấy dấu ấn của sự cách tân. Anh thành công trong sử dụng các yếu tố nghệ thuật như lãng mạn, tượng trưng, siêu thực để câu thơ có màu sắc, hồn vía. Lục bát của anh là lục bát tình, lục bát duyên, lục bát thiền, ít có lục bát thế sự. Ai đem phân chất một mùi hương (Xuân Diệu). Ai đó nói rằng phê bình thơ là việc tàn nhẫn, người phê bình thơ là “kẻ ác”. Nhưng phê bình văn học không thể thiếu trong đời sống sáng tác của bất cứ một nền văn học nào. Sinh thời, nhà văn Nguyễn Tuân dặn dò: khi tôi chết hãy chôn theo một “thằng” phê bình. Thi sĩ Nguyễn Bá Hòa đã viết mấy câu: Đã bao lần uốn lưỡi Vẫn nói lời chua ngoa Nhà thơ đã thấu ngộ cái lẽ ấy thì người viết bài nầy “được lời như mở tấm lòng.. Tháng 11 năm 2011 ……………………………………… *

Thuyền Hạnh, NXB Văn nghệ, thph Hồ Chí Minh, 2010. ** Nguyễn Huy Thiệp, Giăng lưới bắt chim, NXB Hội nhà văn, 2006, trang 138, 139. *** Phần thơ lục bát trong các tập: Chăn trâu đốt lửa, Trở về với mẹ ta thôi (Đồng Đức Bốn), Cỏ cháy, Ở trọ hồn làng, Bến chuồn chuồn (Phạm Xuân Nguyên), các tập: Lục bát làm liều, Thị trường lục bát (Mai Ba An)

2 phản hồi tới “Thơ lục bát Nguyễn Bá Hòa trong “Thuyền Hạnh””

  1. Miên Trà nói:

    Đọc Nguyên Chiến viết về thơ lục bát ; Rất hay và sâu . Tuy dù là tản văn (lời bàn) hơi dài, nhưng dễ đọc bởi – Chữ tôi liền với chữ ta một vần .

  2. Nguyen ngoc Hanh nói:

    Nguyen Han Chung oi
    Anh cho toi dia chi de toi gui tap tho moi vua in xong & Album 16 ca khuc pho tho Nguyen ngoc Hanh. Som, Chung nhe !


Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.